Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Từ hai bức thư của Bác Hồ đến sức sống của mô hình hợp tác xã hôm nay

Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điền chủ nông gia Việt Nam (năm 1946) và bức thư Người gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến Miền núi và Trung du (năm 1964) là những văn kiện quý báu, dấu mốc đặc biệt quan trọng đặt nền móng cho sự ra đời, định hình và phát triển mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã ở nước ta. Nhân kỷ niệm 80 năm ngày Bác Hồ gửi thư cho điền chủ nông gia Việt Nam (11-4-1946 - 11-4-2026), chúng ta càng thấy rõ giá trị lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa to lớn của hai bức thư trong việc tìm lời giải, tháo gỡ các nút thắt, tạo ra những động lực phát triển của hợp tác xã trong giai đoạn mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954_Ảnh: Tư liệu

“Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam” - khởi nguồn tư duy về hợp tác xã

Ngày 11-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam”đăng trên Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946, trong bối cảnh nước nhà vừa giành được độc lập nhưng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách, sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài.

Với nhận thức về xuất phát điểm của nước ta là một nền kinh tế lạc hậu, bị tàn phá nặng nề do chính sách khai thác, vơ vét, bóc lột của thực dân Pháp, nông nghiệp trở thành ngành kinh tế chính để giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt là nạn đói, đồng thời cũng là sinh kế lâu dài của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc”(1). Trong cuộc kháng chiến và kiến quốc, nông dân không chỉ là người cung cấp lương thực mà còn là lực lượng đông đảo nhất, đóng góp sức người, sức của nhiều nhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khẳng định vai trò nòng cốt, bằng sự tôn trọng và tin tưởng tuyệt đối của Đảng và Chính phủ đối với giai cấp nông dân, Người viết: “Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn”(2). Việt Nam có hơn 90% dân số là nông dân, bởi vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rõ, sự giàu có của nông dân chính là nền tảng cho sức mạnh quốc gia. Người khẳng định: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”(3).

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của hợp tác xã đối với sự phát triển kinh tế của nước nhà. Nông nghiệp Việt Nam vốn là ngành sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu, lối canh tác cá thể, riêng lẻ khiến người nông dân luôn rơi vào thế yếu, thiếu hụt nguồn lực để đối phó với những rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh. Do đó, muốn xóa nghèo, người nông dân cần lựa chọn con đường liên kết, hợp tác với nhau. Bằng quan điểm: “Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”(4), Người đã coi hợp tác xã là giải pháp then chốt, một định hướng chiến lược cho nền nông nghiệp Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn ngữ giản dị để diễn giải về bản chất của hợp tác xã, đó chính là sự tập trung các nguồn lực. Trả lời cho câu hỏi: Hợp tác xã là gì?, Người khẳng định: “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều”(5). “Hợp vốn” nhằm tạo ra nguồn lực tài chính đủ mạnh để đầu tư bài bản, góp phần cải tiến công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác. “Hợp sức” nhằm tổ chức lại lực lượng sản xuất thông qua phân công chuyên môn hóa, tạo ra sức mạnh tổng hợp vượt trội, mà kinh tế cá thể, riêng lẻ không thể đạt tới. Thực chất, hợp tác xã chính là sự chuyển hóa từ trạng thái sản xuất nhỏ lẻ, yếu thế sang mô hình kinh tế tập thể vững chắc, phát huy được tốt nhất các nguồn lực, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, hợp tác xã là sự gắn kết hữu cơ giữa lợi ích của nhà nông với vận mệnh dân tộc: “Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi to cho nhà nông. Nó là một cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất, để giúp vào việc xây dựng nước nhà”(6). Với quan điểm này, hợp tác xã không chỉ là một thực thể kinh tế đơn thuần, mà còn là một phương thức hiệu quả để kiến thiết quốc gia.

Về động lực xây dựng và phát triển hợp tác xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề xây dựng kinh tế tập thể đầy tính nhân văn: “Hỡi đồng bào điền chủ nông gia! Anh em ta ai chẳng mong được đầy đủ, giàu có, ai chẳng mong cho nước thịnh, dân cường”(7). Đầy đủ và giàu có, nước thịnh và dân cường vừa là khát vọng chính đáng và thiết thực của nhân dân; vừa là mục tiêu, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội chủ nghĩa mà chúng ta hướng tới.

Đặc biệt, tư duy tổ chức của Người không giới hạn mô hình hợp tác xã trong phạm vi thôn, xóm nhỏ lẻ, mang tính tự cấp, tự túc. Thay vào đó, Người nhìn nhận hợp tác xã là một mạng lưới kinh tế phủ rộng (ngày nay, chúng ta gọi là “hệ sinh thái”). Người viết: “Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi; từ làng mạc cho đến tỉnh thành, đâu đâu cũng phải có hợp tác xã”(8). Tầm nhìn về việc thiết lập hợp tác xã trên quy mô toàn quốc, từ nông thôn đến thành thị của Hồ Chí Minh thể hiện tư duy chiến lược về phát triển kinh tế tập thể, đóng góp cho công cuộc kiến thiết đất nước trong giai đoạn mới.

“Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến Miền núi và Trung du” - cuốn cẩm nang xây dựng hợp tác xã

Ngày 11-4-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến Miền núi và Trung du”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3668, ngày 14-4-1964, trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Bức thư có thể được coi là cuốn cẩm nang, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những nội dung căn bản của hợp tác xã.

 Thứ nhất, chỉ ra phương hướng chiến lược của các hợp tác xã. Phân tích những đặc thù của khu vực Miền núi và Trung du, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra phương hướng chiến lược để xây dựng các hợp tác xã, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng từ “rừng vàng” để tập trung phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị cao và đẩy mạnh chăn nuôi gia súc. Người xác định chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giảm dần diện tích lúa nương năng suất thấp để giúp nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên. Từ đây, Người đã đặt ra yêu cầu cho các hợp tác xã ở khu vực Miền núi và Trung du bám sát thực tiễn ở cơ sở, phát huy lợi thế của địa phương, kinh nghiệm của nhân dân và các nguồn lực khác cho phát triển nông nghiệp.

Thứ hai, “làm cho xã viên có tinh thần làm chủ”. Việc “làm cho xã viên có tinh thần làm chủ” là nguyên tắc vận hành, quyết định lớn đến sự tồn tại và phát triển của các hợp tác xã. Đây cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển của hợp tác xã thông qua tính tự giác và khả năng sáng tạo của người lao động. Khi xác lập được vị thế làm chủ, xã viên sẽ từ bỏ tư duy làm việc kiểu “đánh trống ghi tên” hay “cha chung không ai khóc”. Thay vào đó, họ sẽ phát huy hết phẩm chất và năng lực, tinh thần trách nhiệm, bởi họ nhận thức sâu sắc rằng: Hiệu quả sản xuất của tập thể sẽ tỷ lệ thuận với lợi ích kinh tế của cá nhân.

Thứ ba, “làm cho ban quản trị được vững vàng và có năng lực”. Yêu cầu này gắn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài. Thực tế đòi hỏi, cán bộ ban quản trị hợp tác xã phải là những người có lập trường tư tưởng kiên định, tin tưởng tuyệt đối vào con đường kinh tế tập thể; phải có đạo đức để tránh xa những cám dỗ vật chất, sa ngã vào các hành vi trục lợi cá nhân. Cán bộ ban quản trị cần có trình độ chuyên môn, có năng lực quản lý kinh tế, khả năng hạch toán kinh tế; khả năng huy động và quản trị nguồn vốn hiệu quả; có năng lực tổ chức, điều hành, phân công lao động...

Sản phẩm nước mắm truyền thống Luận Nghiệp của Hợp tác xã Thu mua và Chế biến thủy hải sản Chiến Thắng (phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh) đạt tiêu chuẩn OCOP 5 sao_Ảnh: TTXVN

Thứ tư, “phải thực hành dân chủ, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, phải đoàn kết chặt chẽ trong hợp tác xã”. Hồ Chí Minh từng khẳng định, “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(9). Dân chủ trong hợp tác xã là việc phát huy được các kinh nghiệm và sáng kiến của xã viên, bảo đảm quyền lợi của xã viên. Khi xã viên thực sự thụ hưởng quyền làm chủ, họ sẽ đóng góp tối đa trí tuệ, sáng kiến và tâm huyết cho tập thể. Dân chủ chính là phương thuốc đặc trị bệnh tham ô (lấy của chung làm của riêng); lãng phí (sử dụng nguồn lực không hiệu quả); quan liêu (xa rời thực tế, xa rời xã viên, quản lý bằng mệnh lệnh, giấy tờ) - những căn bệnh có nguy cơ cao và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt, trong kinh tế tập thể, đoàn kết chính là cơ sở tạo ra sự đồng thuận để hiện thực hóa những mục tiêu của hợp tác xã; thiếu đoàn kết thì việc “hợp vốn, hợp sức” chỉ còn mang tính hình thức.

Thứ năm, “làm tốt công tác cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật”. Trong tư tưởng về kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc “làm tốt công tác cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật” chính là lộ trình tất yếu để chuyển đổi nền sản xuất từ lạc hậu, manh mún sang mô hình nông nghiệp tiến bộ, hiện đại. Cải tiến quản lý nhằm điều tiết mọi hoạt động của hợp tác xã hiệu quả hơn. Cải tiến quản lý kỹ thuật nhằm giải phóng sức lao động và nâng cao năng suất, bắt đầu từ những việc thiết thực, như: thâm canh, làm thủy lợi, thay đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao. Mục tiêu cốt lõi của cải tiến quản lý và kỹ thuật là thực hiện triết lý “khó nhọc ít mà ích lợi nhiều”.

