Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chống lãng phí thời gian theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong nâng cao hiệu quả thực thi công vụ hiện nay

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tiết kiệm thời gian là yêu cầu quan trọng của đạo đức cách mạng, trách nhiệm công vụ và phương pháp làm việc khoa học. Trong điều kiện hiện nay, nhận diện và khắc phục lãng phí thời gian trong thực thi công vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với việc giảm thiểu sự trì trệ, khắc phục né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, tiết kiệm thời gian của người dân, doanh nghiệp và hạn chế lãng phí cơ hội phát triển; qua đó góp phần xây dựng nền công vụ hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với các đại biểu trí thức dự Hội nghị chính trị đặc biệt, tháng 3-1964_Ảnh: TTXVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm và chống lãng phí thời gian

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính và thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, thời gian được xem là một nguồn lực đặc biệt cần được sử dụng hợp lý, đúng mục đích và có hiệu quả. Người chỉ rõ: “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải. Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”(1). Từ quan niệm đó có thể hiểu lãng phí thời gian là để thời gian bị hao phí do sử dụng không hợp lý, làm việc thiếu hiệu quả, chậm trễ, trì hoãn hoặc tổ chức công việc không khoa học, làm cho kết quả đạt được không tương xứng với thời gian và công sức đã bỏ ra. Lãng phí thời gian vì vậy không chỉ làm mất một nguồn lực tự thân mà còn kéo theo lãng phí sức lao động, tiền của và có thể làm mất những cơ hội không thể lấy lại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn tiết kiệm thời gian với năng suất, chất lượng và phương pháp làm việc khoa học. Người yêu cầu tổ chức lao động sao cho “1 giờ làm xong việc của 2, 3 giờ”(2), tức là thông qua cải tiến phương pháp, chuẩn bị tốt và bố trí công việc hợp lý để cùng một khoảng thời gian tạo ra kết quả cao hơn. Đối với cán bộ, Người căn dặn: “Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai”(3). Hai yêu cầu “chóng” và “chu đáo” cho thấy tiết kiệm thời gian không đồng nghĩa với làm việc vội vàng, mà phải bảo đảm đồng thời tiến độ và chất lượng.

Một nội dung quan trọng khác là tiết kiệm thời gian của mình phải gắn với tôn trọng thời gian của người khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác”(4). Quan điểm này mở rộng phạm vi chống lãng phí thời gian từ ý thức cá nhân sang trách nhiệm đối với tập thể và xã hội. Đối với hoạt động công vụ, ý nghĩa này càng rõ, bởi một công việc bị xử lý chậm, một thủ tục phải thực hiện nhiều lần hoặc một yêu cầu không cần thiết đều có thể làm phát sinh thêm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời phê phán lãng phí thời gian trong tổ chức và điều hành công việc. Người yêu cầu các cơ quan, đoàn thể phải tránh tình trạng “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”(5). Người cũng phê bình những cuộc họp đáng lẽ có thể giải quyết trong thời gian ngắn nhưng lại kéo dài do chuẩn bị không đầy đủ, người tham dự không nghiên cứu trước vấn đề(6). Những chỉ dẫn này cho thấy lãng phí thời gian không chỉ bắt nguồn từ ý thức cá nhân mà còn có thể phát sinh từ quy trình tổ chức không hợp lý, chuẩn bị thiếu chu đáo, thiếu quyết đoán và tổ chức thực hiện không nghiêm.

Ở tầng sâu hơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lãng phí trong mối quan hệ chặt chẽ với bệnh quan liêu và thiếu trách nhiệm; Người coi chống bệnh quan liêu là một yêu cầu quan trọng để ngăn ngừa tham ô, lãng phí(7). Quan liêu làm cán bộ xa thực tế, nắm công việc không chắc, xử lý vấn đề qua giấy tờ và thủ tục; thiếu trách nhiệm dẫn đến chậm trễ, đùn đẩy; phương pháp làm việc thiếu khoa học làm công việc phải thực hiện nhiều lần, mất thêm thời gian nhưng kết quả không tương xứng. Vì vậy, chống lãng phí thời gian phải đồng thời gắn với chống quan liêu, nâng cao trách nhiệm và đổi mới phương pháp công tác.

