Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng bệnh, nâng cao sức khỏe ở nước ta trong thời kỳ mới

Xuất phát từ quan điểm “phòng bệnh đi trước chữa bệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm khẳng định vai trò chiến lược của dự phòng và nâng cao sức khỏe đối với sự nghiệp xây dựng con người mới và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng đó, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhất quán coi y tế dự phòng là then chốt, gắn với cải thiện điều kiện sống, dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, đồng thời đẩy mạnh truyền thông, giáo dục sức khỏe và phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm hỏi, tặng quà cho bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị, ngày 27-2-2026_Ảnh: TTXVN
 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng bệnh và nâng cao sức khỏe

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vị trí, vai trò của phòng bệnh và nâng cao sức khỏe, với phương châm “phòng bệnh đi trước chữa bệnh”. Một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân chính là coi trọng công tác phòng bệnh, gắn với nâng cao sức khỏe. So với “trị bệnh”, Người khẳng định “phòng bệnh” không chỉ có ý nghĩa ngang bằng, mà thậm chí còn quan trọng hơn. Người chỉ rõ: “Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh”(1); “Phòng bệnh hơn trị bệnh”(2). Khẳng định cụ thể hơn sự cần thiết phải bảo vệ sức khỏe từ “sớm”, từ “xa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Khi chưa ốm, ta phải uống thuốc phòng bệnh thì hơn là đợi ốm rồi mới uống thuốc”(3). Từ quan điểm đó, Người cho rằng, bệnh viện và đội ngũ thầy thuốc không chỉ thực hiện nhiệm vụ “trị bệnh”, mà còn phải tích cực tham gia công tác phòng bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “...Người y tá chẳng những giúp chữa bệnh mà còn phải phổ biến vệ sinh. Việc giữ gìn và bồi dưỡng sức khỏe của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi”(4).

Thứ hai, để phòng bệnh và nâng cao sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện sống và chế độ dinh dưỡng của nhân dân. Theo Người, để có sức khỏe tốt, trước hết phải bảo đảm dinh dưỡng, ăn uống đầy đủ, bởi đói kém, thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất. Từ nhận thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, muốn phòng ngừa bệnh tật, nâng cao sức khỏe, cần giải quyết căn bản vấn đề ăn, ở, mặc của nhân dân. Người chỉ rõ: “Nếu công nhân đủ ăn, đủ mặc, thì họ mới đủ sức, đủ sức thì làm được việc. Một con ngựa ăn no mới chạy nhanh. Một cái máy đủ dầu mỡ mới quay đều. Người ta cũng thế”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng cũng khẳng định: “Cần nghiên cứu để đi tới đề ra được những biện pháp thiết thực cải thiện điều kiện ăn, ở, sinh đẻ của nhân dân ta”. Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn nâng cao sức khỏe nhân dân, phải đồng thời chú trọng cải thiện điều kiện sống về mặt vật chất, bảo đảm nhu cầu tối thiểu và thiết yếu cho con người.

Thứ ba, để phòng bệnh và nâng cao sức khỏe, cần đặc biệt coi trọng việc phổ cập và hình thành lối sống có lợi cho sức khỏe. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân là chủ thể quyết định trong việc giữ gìn sức khỏe, do đó phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, giúp mỗi người có ý thức phòng bệnh, biết “giữ gìn vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch thì mới khỏe”, đồng thời thấm nhuần phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Người nhấn mạnh rèn luyện thể lực, coi sức khỏe là điều kiện để lao động, học tập và xây dựng đời sống mới; “luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước”. Trên tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ những năm đầu của Nhà nước cách mạng, Người đã ký các sắc lệnh thành lập Nha Thể dục Trung ương và Nha Thanh niên và Thể dục (năm 1946)(5), đặt nền móng cho sự phát triển thể dục, thể thao quốc gia.

