Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội trong bối cảnh mới
An sinh xã hội là một trong những trụ cột quan trọng của phát triển bền vững, gắn bó hữu cơ với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh - coi con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu, đồng thời là động lực của sự phát triển - việc bảo đảm an sinh xã hội mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, khẳng định tinh thần công bằng và khát vọng “không để ai bị bỏ lại phía sau” của Đảng và Nhà nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội
An sinh xã hội là một bộ phận trọng yếu của chính sách công, vừa mang tính kinh tế, xã hội, vừa thấm đẫm giá trị nhân văn, thể hiện sâu sắc quyền con người và truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta. Bản chất nhân văn đó được phản ánh sinh động trong tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội.
Tư tưởng của Người về vấn đề này đã hình thành từ rất sớm và ngày càng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng. Ngay trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Người khẳng định: “Con người sinh ra có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi người dân, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc hay giới tính, đều có quyền được sống an toàn, được bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, những quyền đó chỉ có thể được hiện thực hóa trong điều kiện quốc gia độc lập, nhà nước của dân, do dân và vì dân - nơi bảo đảm cho nhân dân được ấm no, hạnh phúc.
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, khi bàn về vai trò của Công hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lại có bất thường phí, như để dành phòng lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi công, hoặc giúp đỡ những người trong hội mất việc làm, hoặc làm các việc công ích”(2). Đây có thể coi là những chỉ dẫn sớm, thể hiện tư tưởng ban đầu của Người về an sinh xã hội.
Đến Chương trình Việt Minh (năm 1944), tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội được thể hiện đầy đủ, rõ nét hơn, với những định hướng cụ thể về bảo hiểm xã hội, chế độ tiền lương, chế độ hưu trí, cứu tế thất nghiệp đối với công nhân, cứu tế nông dân khi mất mùa... Người chủ trương xây dựng một xã hội trong đó mọi tầng lớp nhân dân đều được bảo đảm an sinh. Văn kiện nêu rõ: 1. “Thi hành luật lao động, ngày làm việc 8 giờ/Giúp đỡ các gia đình đông con/Lập ấu trĩ viên để chăm nom trẻ con/Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân/Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão”(3).
.jpg)
Những nội dung trên phản ánh rõ nét tư tưởng nhân văn, tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt nền móng cho hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, coi đó là trách nhiệm chính trị, đạo lý và pháp lý của một nhà nước cách mạng. Từ nhận thức ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, với tư cách là chủ thể lãnh đạo và quản lý xã hội, Đảng và Nhà nước phải xây dựng, ban hành và thực thi hệ thống chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội gắn trực tiếp với đời sống con người, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đặc biệt, trong Di chúc (năm 1969) thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(4).
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó có thể khái quát một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, về mục đích của an sinh xã hội.
Trong toàn bộ tư tưởng và hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Đầu tiên là công việc đối với con người”, mục đích cuối cùng là giải phóng con người, giải phóng nhân loại(5). Cả cuộc đời Người là sự tận tâm, tận lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng những người “cùng khổ”, hướng tới một nhân loại ấm no, hạnh phúc, công bằng, văn minh, một thế giới đại đồng dựa trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; đồng thời phải chăm lo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt…”(6).
Người khẳng định: “Nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Xuất phát từ tư tưởng đó, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu và bất bình đẳng xã hội.
Như vậy, lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất, phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng xã hội mới, chính là mục tiêu xuyên suốt của an sinh xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Con người - với tư cách là người lao động được giải phóng - vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội.
Thứ hai, về đối tượng của an sinh xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, an sinh xã hội phải hướng tới việc giải quyết hài hòa nhu cầu và lợi ích của mọi giai cấp, tầng lớp và đông đảo quần chúng nhân dân. Trước lúc đi xa, trong Di chúc (năm 1969), Người căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người”(8), coi con người chính là đối tượng trung tâm của chính sách xã hội.
Người khẳng định, Đảng và Nhà nước phải đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện để những người có công với cách mạng có việc làm thích hợp, không để họ rơi vào cảnh đói rét, thiếu thốn. Người nhấn mạnh: “Đối với những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất cho đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo họ thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc”(9).
Đối với phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và tạo điều kiện giúp đỡ, nhằm ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia và đảm trách công việc, kể cả những vị trí lãnh đạo(10). Với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ như trộm cắp, mại dâm, cờ bạc, buôn lậu… Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến nông dân - lực lượng đông đảo trong xã hội. Người đề xuất: “Miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(11).
Như vậy, có thể thấy giữa mục đích và đối tượng của an sinh xã hội tồn tại mối quan hệ hữu cơ: mục tiêu của an sinh xã hội phải gắn liền với việc chăm lo cho các đối tượng cụ thể, nhất là những nhóm yếu thế trong xã hội, nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời, an sinh xã hội còn là công cụ quan trọng trong quản lý xã hội, góp phần điều hòa các mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tập thể, giai cấp và tầng lớp.