Có thể khái quát, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm và chống lãng phí thời gian tập trung ở những nội dung cơ bản: Coi thời gian là nguồn lực đặc biệt; sử dụng thời gian phải gắn với năng suất và chất lượng công việc; không làm lãng phí thời gian của người khác; chống trì trệ, hội họp hình thức, tổ chức công việc thiếu khoa học; khắc phục quan liêu, thiếu trách nhiệm và đề cao tính nêu gương. Đây là cơ sở trực tiếp để nhận diện các biểu hiện lãng phí thời gian trong thực thi công vụ hiện nay.

Lãng phí thời gian trong thực thi công vụ hiện nay

Trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ một dạng thức lãng phí nổi lên là “lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, cá nhân khi thủ tục hành chính rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện và thông suốt”; đồng thời lưu ý lãng phí cơ hội phát triển do bộ máy có nơi, có lúc hoạt động chưa hiệu quả, một bộ phận cán bộ thiếu năng lực, né tránh, đùn đẩy công việc, sợ trách nhiệm(8). Năm 2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục nhấn mạnh tiết kiệm và chống lãng phí là hai thành tố gắn bó hữu cơ, cần trở thành nếp sống, văn hóa hằng ngày(9). Những định hướng đó cho thấy lãng phí thời gian phải được nhìn nhận như một vấn đề trực tiếp của hiệu quả vận hành bộ máy, không chỉ là hạn chế về tác phong.

Một là, lãng phí thời gian do quy trình nhiều tầng nấc, nhiều khâu trung gian và trách nhiệm chưa rõ.

Một quy trình có thể đúng về hình thức nhưng vẫn gây lãng phí nếu công việc phải qua quá nhiều bước chuyển, nhiều lần xin ý kiến hoặc nhiều vòng xác nhận mà không làm tăng chất lượng của kết quả. Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28-2-2023, của Bộ Chính trị, "Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW yêu cầu tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp và tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm(10). Xét dưới góc độ chống lãng phí thời gian, tinh gọn bộ máy phải đồng thời làm ngắn đường đi của công việc, giảm thời gian luân chuyển và chờ xử lý. Nếu đầu mối tổ chức giảm nhưng quy trình vẫn nhiều tầng, nhiều lần xin ý kiến và thời gian giải quyết không giảm thì hiệu năng của bộ máy chưa được nâng lên thực chất.

Hai là, lãng phí thời gian do né tránh, đùn đẩy trách nhiệm và chậm ra quyết định.

Có những công việc bị kéo dài không phải vì quy định pháp luật bắt buộc, mà do tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, ngại quyết định hoặc chuyển trách nhiệm sang chủ thể khác. Khi đó, hồ sơ vẫn được luân chuyển, văn bản vẫn được trao đổi, cuộc họp vẫn được tổ chức nhưng vấn đề cốt lõi chưa được xử lý. Đây là dạng lãng phí khó nhận diện nếu chỉ nhìn vào mức độ bận rộn của cơ quan, bởi hoạt động nhiều không đồng nghĩa với kết quả cao. Một quyết định đúng nhưng ban hành quá muộn cũng có thể không còn tạo ra hiệu quả mong muốn; vì vậy, trách nhiệm công vụ phải bao gồm cả trách nhiệm về thời hạn.

Ba là, lãng phí thời gian do hội họp, báo cáo và phối hợp công tác thiếu hiệu quả.

Hội họp, báo cáo và phối hợp là những hoạt động cần thiết, nhưng có thể trở thành nguồn phát sinh lãng phí nếu không xác định rõ mục tiêu và kết quả đầu ra. Cuộc họp không có tài liệu chuẩn bị trước, nội dung trùng lặp, thành phần quá rộng, không đi đến quyết định hoặc sau họp không xác định rõ trách nhiệm và thời hạn thực hiện sẽ tiêu tốn thời gian của nhiều người nhưng giá trị tạo ra thấp. Tình trạng báo cáo nhiều lần cùng một nội dung, số liệu chưa được chia sẻ giữa các hệ thống cũng tạo ra chi phí thời gian đáng kể. Đây chính là biểu hiện gần với phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”.

Bốn là, lãng phí thời gian của người dân và doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính.