 Thứ sáu, “không ngừng nâng cao trình độ chính trị và văn hóa cho cán bộ và xã viên”. Quan điểm “không ngừng nâng cao trình độ chính trị và văn hóa cho cán bộ và xã viên” của Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn nhân văn và chiến lược bền vững. Đối với Người, phát triển kinh tế không bao giờ tách rời việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nâng cao trình độ chính trị là việc bồi đắp bản lĩnh, đạo đức cách mạng và ý thức làm chủ của người lao động. Đối với người cán bộ, đó là tinh thần chí công vô tư, là bản lĩnh để không sa ngã trước cám dỗ; đối với xã viên, đó là nhận thức về lợi ích chung và niềm tin để gắn bó lâu dài với tập thể. Nâng cao trình độ văn hóa là nền tảng tri thức để tiếp thu khoa học kỹ thuật và phương thức quản lý mới.

Hợp tác để cùng mạnh, làm chủ để cùng giàu, đổi mới để cùng phát triển

Từ hai bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thể thấy một thông điệp cốt lõi, xuyên suốt: Muốn hợp tác xã phát triển bền vững thì phải lấy xã viên làm chủ thể, lấy lợi ích thiết thực làm động lực, lấy hợp tác tự nguyện và dân chủ làm phương thức, lấy quản trị tốt và đổi mới liên tục làm điều kiện bảo đảm. Nói ngắn gọn hơn, đó là: Hợp tác để cùng mạnh, làm chủ để cùng giàu, đổi mới để cùng phát triển. Ngày nay, tinh thần “hợp vốn, hợp sức” cần được nâng lên thành “hợp vốn, hợp sức, hợp trí tuệ, hợp công nghệ và hợp thị trường”.

Trong những năm qua, chúng ta đã đổi mới nhận thức và mô hình hợp tác xã từ chỗ nặng hình thức, thiên về phong trào, trông chờ hỗ trợ, sang phù hợp với cơ chế thị trường và nhu cầu thành viên. Học theo lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là phải xuất phát từ nhu cầu thật, lợi ích thật, hiệu quả thật. Hợp tác xã không tồn tại như một “chiếc vỏ” hành chính, mà phải là tổ chức kinh tế thật sự của các thành viên, cung cấp dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ, thông tin thị trường và hỗ trợ giảm rủi ro. Hợp tác xã phải cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, bằng năng lực tổ chức sản xuất và bằng khả năng mở thị trường cho xã viên, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính. Mỗi hợp tác xã cần xác định rõ sản phẩm chủ lực, khách hàng mục tiêu, vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng và hướng phát triển xanh, bền vững, thích ứng với điều kiện tự nhiên của địa phương. Mô hình OCOP “Mỗi làng một sản phẩm” là một ví dụ thành công điển hình.

Để khắc phục tình trạng quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp và hiệu quả hoạt động chưa cao, cần vượt qua tư duy “mạnh ai nấy làm”. Tinh thần “đâu đâu cũng phải có hợp tác xã” hôm nay cần được hiểu là xây dựng một “hệ sinh thái” hợp tác rộng khắp, chứ không phải nhân lên những hợp tác xã nhỏ, yếu và rời rạc. Một hợp tác xã đơn lẻ rất khó đàm phán với doanh nghiệp lớn, khó đầu tư chế biến, logistics hay xây dựng thương hiệu. Vì vậy, phải thúc đẩy liên minh hợp tác xã, tổ hợp tác vệ tinh; xây dựng liên kết ngang giữa các hợp tác xã cùng ngành hàng và liên kết dọc với doanh nghiệp chế biến, phân phối. Hợp tác xã phải đứng ở trung tâm của chuỗi giá trị, kết nối nông dân với doanh nghiệp, ngân hàng, nhà khoa học và Nhà nước. Chỉ khi đi vào chuỗi giá trị hoàn chỉnh, hợp tác xã mới nâng được giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh.

Giải quyết bài toán vốn của hợp tác xã cũng phải trở về đúng tinh thần “hợp vốn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu vốn hiện nay không chỉ có nguyên nhân là thiếu tiền, mà còn là thiếu niềm tin, thiếu minh bạch và thiếu phương án kinh doanh đủ sức thuyết phục tổ chức tín dụng. Muốn tiếp cận được tín dụng và nguồn lực phát triển, hợp tác xã phải xây dựng được sổ sách kế toán chuẩn, báo cáo tài chính minh bạch, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, quản trị dòng tiền chặt chẽ và cơ chế phân phối lợi ích rõ ràng. Bên cạnh vốn góp của thành viên, cần mở rộng các nguồn lực khác, như từ quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, quỹ bảo lãnh tín dụng, vốn liên kết từ doanh nghiệp theo hợp đồng bao tiêu, nguồn hỗ trợ để đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, máy móc và bảo quản sau thu hoạch. Sự hỗ trợ của Nhà nước là rất cần, nhưng phải theo hướng khơi thông và dẫn dắt, chứ không thay thế nội lực của hợp tác xã.

