Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh tổng hợp quốc gia - Những hàm ý cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Trong bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, việc quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia dưới sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quan trọng, mang tính chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để Đảng ta tiếp tục hoạch định đường lối đúng đắn, phát huy cao độ mọi nguồn lực, tiềm năng của đất nước, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia

Trong tiến trình phát triển của nhân loại, sự tồn vong và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc luôn gắn liền với khả năng nhận diện, kiến tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thế giới và khu vực đang chứng kiến những chuyển dịch sâu sắc, nhanh chóng và khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức gia tăng; các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước tác động ngày càng mạnh mẽ đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức lý luận, mà còn trực tiếp định hướng cho việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Vận dụng học thuyết Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của yêu cầu gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Theo Người, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả đất nước, của toàn thể dân tộc Việt Nam, của chế độ dân chủ mới, của tất cả các giai cấp, tầng lớp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo và toàn bộ lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; sức mạnh tổng hợp của các yếu tố kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, quân sự, đối ngoại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia là một chỉnh thể thống nhất, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể, nền tảng, các trụ cột cấu thành và phương thức phát huy sức mạnh của quốc gia - dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những quan điểm đó của Người thể hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, gia tăng sức mạnh của toàn dân, coi nhân dân là chủ thể quyết định của sức mạnh tổng hợp quốc gia

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, nhân dân là cội nguồn, là chủ thể trực tiếp tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Theo Người, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không phải là sự cộng gộp giản đơn của các yếu tố vật chất, mà trước hết và trên hết là sức mạnh lòng dân, của sự đồng thuận xã hội, của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự cường và khát vọng cống hiến của toàn thể nhân dân.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu

Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm sắt đá của toàn dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ nền độc lập vừa giành được, thể hiện quan điểm xuyên suốt của Người về việc huy động và phát huy sức mạnh toàn dân cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người nhấn mạnh, muốn gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia thì phải dựa vào dân, tin dân, tôn trọng dân và chăm lo, bồi dưỡng sức dân theo tinh thần “dân cường thì quốc thịnh”, “thực túc thì binh cường”. Phát huy sức mạnh của toàn dân phải gắn liền với việc tổ chức, động viên và giáo dục nhân dân tham gia sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc bằng những hình thức, phương thức phù hợp với từng điều kiện lịch sử cụ thể, đó là sự kết hợp giữa ý chí tự giác của nhân dân với vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động của hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp bền vững, lâu dài. Người khẳng định: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng quyết liệt chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp… Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(1). Để gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, nhất thiết phải dựa vào nhân dân và huy động toàn dân tham gia. Đồng thời, Người yêu cầu phải tổ chức toàn dân sẵn sàng đánh địch bằng mọi vũ khí ở những thời gian, không gian khác nhau theo quan điểm: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”(2).

Thứ hai, gia tăng sức mạnh tổng hợp trên cơ sở phát triển toàn diện các trụ cột của quốc gia

Một là, gia tăng sức mạnh chính trị, tư tưởng. Đây là nhân tố cơ bản quyết định đến sức mạnh toàn diện của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”(3). Trong đó, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quan trọng nhất của sức mạnh chính trị, tư tưởng, chính sức mạnh chính trị, tư tưởng tạo ra khả năng quy tụ, phát huy được mọi tiềm năng của đất nước, kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây là ưu thế tuyệt đối của nhân dân ta trong việc tăng thêm sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc. Người nhấn mạnh: “Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt”(4).

Hai là, gia tăng sức mạnh kinh tế - nền tảng vật chất quyết định của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế với củng cố sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Theo Người, kinh tế có phát triển thì mới có điều kiện nâng cao đời sống nhân dân, bồi dưỡng sức dân và tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh. Trong điều kiện chiến tranh lâu dài, tự lực, tự cường về kinh tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng; nước ta thường phải tiến hành chiến tranh trên cơ sở tự lực cánh sinh là chính, nên càng phải coi trọng gia tăng sức mạnh về kinh tế. Người lý giải, kinh tế có phát triển, sức mạnh toàn diện của đất nước mới có thể đáp ứng đầy đủ và kịp thời mọi nhu cầu ngày càng lớn của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mới đủ sức đáp ứng với những cuộc chiến lâu dài, bảo đảm càng đánh càng mạnh, đi đến thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, kinh tế có phát triển thì mới duy trì và bồi dưỡng được sức dân trong điều kiện chiến tranh có thể kéo dài.

Để góp phần tăng thêm sức mạnh tổng hợp của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền kinh tế phải “dựa trên hai chân: công nghiệp và nông nghiệp, cả hai đều phải được ứng dụng máy móc để tăng năng suất lao động”. Người nêu rõ: “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường”(5).

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng hợp tác quốc tế về kinh tế theo tinh thần: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ “giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”(6). Với tầm nhìn chiến lược, nên ngay khi chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người đã bày tỏ mong muốn hợp tác với tư bản Pháp và các nước, nhằm khôi phục đất nước sau chiến tranh và góp phần ổn định kinh tế thế giới.