Nếu lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của nền hành chính phục vụ, thời gian họ phải bỏ ra để hoàn thành một thủ tục phải được xem là một chỉ báo quan trọng của chất lượng phục vụ. Một thủ tục có thể được cơ quan nhà nước ghi nhận là xử lý đúng hạn, nhưng nếu người dân phải đi lại nhiều lần, khai lại thông tin, chờ xác nhận của nhiều cơ quan hoặc tự thực hiện việc phối hợp giữa các đơn vị công quyền thì tổng chi phí thời gian xã hội vẫn lớn. Vì vậy, đánh giá cải cách hành chính cần chuyển mạnh từ số lượng thủ tục được cắt giảm sang thời gian thực tế và số lần tương tác mà cá nhân, tổ chức phải thực hiện để nhận được kết quả.

Năm là, lãng phí thời gian làm phát sinh lãng phí cơ hội phát triển.

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng cao, cơ hội đầu tư, thị trường, công nghệ và đổi mới thường gắn với một “cửa sổ thời gian” nhất định. Một dự án kéo dài vì thủ tục, một chính sách chậm được ban hành hay một sáng kiến không được xử lý đúng lúc có thể làm mất lợi thế mà sau đó khó phục hồi. Vì vậy, “đúng lúc” phải trở thành một thành tố của hiệu quả công vụ.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, ngày 11-12-2025_Ảnh: noichinh.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống lãng phí thời gian nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công vụ hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống lãng phí thời gian trong điều kiện hiện nay cần tránh hai cách tiếp cận phiến diện: chỉ dừng ở giáo dục ý thức đúng giờ của cá nhân hoặc chỉ coi đây là vấn đề kỹ thuật cải cách quy trình. Tư tưởng của Người cho thấy chống lãng phí thời gian phải kết hợp đạo đức công vụ, trách nhiệm cá nhân, tổ chức công việc khoa học và cơ chế quản trị có khả năng kiểm soát tiến độ.

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về giá trị của thời gian trong thực thi công vụ.

Cần thống nhất nhận thức rằng thời gian công vụ là nguồn lực công, còn thời gian của người dân, doanh nghiệp là nguồn lực xã hội. Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, "Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới" đặt ra yêu cầu tận tâm, tận lực, trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, nói đi đôi với làm và nêu gương(11). Những chuẩn mực đó cần được cụ thể hóa thành kỷ luật về thời hạn, tinh thần chủ động, ý thức không làm phát sinh chi phí thời gian không cần thiết cho nhân dân và tổ chức.

Hai là, chuyển từ quản lý thời gian cá nhân sang quản trị thời gian của toàn bộ quy trình công vụ.

Mỗi quy trình cần được xem xét như một chuỗi gồm thời gian xử lý thực tế và thời gian chờ. Cần rà soát những bước không tạo ra giá trị, các điểm phải nhập lại dữ liệu, khâu xin ý kiến lặp lại và công đoạn không xác định rõ người chịu trách nhiệm. Mục tiêu là giảm tối đa “thời gian chết” nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu pháp lý, chất lượng chuyên môn và kiểm soát quyền lực. Đối với nhiệm vụ liên ngành, cần có một đầu mối chịu trách nhiệm về tổng thời gian giải quyết, tránh tình trạng mỗi cơ quan chỉ chịu trách nhiệm phần việc của mình nhưng không ai chịu trách nhiệm về toàn bộ tiến độ.

Ba là, đề cao trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm của người đứng đầu, lấy tiến độ và kết quả làm thước đo quan trọng.

Người đứng đầu có vai trò quyết định trong việc hình thành kỷ luật thời gian của tổ chức. Cần hạn chế đưa ra tập thể những vấn đề thuộc thẩm quyền cá nhân chỉ để chia sẻ trách nhiệm; mỗi cuộc họp phải kết thúc bằng kết luận rõ, phân công rõ, thời hạn rõ và sản phẩm đầu ra rõ. Trong đánh giá cán bộ, bên cạnh chất lượng chuyên môn cần sử dụng thực chất các chỉ báo về tỷ lệ nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn, số việc tồn đọng, thời gian xử lý trung bình, số hồ sơ bị trả lại do lỗi chủ quan và mức độ hài lòng của đối tượng phục vụ.

Bốn là, tiếp tục tinh gọn quy trình, đổi mới chế độ hội họp, báo cáo và phối hợp công tác.