Thứ tư, để phòng bệnh và nâng cao sức khỏe, cần thực hiện tốt vệ sinh, xây dựng và bảo đảm môi trường sức khỏe. Hồ Chí Minh quan niệm một cách giản dị nhưng sâu sắc: “Vệ là bảo vệ, sinh là sinh sống, con người muốn mạnh khỏe, sống lâu để lao động sản xuất tốt thì phải ăn, ở có vệ sinh. Muốn có vệ sinh phải có nước sạch, muốn có nước sạch phải đào giếng, đào nhiều giếng sẽ có nhiều nước sạch”(6). Theo Người, vệ sinh gắn bó chặt chẽ với sức khỏe; nếu chú ý giữ gìn vệ sinh phòng bệnh thì sẽ “tránh được bệnh”(7). Trong tác phẩm Đời sống mới, Hồ Chí Minh khẳng định: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn. Xem đó thì biết rằng ai cũng nên làm đời sống mới”(8).

Xuất phát từ đó, Người yêu cầu thực hiện vệ sinh trên nhiều cấp độ: từ cá nhân, gia đình đến cơ quan, cộng đồng; đồng thời trong mọi lĩnh vực sinh hoạt và lao động, đều phải bảo đảm vệ sinh: “Phải giữ gìn vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch, thì sức mới khỏe”(9). Không chỉ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến an toàn, vệ sinh lao động và phòng chống tai nạn thương tích, coi đây là một nội dung quan trọng trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng bệnh, nâng cao sức khỏe ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Thứ nhất, chăm sóc sức khỏe và giải quyết bệnh tật theo quan điểm dự phòng tích cực là một định hướng nhất quán của Đảng ta trong suốt thời kỳ đổi mới. Các văn kiện từ Đại hội VI đến Đại hội XIV và các nghị quyết Trung ương đều khẳng định vai trò then chốt của y tế dự phòng, coi đây là cơ sở để bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đại hội VI xác định “coi trọng y tế dự phòng”(10); Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII nhấn mạnh “y tế dự phòng là then chốt”(11).

Qua các giai đoạn, nhận thức của Đảng ngày càng toàn diện hơn: từ chú trọng tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể (Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII) đến mở rộng nội dung phòng bệnh với quản trị hành vi, chế độ dinh dưỡng hợp lý, bảo đảm an toàn thực phẩm và rèn luyện thể chất (Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII). Cùng với đó, thể chế, chính sách, pháp luật về phòng bệnh được hoàn thiện, được thể chế hóa trong nhiều luật, pháp lệnh liên quan trực tiếp đến y tế, chăm sóc sức khỏe và các yếu tố tác động đến sức khỏe. Quan điểm “bảo vệ sức khỏe từ sớm, từ xa” đã trở thành định hướng xuyên suốt trong các chiến lược y tế quốc gia.

Triển khai chủ trương của Đảng, ngành y tế đã đạt nhiều kết quả: hệ thống Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) được thành lập ở tất cả các tỉnh, thành; nhân lực y tế dự phòng được đào tạo, bồi dưỡng; công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm và không lây nhiễm có nhiều tiến bộ; quản lý sức khỏe ban đầu bước đầu triển khai ở cấp xã. Nhận thức và thực hành phòng bệnh trong nhân dân ngày càng nâng cao, góp phần củng cố sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững(12).

Thứ hai, việc cải thiện điều kiện sống và chế độ dinh dưỡng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đạt nhiều thành tựu quan trọng. Các văn kiện từ Đại hội VI đến Đại hội XIII đều khẳng định đây là chủ trương nhất quán, từ yêu cầu “cải thiện bữa ăn, tăng thức ăn giàu năng lượng, chất dinh dưỡng”(13) đến “nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng”(14). Nhận thức của Đảng ngày càng toàn diện, chuyển từ trọng tâm phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em sang xây dựng Chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam.

Thể chế hóa chủ trương đó, nhiều chương trình đã được triển khai như sữa học đường, dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời, góp phần cải thiện rõ rệt tình trạng dinh dưỡng: tỷ lệ thiếu dinh dưỡng chung giảm từ 10,9% (năm 2010) xuống 5,7% (năm 2020); tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi từ 56% (năm 1990) còn 19,6% (năm 2023); suy dinh dưỡng nhẹ cân từ 14,5% (2014) xuống 11,2% (năm 2021); gầy còm từ 6,8% xuống 3,6%(15).