Ba là, gia tăng sức mạnh văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm coi “văn hóa cũng là một mặt trận”, “so với những mặt trận khác cũng không kém phần quan trọng”; đề cao vai trò của yếu tố khoa học - kỹ thuật trong gia tăng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Do đó, Người hết sức coi trọng việc xây dựng và phát huy sức mạnh văn hóa, khẳng định sự nghiệp mở mang dân trí không chỉ dừng lại ở giác ngộ chính trị, tư tưởng, mà kiến thức về mọi mặt của người dân lao động trên mọi miền đất nước, từ thành phố đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược cần được không ngừng mở rộng và nâng cao để có thể tiếp cận những thành tựu về văn hóa, khoa học - kỹ thuật của nhân loại, trên cơ sở đó tham gia tích cực vào các lĩnh vực khác nhau của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng như đời sống xã hội.

Ngay từ khi chính quyền được thành lập và trong quá trình kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng nền văn hóa mới, chăm lo đời sống vật chất - văn hóa - tinh thần, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí cho nhân dân. Người nhấn mạnh, Đảng và Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để tẩy trừ văn hóa thủ cựu, lạc hậu, nâng cao chất lượng giáo dục, tạo ra con người mới của chế độ mới, đáp ứng yêu cầu cách mạng và học tập cái hay, cái tiến bộ của nước ngoài, phù hợp với nước ta. Trả lời phỏng vấn của A. Steele, phóng viên báo New York Herald Tribune (ngày 13-10-1949), Người nói: “Sự tự túc về mặt công nghệ không thể được. Chúng tôi chỉ quốc hữu hóa những công nghệ cần thiết cho việc quốc phòng”(7). Theo đó, Người cho rằng, phải phát huy trí tuệ toàn dân, của cả nước để từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, trang bị cho lực lượng vũ trang và nhân dân vũ khí và phương tiện kỹ thuật để bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Người yêu cầu phải đẩy mạnh phong trào thi đua chế tạo vũ khí trong các công xưởng, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Bốn là, gia tăng sức mạnh quân sự - trụ cột trực tiếp của sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, sức mạnh quân sự là nhân tố trực tiếp, cơ bản, quyết định trong gia tăng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh quân sự thể hiện ở sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân “ba thứ quân” (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); khả năng chuyển trạng thái đất nước từ hòa bình sang chiến tranh và chủ động ngăn ngừa chiến tranh; khả năng tạo ưu thế so sánh lực lượng trong chiến tranh, ở thế trận chiến tranh nhân dân, thế bố trí triển khai lực lượng. Do đó, Người yêu cầu gia tăng sức mạnh quân sự trước hết phải chú trọng xây dựng lực lượng “ba thứ quân”: “Phải xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh bao gồm bộ đội chủ lực mạnh, bộ đội địa phương mạnh, dân quân du kích vững mạnh và rộng khắp. Phải nâng cao hơn nữa chất lượng của cả ba thứ quân”(8).

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thành thế bố trí, triển khai rộng khắp cả trong vùng địch và xung quanh vùng địch, để bao vây, chia cắt quân địch, buộc địch phải căng kéo đối phó. Đồng thời, Người chú trọng khắc phục các hạn chế để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua việc thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện về chính trị, tư tưởng, kỹ thuật - chiến thuật, rèn luyện kỷ luật và bản lĩnh của người quân nhân cách mạng.

Năm là, gia tăng sức mạnh đối ngoại và ngoại giao. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh ngoại giao là một bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia, phản ánh trình độ kết hợp giữa thực lực bên trong với nghệ thuật xử lý quan hệ quốc tế. Người chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, thêm bạn bớt thù, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong đấu tranh ngoại giao phải luôn giữ vững tính chủ động và khẳng định tính chất chính nghĩa của ta, tính chất phi nghĩa của địch, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới.

Về sức mạnh đấu tranh ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đó là sự kết hợp giữa sức mạnh của thực lực cách mạng Việt Nam với nghệ thuật đấu tranh ngoại giao, nhưng lấy thực lực làm căn bản: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(9). Coi trọng xây dựng thực lực để gia tăng sức mạnh ngoại giao, Người luôn chủ động sớm về kế hoạch trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, qua đó tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước, các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Những hàm ý cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia tăng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trở thành bài học quý giá, mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam, là cơ sở lý luận giúp Đảng ta xây dựng, hoạch định đường lối, quan điểm, chính sách; là biện pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong kháng chiến, kiến quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khích lệ, động viên các tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành đoàn kết, quyết tâm, ra sức thi đua gia tăng sức mạnh toàn diện của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò làm chủ của nhân dân. Đây chính là một trong những động lực quan trọng, góp phần vào thành công trong quá trình chuyển hóa lực lượng và sức mạnh, đánh thắng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; đánh thắng chiến tranh xâm lược của đối phương ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa qua các giai đoạn cách mạng.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, khó đoán định và trước các tác động của an ninh phi truyền thống; từ tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông đang hết sức căng thẳng, phức tạp, những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị thời sự, gợi mở các định hướng cho việc hoạch định và gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa. Những chỉ dẫn đó của Người đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo trong suốt tiến trình cách mạng. Trong kỷ nguyên phát triển mới, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, tư tưởng của Người tiếp tục gợi mở những định hướng quan trọng sau:

Một là, tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh về gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn là nhân tố giữ vai trò quyết định trong việc tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể; bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với yêu cầu xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước. Theo đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu, làm sâu sắc hơn nội hàm lý luận và giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới; gắn chặt việc học tập, quán triệt tư tưởng của Người với việc triển khai các nghị quyết, chiến lược lớn của Đảng(10), nhất là Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; quan điểm Đại hội XIV về “Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia”(11).