Điểm nghẽn lớn khác của hợp tác xã là năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Bức thư năm 1964 của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải “làm cho ban quản trị được vững vàng và có năng lực”, là lời nhắc nhở còn nguyên tính thời sự. Một hợp tác xã không thể vận hành hiệu quả nếu ban quản trị chỉ có nhiệt tình, mà thiếu kiến thức về tài chính, pháp lý, marketing, quản lý rủi ro và công nghệ. Vì vậy, phải chuyên nghiệp hóa bộ máy quản trị: Lựa chọn đúng người, đào tạo thường xuyên, gắn trách nhiệm với kết quả, mạnh dạn trẻ hóa đội ngũ, thu hút trí thức trẻ, kỹ sư, kế toán, cán bộ thương mại điện tử, cán bộ thị trường tham gia vào hợp tác xã. Điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ chính trị và văn hóa hôm nay cũng cần được hiểu rộng hơn: Đó còn là nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng số, kỹ năng quản trị và văn hóa hợp tác cho cả cán bộ lẫn xã viên. Nói cách khác, xây dựng hợp tác xã mạnh không chỉ là xây dựng vốn và cơ sở vật chất, mà trước hết là xây dựng con người.

Cùng với quản trị, phải coi liên kết chuỗi giá trị, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ là mệnh lệnh phát triển. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong bức thư là “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật”, ngày nay chính là số hóa dữ liệu, cơ giới hóa sản xuất, áp dụng giống mới, quy trình canh tác thông minh, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, dự báo thị trường và quản trị minh bạch bằng công nghệ. Chuyển đổi số để bán hàng nhanh hơn, để hợp tác xã quản lý thành viên tốt hơn, minh bạch tài chính hơn và dân chủ hơn. Khi xã viên có thể theo dõi kế hoạch sản xuất, giá bán, doanh thu, chi phí, lợi nhuận và phân phối thu nhập một cách rõ ràng, thì tinh thần làm chủ sẽ được củng cố. Khi hợp tác xã biết dùng dữ liệu để quyết định sản xuất, biết liên kết nền tảng số để quảng bá, tiêu thụ, biết đầu tư công nghệ bảo quản, chế biến, thì liên kết chuỗi sẽ bền hơn và rủi ro thị trường sẽ giảm hơn. Công nghệ, vì vậy, không chỉ là công cụ tăng năng suất, mà còn là công cụ củng cố dân chủ và niềm tin trong hợp tác xã.

Sâu xa và cốt lõi vẫn là phải làm cho xã viên có tinh thần làm chủ. Đây là hạt nhân trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác xã. Một hợp tác xã có thể có nhà xưởng, máy móc, dự án, nhưng nếu xã viên không được biết, không được bàn, không được giám sát và không được hưởng lợi công bằng, thì hợp tác xã ấy khó bền vững. Dân chủ trong hợp tác xã phải được thể hiện qua điều lệ rõ ràng, đại hội thành viên thực chất, công khai tài chính định kỳ, cơ chế phản biện và giám sát hiệu quả, phân phối lợi ích công bằng theo mức độ đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ, không cào bằng, không hình thức. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong hợp tác xã vừa là yêu cầu đạo đức, vừa là điều kiện để giữ niềm tin. Bởi niềm tin chính là thứ vốn quý nhất của kinh tế hợp tác.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã là sự kết tinh giữa triết lý nhân văn sâu sắc và tư duy kinh tế tiến bộ, hiện đại, lấy lợi ích của nhân dân làm động lực phát triển bền vững. Học tập nội dung hai bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi hợp tác xã hôm nay cần tự hỏi: Mình đã thật sự lấy xã viên làm trung tâm chưa; đã hoạt động theo nhu cầu thị trường chưa; đã minh bạch, dân chủ, có năng lực quản trị chưa; đã liên kết chuỗi giá trị, huy động vốn, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ đủ mạnh chưa? Trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta sẽ khắc phục được những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của hợp tác xã. Và khi hợp tác xã thực sự giúp xã viên tăng thu nhập, giảm chi phí, giảm rủi ro, mở rộng cơ hội sản xuất, kinh doanh, thì tinh thần của hai bức thư sẽ được phát huy trọn vẹn nhất: Nông dân giàu lên, nông nghiệp thịnh vượng hơn, đất nước phát triển bền vững hơn./.

----------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 246
(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 246
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 325


Theo tapchicongsan.vn
Bình luận

Các tin khác