Cùng với cải thiện dinh dưỡng, tầm vóc và thể lực người Việt được nâng lên rõ rệt: chiều cao trung bình nam giới từ 161cm (năm 1985) lên 168,1cm (2019 - 2020), nữ từ 151cm lên 156,2cm. Đây là minh chứng cho hiệu quả của chính sách dinh dưỡng, đồng thời cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục duy trì, mở rộng các chương trình can thiệp trong giai đoạn tới.

Thứ ba, việc hình thành lối sống có lợi cho sức khỏe thông qua truyền thông, giáo dục sức khỏe và phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong thời kỳ đổi mới. Các văn kiện Đảng và nghị quyết Trung ương về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đều nhấn mạnh vai trò của truyền thông, giáo dục sức khỏe và rèn luyện thể lực. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII xác định rõ: “Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ”(16). Thể chế hóa chủ trương đó, chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn coi trọng truyền thông, giáo dục sức khỏe và khuyến khích rèn luyện thể lực. Nhờ vậy, hệ thống thiết chế truyền thông, giáo dục sức khỏe và thể dục, thể thao quần chúng ngày càng được củng cố, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, cải thiện hành vi, hình thành lối sống lành mạnh và phát triển thể chất cho nhân dân.

Thứ tư, thực hiện vệ sinh phòng bệnh, xây dựng và bảo đảm môi trường sức khỏe đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong thời kỳ đổi mới. Thể chế hóa quan điểm vệ sinh môi trường, an toàn lao động và phòng, chống tai nạn thương tích là những nội dung cấu thành trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, hệ thống pháp luật về vệ sinh phòng bệnh, an toàn thực phẩm, môi trường, lao động ngày càng hoàn thiện. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nâng cao chất lượng môi trường sống, bảo đảm điều kiện vệ sinh thiết yếu cho nhân dân. Nhờ vậy, các chỉ tiêu cơ bản được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh tăng từ 90% (năm 2010) lên 98,3% (năm 2022); dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống tập trung từ 86,7% (năm 2018) lên 94,2% (năm 2022); tỷ lệ khu công nghiệp có nhà máy xử lý nước thải đạt chuẩn từ 80,1% (năm 2018) lên 91% (năm 2022)(17).

Công tác quản lý chất thải cũng có nhiều tiến bộ: chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý đạt chuẩn từ 86% (năm 2018) lên 96,23% (năm 2022); chất thải nguy hại từ 75% lên 90%; cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được xử lý từ 66,2% lên 85,5%. Những kết quả này khẳng định sự đúng đắn trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, đồng thời cho thấy hiệu quả bước đầu trong việc xây dựng môi trường sức khỏe phục vụ phát triển bền vững đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phòng bệnh, nâng cao sức khỏe theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta trong thời kỳ đổi mới vẫn còn một số hạn chế, bất cập.

Một là, các nhiệm vụ và giải pháp về phòng bệnh chưa được xây dựng đầy đủ, toàn diện, nhất là trong việc nhận diện và xử lý các yếu tố tác động đến sức khỏe. Hệ thống luật pháp, chiến lược và chính sách của Nhà nước đều coi phòng bệnh là định hướng trọng yếu, nhưng còn thiếu sự đồng bộ trong triển khai; chậm ban hành luật, chính sách và chiến lược chuyên biệt đối với phòng, chống bệnh không lây nhiễm (bệnh mạn tính). Việc phân bổ nguồn lực cho y tế dự phòng và cung ứng dịch vụ còn hạn chế; hoạt động khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc để phát hiện sớm bệnh không lây nhiễm chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến hiệu quả phòng bệnh chưa đạt yêu cầu.

Hai là, ngân sách đầu tư cho các chương trình cải thiện dinh dưỡng đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Tình trạng mất an ninh lương thực trung bình đến nghiêm trọng có xu hướng gia tăng, từ 6,2% năm 2017 lên 7,6% năm 2020 (do nhiều nguyên nhân). Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, vẫn ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe cộng đồng.