Quan điểm về mục đích và đối tượng của an sinh xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa thể hiện tính sáng tạo, vừa thấm đẫm giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Người đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đây chính là cơ sở để bảo đảm ổn định chính trị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hoàn thiện các quan hệ xã hội và phát huy bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mới ở Việt Nam.
Thứ ba, về nội dung thực hiện an sinh xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là động lực quyết định của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Người luôn nhấn mạnh Đảng và Nhà nước phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, qua đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân(12).
Nội dung an sinh xã hội theo Hồ Chí Minh được thể hiện trên nhiều phương diện, có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Trước hết, Người coi lao động và việc làm là vấn đề cốt lõi, bởi “làm sao cho nhân dân có công ăn việc làm” là yêu cầu hàng đầu. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền phải bảo vệ cho nhân dân làm ăn yên ổn, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, vận tải, trên nguyên tắc công - tư đều được chiếu cố, chủ - thợ cùng có lợi. Đồng thời, Người khẳng định lao động không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc, đòi hỏi mọi người phải tự nguyện, tự giác tham gia xây dựng đất nước(13).
Kế đến, từ những trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống lầm than trong xã hội cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng chính sách xóa đói, giảm nghèo. Người chỉ rõ: “Người nghèo khổ thì nhiều, người no ấm thì ít”, do vậy cần quan tâm trước hết đến việc bảo đảm đời sống thiết yếu của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành, trong đó tăng gia sản xuất gắn liền với tiết kiệm là giải pháp cơ bản, thiết thực nhất để giữ vững độc lập, tự do và nâng cao đời sống nhân dân(14).
Một nội dung quan trọng khác trong tư tưởng của Người là chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của cả dân tộc, “dân cường thì quốc thịnh”. Người đã ký Sắc lệnh số 29/SL năm 1947, đặt nền móng pháp lý cho chế độ bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động, đồng thời nhấn mạnh quyền bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế. Quan điểm đó trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để sau này Nhà nước xây dựng chính sách bảo hiểm y tế toàn dân(15).
Đối với người có công với cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định trách nhiệm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Người căn dặn phải chăm lo chỗ ở, đời sống cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời tổ chức dạy nghề thích hợp để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đây vừa là đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, vừa là chính sách nhân văn sâu sắc nhằm tri ân, đồng thời khuyến khích họ tiếp tục đóng góp cho xã hội(16).
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến bình đẳng giới và bảo trợ các nhóm yếu thế. Người yêu cầu phải có kế hoạch bồi dưỡng, cất nhắc và phát huy vai trò phụ nữ trong mọi lĩnh vực. Với những nạn nhân của xã hội cũ, như trộm cắp, mại dâm, cờ bạc, Người nhấn mạnh phải kết hợp giáo dục với pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở thành những công dân lương thiện. Đối với trẻ em, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn rằng tương lai đất nước phụ thuộc vào sự học tập của các cháu, từ đó yêu cầu toàn xã hội phải đặc biệt chăm lo, bảo vệ và giáo dục thế hệ trẻ(17).
Đáng chú ý, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà còn đề cao sự chủ động, tinh thần làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện an sinh xã hội. Người căn dặn phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” để bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống(18). Đây chính là tư tưởng hiện đại, coi an sinh xã hội không chỉ là sự bảo hộ của Nhà nước mà còn là sự tham gia tích cực của cộng đồng, là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và bền vững.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạch định và thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nhân dân được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc. Người khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân”(19); và “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(20). Đây là tư tưởng bao trùm, thể hiện triết lý nhân văn sâu sắc của Người về an sinh xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị. Mục tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh - xây dựng một xã hội hạnh phúc, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu và đáp ứng nhu cầu phát triển cao hơn - tương đồng với tinh thần phát triển bền vững và bao trùm trong Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Trước những biến động toàn cầu, từ hệ lụy của đại dịch COVID-19, nguy cơ suy thoái kinh tế đến thách thức an ninh phi truyền thống, an sinh xã hội ngày càng khẳng định vai trò trụ cột để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Việt Nam đang tiến hành đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng nên điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.
Việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước hoạch định và thực thi chính sách phù hợp, hướng tới phát triển con người, thực hiện ngày càng tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Một là, lấy con người làm gốc, làm điểm xuất phát và đích đến của chính sách an sinh xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện chiều sâu nhân văn ở chỗ Người luôn đặt con người - trước hết là nhân dân lao động - vào vị trí trung tâm của mọi chính sách. Theo Người, sự phát triển xã hội không diễn ra tự động mà do sức lao động, sáng tạo và đấu tranh của con người kiến tạo. Vì vậy, phát triển toàn diện con người phải là mục tiêu cao nhất, đồng thời cũng là động lực quan trọng nhất của sự phát triển bền vững. Con người vừa sáng tạo văn hóa, xây dựng văn minh, cải biến xã hội, vừa hoàn thiện chính mình trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Trên tinh thần đó, chính sách xã hội phải vì con người, lấy con người làm gốc, làm điểm xuất phát và đích đến của an sinh xã hội. Con người ở đây là toàn thể nhân dân, gồm các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng dân tộc, đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo. Chính sách an sinh xã hội phải bảo đảm mọi người được thụ hưởng phúc lợi, sống an toàn, đồng thời tạo điều kiện phát triển toàn diện cá nhân gắn với sự tiến bộ của cộng đồng và xã hội.
Hai là, phát triển an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, gắn kết chặt chẽ với chính sách kinh tế.
Một nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gắn kết hữu cơ giữa chính sách xã hội và chính sách kinh tế. Người khẳng định: phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội; ngược lại, khi các vấn đề xã hội được giải quyết công bằng, tiến bộ thì sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân”(21).
Thực tiễn chứng minh, không thể có hệ thống an sinh xã hội đầy đủ nếu nền kinh tế yếu kém; đồng thời, cũng không thể duy trì tăng trưởng bền vững trong một xã hội thiếu chính sách công bằng. Nếu chỉ chú trọng tăng trưởng thuần túy mà coi nhẹ an sinh xã hội, sẽ dẫn đến bất công, phân hóa giàu nghèo, bất ổn xã hội; ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến phúc lợi mà không dựa trên nền tảng kinh tế vững chắc thì sẽ thiếu nguồn lực để thực hiện. Do vậy, chỉ khi triển khai đồng bộ, hài hòa chính sách kinh tế và xã hội mới có thể đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính sách xã hội phải luôn được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế, đồng thời phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực của đất nước trong từng giai đoạn.

Ba là, chính sách an sinh xã hội phải hướng đến công bằng xã hội.
Công bằng xã hội là khát vọng lớn lao của nhân loại, thể hiện ở sự cân đối giữa quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ. Đây cũng là sự bảo đảm thực thi đầy đủ quyền con người: được sống trong hòa bình, bình đẳng trước pháp luật, có việc làm, nhà ở, học tập và được bảo vệ thu nhập khi gặp rủi ro. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc xây dựng một xã hội công bằng, trong đó “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng; những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ, chăm nom”(22). Quan điểm này vừa khẳng định nguyên tắc công bằng trong phân phối, vừa thể hiện tính nhân văn, ưu việt của chế độ mới ở Việt Nam.
Thực hiện công bằng xã hội sẽ khuyến khích người dân hăng hái lao động, cống hiến và thụ hưởng chính đáng, qua đó củng cố ổn định xã hội, tăng cường niềm tin nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, trong đó an sinh xã hội giữ vai trò then chốt để hiện thực hóa.
Bốn là, quản lý phát triển an sinh xã hội phải gắn với quản lý xã hội.
Trong bất kỳ thể chế nào, quản lý xã hội luôn là điều kiện bảo đảm ổn định và phát triển. Với Việt Nam, quản lý xã hội là sự tác động khoa học của các cơ quan lãnh đạo, quản lý đến mọi lĩnh vực đời sống, từ hoạch định đường lối đến tổ chức thực hiện qua cơ chế, chính sách cụ thể(23). Trong đó, chính sách xã hội vừa là bộ phận, vừa là công cụ quan trọng của quản lý xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp: Phải có lãi... tất cả mọi thứ đều phải tính toán cẩn thận”(24). Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận hiện đại: quản lý xã hội là việc cân đối, sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất và phát triển bền vững.
Quản lý an sinh xã hội bao quát nhiều vấn đề, như lao động, xóa đói giảm nghèo, y tế, dân số… nên cần một hệ thống lãnh đạo và bộ máy quản lý hiệu quả. Với Việt Nam, điều đó gắn liền với yêu cầu xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ nhân dân, đưa chính sách an sinh vào cuộc sống. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quản lý xã hội đòi hỏi phẩm chất chính trị, đạo đức, tri thức và sự gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng thời biết tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để nâng cao hiệu quả chính sách an sinh xã hội trong tình hình mới./.
-----------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 1
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 328
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 241 - 242
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 622
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 616
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 165
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 616
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 617
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 662
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 380
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 175
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 99
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 616
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 571
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 234
(19), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. tr. 187
(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. tr. 201
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 66
(23) Xem: Phạm Xuân Nam (Chủ biên): Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 12
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 443