Trong kỷ nguyên phát triển mới, cần nâng cao chất lượng công tác học tập, quán triệt và tăng cường tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nội dung, giá trị quan điểm gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng; làm cho tư tưởng của Người thực sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong gia tăng sức mạnh tổng hợp; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trở thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm xây dựng nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc theo di nguyện của Người.

Hai là, phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân trong gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Phát huy cao độ vai trò chủ thể của nhân dân trong gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia gắn với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong điều kiện mới, việc phát huy sức mạnh của toàn dân cần được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố đồng thuận xã hội, xây dựng và không ngừng củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc - nền tảng chính trị - xã hội quan trọng bảo đảm sự bền vững của sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Đây là định hướng quan trọng trong gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, bởi nếu không phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, thì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không thể bền vững, do thiếu cả nguồn nhân lực và vật lực. Việc phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức mạnh của toàn dân, trên tinh thần “lấy dân làm gốc”, không ngừng nâng cao vai trò “làm chủ”, “là chủ” của nhân dân; phát huy trí tuệ, sức mạnh của các tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới. Phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân, đồng thời cần làm tốt việc chăm lo, bồi dưỡng sức dân theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện tốt việc phát huy rộng rãi nhất dân chủ xã hội chủ nghĩa theo Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố đồng thuận xã hội, gia tăng niềm tin của nhân dân trên cơ sở phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện hiệu quả phương châm của Đảng về “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(12).

Ba là, gia tăng sức mạnh toàn diện của đất nước.

Gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia trên cơ sở phát triển hài hòa, đồng bộ các trụ cột kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học - công nghệ. Trong đó, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với tăng trưởng xanh, chuyển đổi số, kinh tế số; phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa và con người Việt Nam; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân; đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia - dân tộc.

Bên cạnh đó, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, nhất là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo Nghị quyết số 44-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Động viên và khơi dậy truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì quyền lợi của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Quán triệt và triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong toàn hệ thống chính trị và xã hội; thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí theo chỉ đạo “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Tổng Bí thư Tô Lâm. Nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu về đạo đức, trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên có chức, có quyền theo Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, khôi phục lòng tin của nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn và các đại biểu tham quan khu vực trưng bày của Bộ Quốc phòng trong khuôn khổ Triển lãm Thành tựu "80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" diễn ra từ ngày 28-8 - 5-9-2025_Ảnh: baochinhphu.vn

Tiếp tục nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 và tầm nhìn chiến lược đến năm 2045 theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV. Tập trung đổi mới đồng bộ thể chế, cơ chế quản lý và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo định hướng phát triển nhanh, bền vững; coi trọng tăng trưởng xanh, phát triển “kinh tế tuần hoàn”, “kinh tế số” dựa trên ứng dụng công nghệ cao vào tất cả các khâu, các quy trình, quy mô của nền kinh tế; giảm thiểu thấp nhất các tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu do tác động của chiến tranh thương mại, xung đột quân sự, khủng bố, an ninh phi truyền thống, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế quốc tế với độ mở lớn.

Phát huy sức mạnh nội sinh của nền văn hóa và con người Việt Nam, bảo đảm gia tăng sức mạnh của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và giá trị của con người Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, qua đó tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, có khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống. Phát huy tốt vai trò nòng cốt của quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại gắn với nền an ninh nhân dân vững chắc. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội và đột phá làm chuyển biến chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật. Đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng “tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”, để hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật và nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tiếp tục phát huy sức mạnh ngoại giao theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại Việt Nam, nhằm tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giải quyết linh hoạt, sáng tạo nhưng có nguyên tắc các vấn đề còn mâu thuẫn, vì hoà bình, độc lập dân tộc và đôi bên cùng có lợi trên cơ sở bảo đảm tối cao lợi ích quốc gia, dân tộc. Coi trọng phát triển ngoại giao đa phương, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ “đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” với quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy./.

---------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 3
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 534
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 7, tr. 164
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 8, tr. 352
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 12, tr. 445
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 6, tr. 46
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 6, tr. 230
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 15, tr. 314
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 147
(10) Các nghị quyết: Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-4-2018, của Bộ Chính trị, về Chiến lược quốc phòng Việt Nam; Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2026, về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6-1-2026, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;...
(11) Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026, tr. 35
(12) Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Sđd, tr. 39


Theo tapchicongsan.vn
Bình luận

Các tin khác