Về chỉ số suy dinh dưỡng trẻ em: mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng có giảm, nhưng vẫn ở mức cao và phân hóa theo vùng, miền. Điều tra năm 2023 cho thấy, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi là 18,2%, cao hơn mức trung bình ở vùng Trung du - miền núi phía Bắc (24,8%) và Tây Nguyên (25,9%) (theo Viện Dinh dưỡng). Về tầm vóc: chiều cao trung bình người Việt tiếp tục cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với chuẩn quốc tế. Theo dữ liệu mới, chiều cao người Việt Nam hiện đạt khoảng 168,1cm ở nam và khoảng 156,2cm ở nữ (năm 2019 - 2020), trong khi tiêu chuẩn quốc tế (nam khoảng 176,1 cm; nữ khoảng 163,1cm).

Ba là, việc hình thành lối sống có lợi cho sức khỏe vẫn còn nhiều hạn chế. Về công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, mặc dù trong các văn kiện của Đảng và chính sách của Nhà nước đều đề cập đến, nhưng thực tế chưa được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hiện nay, vẫn thiếu một chương trình truyền thông - giáo dục sức khỏe tầm quốc gia có tính hệ thống.

Về rèn luyện thể lực gắn với phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng, điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực vẫn còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ người dân và hộ gia đình thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao còn thấp, năm 2022 chỉ đạt 35,6% và 26,7%; gần một phần ba dân số (28,1%) thiếu hoạt động thể lực so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Về chế độ dinh dưỡng, công tác hướng dẫn ăn uống hợp lý còn nhiều bất cập. Khoảng 59% dân số ăn thiếu rau, quả so với khuyến nghị (mỗi người cần ít nhất 400g/ngày); 78,2% dân số có thói quen “ăn mặn”. Chế độ ăn chưa hợp lý kết hợp với thiếu vận động thể lực đang là nguyên nhân cơ bản làm gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là tim mạch, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa, béo phì, ung thư, cùng với đó là tỷ lệ thừa cân và béo phì ngày càng tăng trong cộng đồng.

Bốn là, việc kiểm soát các hành vi không có lợi cho sức khỏe còn nhiều khó khăn, thách thức; công tác vệ sinh phòng bệnh, bảo đảm môi trường còn hạn chế. Công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia, thuốc lá chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Khảo sát năm 2021 cho thấy có tới 64,2% nam giới và 10% nữ giới uống rượu, bia trong 30 ngày qua; tỷ lệ hút thuốc lá vẫn ở mức cao, với 20,8% dân số từ 15 tuổi trở lên, trong đó nam giới chiếm 41,1%, nữ giới 0,6%. Đây là những yếu tố nguy cơ lớn đối với bệnh tật và tử vong sớm do các bệnh không lây nhiễm.

Về môi trường sức khỏe, tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước và công trình vệ sinh được quản lý an toàn còn thấp, mới đạt 54% và 77,4%(18). Việc xử lý nước thải còn nhiều bất cập: chỉ khoảng 15% tổng lượng nước thải đô thị được thu gom, xử lý; mới có 41% nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và khoảng 91% nước thải y tế được xử lý, phần còn lại xả thải trực tiếp, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Ở khu vực nông thôn, hầu hết các khu dân cư chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; cả nước hiện mới có 141/730 cụm công nghiệp (19,3%) đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung(19).

Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt tại các đô thị lớn; công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm và quản lý an toàn trong sử dụng thuốc còn gặp nhiều khó khăn. Việc bảo vệ sức khỏe người lao động, nhất là lao động khu vực phi chính thức, chưa có hợp đồng lao động, vẫn là thách thức lớn trong bối cảnh hiện nay.

Một số giải pháp cần triển khai thực hiện trong thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy, thể chế và thiết chế nhằm tăng cường phòng bệnh, nâng cao sức khỏe theo phương châm “phòng bệnh đi trước chữa bệnh”.