Trong bài viết “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng tổ chức bộ máy thực sự hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng nhiệm vụ của giai đoạn mới(12). Tinh gọn phải được thể hiện bằng chất lượng vận hành: đường đi của thông tin ngắn hơn, trách nhiệm rõ hơn, quyết định nhanh hơn và ít khâu trung gian hơn. Đối với hội họp, cần thực hiện đúng tinh thần: chuẩn bị kỹ, xác định rõ vấn đề cần nghị, cuộc họp phải đi đến quyết định và tổ chức thực hiện; nội dung có thể xử lý trên hệ thống điện tử thì không nhất thiết tổ chức họp; thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu dùng chung thì không yêu cầu báo cáo lại bằng phương thức thủ công.

Năm là, sử dụng chuyển đổi số và dữ liệu như công cụ trực tiếp để giảm lãng phí thời gian.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị xác định, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, tạo động lực đổi mới phương thức quản trị quốc gia(13). Đối với chống lãng phí thời gian, chuyển đổi số phải tạo ra những thay đổi đo được: Người dân không phải khai lại thông tin Nhà nước đã có; cán bộ không phải nhập nhiều lần cùng một dữ liệu; hồ sơ được xử lý liên thông; tiến độ được theo dõi theo thời gian thực và nhiệm vụ quá hạn được cảnh báo. Điều cần tránh là “số hóa quy trình cũ”, tức chuyển biểu mẫu giấy thành điện tử nhưng giữ nguyên số bước, số lần xác nhận và các điểm chờ.

Sáu là, xây dựng văn hóa công vụ coi trọng thời gian của Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp, đồng thời gắn chống lãng phí thời gian với chống lãng phí cơ hội phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải trở thành nếp sống, thành văn hóa hằng ngày(14). Đối với nền công vụ, văn hóa đó phải thể hiện thành những chuẩn mực cụ thể: đúng giờ, đúng hẹn, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm; nói đi đôi với làm; công việc có thời hạn phải hoàn thành trong thời hạn; việc của người dân phải được giải quyết với tinh thần phục vụ. Đồng thời, đối với những nhiệm vụ có tính thời cơ, cần xác định rõ mốc quyết định, trách nhiệm cá nhân và hệ quả của việc chậm trễ. Đây là bước chuyển từ chống lãng phí thời gian như một yêu cầu đạo đức sang một nội dung của quản trị phát triển.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm và chống lãng phí thời gian có nội hàm sâu sắc và giá trị thực tiễn rõ rệt. Người coi thời gian là nguồn lực đặc biệt, đã mất thì không thể lấy lại; gắn tiết kiệm thời gian với năng suất, chất lượng, tác phong làm việc khoa học; yêu cầu không chỉ tiết kiệm thời gian của mình mà còn phải tôn trọng thời gian của người khác; đồng thời phê phán quan liêu, hội họp hình thức, thiếu trách nhiệm và phương pháp tổ chức công việc kém hiệu quả. Vì vậy, chống lãng phí thời gian không chỉ là yêu cầu về tác phong mà là sự thống nhất giữa đạo đức công vụ và hiệu quả quản trị.

Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chuyển từ tiết kiệm thời gian của từng cán bộ sang quản trị thời gian của toàn bộ quy trình công vụ; từ yêu cầu đúng giờ sang đúng hạn, đúng chất lượng, đúng kết quả; từ khắc phục chậm trễ cá nhân sang loại bỏ những cơ chế tạo ra thời gian chờ; từ tiết kiệm thời gian của cơ quan sang bảo vệ thời gian của nhân dân, doanh nghiệp; từ chống trì trệ hành chính sang phòng ngừa lãng phí cơ hội phát triển. Thực hiện đồng bộ những yêu cầu này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ và xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả./.

------------------------

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 123, 124
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 342
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 123
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 139
(6) Xem: Lê Văn Cường, Trần Thị Hiền: “Chống lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh và giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 352 (5-2025), tr. 16
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 356 - 357
(8) GS, TS Tô Lâm: “Chống lãng phí”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 13-10-2024. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chong-lang-phi
(9) GS, TS Tô Lâm: “Thực hành tiết kiệm”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 1-6-2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/thuc-hanh-tiet-kiem
(10) Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28-2-2023, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
(11) Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, "Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới"
(12) GS, TS Tô Lâm: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 5-11-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua
(13) Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, "Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia"
(14) GS, TS Tô Lâm: “Thực hành tiết kiệm”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 1-6-2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/thuc-hanh-tiet-kiem


Theo tapchicongsan.vn
Bình luận

Các tin khác