Chuyển mạnh từ tư duy thiên về “trị bệnh” sang coi trọng vị trí, vai trò chiến lược của công tác phòng bệnh, lấy bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân “từ sớm, từ xa” làm định hướng xuyên suốt trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách. Theo đó, cần sửa đổi Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 theo hướng xây dựng Luật Phòng bệnh, không chỉ bao quát nội dung phòng, chống bệnh truyền nhiễm mà còn bổ sung đầy đủ các quy định liên quan đến phòng bệnh không lây nhiễm: truyền thông - giáo dục sức khỏe, kiểm soát yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, dinh dưỡng, sức khỏe tâm thần, quản lý hồ sơ sức khỏe cá nhân. Trên cơ sở đó, đẩy nhanh tiến độ thiết lập hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân, tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, làm căn cứ cho hoạch định và giám sát chính sách y tế.

Triển khai hiệu quả chủ trương khám sức khỏe định kỳ cho nhân dân, mở rộng phạm vi y tế công cộng theo hướng miễn phí sàng lọc một số bệnh không lây nhiễm, miễn phí quản lý sức khỏe cho người từ 65 tuổi trở lên, cũng như quản lý sức khỏe toàn diện cho người mắc bệnh mạn tính. Việc phân bổ nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe cần đổi mới theo hướng tăng đầu tư cho y tế dự phòng, coi đây là thước đo năng lực hệ thống y tế. Đặc biệt, đưa tỷ lệ tử vong sớm do bệnh mạn tính vào bộ tiêu chí đánh giá công tác y tế để phản ánh mức độ cải thiện về dự phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm ở nước ta.

Thứ hai, quan tâm đúng mức đến việc cải thiện điều kiện sống và chế độ dinh dưỡng cho các tầng lớp nhân dân, nhất là trẻ em và nhóm đối tượng yếu thế.

Chú trọng xử lý tình trạng mất an ninh lương thực trong dân số (năm 2020 ở mức 7,6%), đồng thời cải thiện khẩu phần ăn của người nghèo đô thị, người thất nghiệp, đồng bào dân tộc thiểu số. Khi sửa đổi Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 thành Luật Phòng bệnh, cần bổ sung các quy định về dinh dưỡng như một nội dung quan trọng trong phòng bệnh. Có chính sách bắt buộc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm thiết yếu, như bổ sung i-ốt vào muối ăn, sắt và kẽm vào bột mỳ, vitamin A vào một số loại dầu thực vật. Đồng thời, yêu cầu các cơ sở sản xuất thực phẩm phải ghi rõ thông tin giá trị dinh dưỡng trên nhãn để góp phần phòng ngừa bệnh tật, nhất là bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa. Đẩy mạnh chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em trong độ tuổi học đường (6 - 16 tuổi) thông qua việc Nhà nước sử dụng ngân sách trợ cấp bữa ăn dinh dưỡng cho học sinh nông thôn, miền núi, hoặc mở rộng chương trình sữa học đường cho trẻ em thuộc hộ nghèo. Bên cạnh đó, đưa tỷ lệ cư dân nông thôn và thành thị đạt chuẩn thể lực quốc gia vào hệ tiêu chí đánh giá công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, coi đây là thước đo cụ thể về hiệu quả cải thiện dinh dưỡng và tầm vóc người Việt.

Các y, bác sĩ chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện _Nguồn: vapa.org.vn
 

Thứ ba, đẩy mạnh việc hình thành lối sống có lợi cho sức khỏe trong toàn xã hội.

Các chủ trương, chính sách về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân cần xác định rõ đây là một nhiệm vụ cơ bản, gắn với việc xây dựng ý thức và hành vi tự giác của mỗi người dân. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 theo hướng quy định cụ thể hơn các biện pháp hình thành hành vi, lối sống lành mạnh, phòng chống bệnh không lây nhiễm.

Truyền thông và giáo dục sức khỏe phải được coi là giải pháp trọng tâm, với mục tiêu phổ cập kiến thức phòng bệnh cho mọi tầng lớp, đặc biệt là tăng cường giáo dục sức khỏe trong trường học. Nhà nước cần tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác này, đồng thời đưa mức độ hiểu biết về sức khỏe của người dân thành chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Thúc đẩy thói quen vận động thể lực, gắn với phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Có thể thực hiện chính sách mở cửa miễn phí hoặc thu phí thấp đối với sân vận động, nhà thi đấu được đầu tư bằng ngân sách nhà nước, nhằm tạo điều kiện để người dân tiếp cận thuận lợi. Tỷ lệ người dân thường xuyên tập thể dục cần được đưa vào hệ chỉ tiêu đánh giá y tế, như một thước đo cụ thể về hiệu quả phòng bệnh. Quan tâm hướng dẫn chế độ ăn hợp lý, đẩy mạnh truyền thông về ăn uống lành mạnh theo khuyến nghị của WHO: giảm khẩu phần thịt, trứng, sữa, chất béo; tăng cường rau, quả trong khẩu phần hằng ngày. Đây là giải pháp căn cơ để phòng ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư và các rối loạn chuyển hóa đang gia tăng trong xã hội hiện nay.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát các hành vi không có lợi cho sức khỏe và đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng bệnh.

Kiểm soát có hiệu quả tình trạng sử dụng thuốc lá, rượu, bia và các đồ uống có cồn, thúc đẩy xây dựng môi trường không khói thuốc, đồng thời tăng cường giám sát và thực thi nghiêm các quy định pháp luật về kiểm soát thuốc lá, rượu, bia ở nơi công cộng. Nâng cao hiệu quả phòng, chống các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm và giảm thiểu các hành vi tình dục không an toàn - những nguy cơ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Hoàn thiện thể chế về vệ sinh phòng bệnh, bảo đảm giải quyết đồng bộ, từ “sớm”, từ “xa” các yếu tố môi trường tác động đến sức khỏe nhân dân, trong đó chú trọng đánh giá tác động sức khỏe (HIA) đối với các chính sách, chương trình, dự án trước khi ban hành và triển khai. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách cải thiện vệ sinh môi trường ở mọi cấp độ, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Một trong những hướng đi quan trọng là xây dựng và nhân rộng các mô hình “thành phố sức khỏe”, “nông thôn sức khỏe”, làm cơ sở lan tỏa đến “khu dân cư sức khỏe”, “làng xã sức khỏe”, “cơ quan sức khỏe”, “gia đình sức khỏe”, tạo thành phong trào rộng khắp trong toàn xã hội. Tăng cường quản trị các vấn đề môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là không khí, nguồn nước; bảo đảm an toàn thực phẩm, thuốc và hoàn thiện hệ thống an toàn công cộng, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng một “Việt Nam sức khỏe” trong kỷ nguyên phát triển mới./. 

---------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr. 154
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 11, tr. 487
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 177
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 6, tr. 34
(5) Xem: Sắc lệnh số 14  ngày 30 tháng 1 năm 1946 của Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ  cộng hòa, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Sac-lenh-14-
(6) Xem:  “29-9-1962: Bác căn dặn sức khỏe là vốn quý nhất của con người”, Báo Quân đội Nhân dân, ngày 29-9-2021
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 10, tr. 603
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 114
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 13, tr. 82
(10) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 714
(11) Xem: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
(12) Xem: Nghị quyết số 99/2023/QH15 về giám sát chuyên đề về việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19; việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 186 - 187
(14) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 151
(15) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024): Báo cáo rà soát quốc gia tự nguyện thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (VNR) năm 2023, tr. 42
(16) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, t. 52, tr. 523 - 528
(17) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024): Báo cáo rà soát quốc gia tự nguyện thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (VNR) năm 2023, tr. 76 - 79
(18) Tổng cục Thống kê, UNICE và UNFPA: Kết quả tóm tắt điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020 - 2021, tr. 22, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2022/06/SDGCW-2020-2021-Summary-Report_VN-1.pdf
(19) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024): Báo cáo rà soát quốc gia tự nguyện thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (VNR) năm 2023, tr. 131 - 133


Theo tapchicongsan.vn
Bình luận

Các tin khác