Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - Giá trị vận dụng trong thời đại mới
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, trên tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững(1).
Những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Thứ nhất, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong hoạt động đối ngoại với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là một nội dung cốt lõi, xuyên suốt và có ý nghĩa nguyên tắc lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, trong hoạt động đối ngoại nói riêng. Theo Người, độc lập, tự chủ trước hết là không lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào, không để bên ngoài chi phối hay can thiệp vào công việc nội bộ của dân tộc; đồng thời, đó còn là sự chủ động, năng lực tự quyết đường lối, chính sách, lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Bởi vậy, độc lập, tự chủ không chỉ là một yêu cầu về chính trị, mà còn là biểu hiện tập trung của bản lĩnh dân tộc và năng lực tự quyết của một quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(2).

Từ quan điểm chỉ đạo đó có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập trong đối ngoại không chỉ dừng lại ở sự khẳng định chủ quyền quốc gia, mà phải được bảo đảm bằng thực lực tự thân của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực cơ bản. Chính vì vậy, trong Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm độc lập 2-9-1948, Người nhấn mạnh: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”(3). Luận điểm này thể hiện tư duy nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính toàn diện, thực chất của nền độc lập: độc lập phải được thể hiện trên tất cả các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế và đối ngoại, nếu không đó chỉ là hình thức bề ngoài, không bảo đảm được quyền tự quyết chân chính của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem độc lập, tự chủ gắn bó hữu cơ với tự lực, tự cường. Độc lập không thể được giữ vững nếu dân tộc không dựa vào sức mình là chính. Trong hoạt động đối ngoại, điều này đòi hỏi phải xuất phát từ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, giữ vững quyền tự quyết về đường lối, đồng thời chủ động, linh hoạt về sách lược, tránh rơi vào tình trạng giáo điều, rập khuôn, hoặc lệ thuộc, theo đuôi các lực lượng bên ngoài. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ hoàn toàn không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập hay tự cô lập mình khỏi thế giới. Trái lại, đó là nền tảng để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đoàn kết và hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính như một nguyên tắc có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Người nhấn mạnh tinh thần: “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(4), coi đây không chỉ là phương châm hành động cách mạng, mà còn là sự kết tinh tư duy chiến lược về con đường giành và giữ độc lập của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải một cách cô đọng nhưng rất sâu sắc khi Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực… Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(5). Sức mạnh nội lực là cơ sở quan trọng để bảo đảm tiếp nhận ngoại lực đạt hiệu quả cao nhất: “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(6). Ở đây, tư tưởng tự lực, tự cường không hàm ý phủ nhận vai trò của đoàn kết quốc tế hay sự hỗ trợ từ bên ngoài, mà nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở phát huy cao nhất nội lực dân tộc thì việc tranh thủ ngoại lực mới có thể đạt hiệu quả thực chất, bền vững và phục vụ lợi ích của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(7). Tinh thần ấy tiếp tục được Người khái quát thành yêu cầu đối với mỗi người dân trong xã hội: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”(8). Qua đó cho thấy, tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu ở tầm quốc gia, mà còn phải trở thành ý thức chính trị, phẩm chất tinh thần và động lực hành động của mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là cơ sở phát triển phương châm đối ngoại “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, lấy cái không thay đổi ứng phó với muôn vàn thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt mục tiêu, lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết, mọi chủ trương, đường lối và hoạt động đối ngoại đều bám sát và phục vụ mục tiêu cao nhất của cách mạng. Vì vậy, lấy mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích căn bản của dân tộc làm cái bất biến để linh hoạt ứng xử trước những biến chuyển mau lẹ, phức tạp của tình hình khu vực và thế giới.
Thứ hai, luôn có tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, kiên quyết đấu tranh chống chiến tranh xâm lược.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình không chỉ là khát vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam, mà còn là giá trị phổ quát của nhân loại tiến bộ. Xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và từ lập trường cách mạng triệt để, Người luôn đề cao tinh thần hòa hiếu, chủ trương mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ. Người đưa ra nguyên tắc và phương châm chính sách đối ngoại của Việt Nam: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(9). Đây là một tuyên bố mang tính nguyên tắc, thể hiện tư duy đối ngoại rộng mở, nhân văn và nhất quán của Người trong việc xây dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với lập trường kiên quyết chống chiến tranh xâm lược và mọi hình thức áp bức, bất công. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”(10); “Bảo vệ hòa bình tức là chống chiến tranh”(11). Ở đây, hòa bình là kết quả của quá trình đấu tranh kiên định vì chính nghĩa, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự”(12); “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”(13).
Từ mục tiêu chiến lược mang tính “bất biến” là độc lập dân tộc gắn liền với hòa bình, hữu nghị và hợp tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống sách lược đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và từng đối tượng cụ thể. Trên cơ sở giương cao ngọn cờ chính nghĩa, Người chủ trương thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, từng bước phân hóa đối phương, tranh thủ tối đa lực lượng trung gian, cô lập các thế lực hiếu chiến, qua đó tạo lập tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng. Cách tiếp cận này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén, mà còn phản ánh nghệ thuật đối ngoại đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc và sách lược, giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt phương pháp, nhằm tranh thủ thời cơ, tích lũy lực lượng và đưa cách mạng từng bước đi tới thắng lợi.
Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong hoạt động đối ngoại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ hữu cơ với cách mạng thế giới, coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nguyên tắc chiến lược nhằm tạo dựng động lực tổng hợp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và phát triển đất nước. Theo đó, sức mạnh dân tộc cần được phát huy đồng thời với việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, nhất là sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại.
Trong hoạt động đối ngoại, sự kết hợp này được thể hiện ở việc gắn kết chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và trách nhiệm quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả tổng thể của công tác đối ngoại. Đối ngoại không chỉ nhằm bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ. Đồng thời, cần triển khai đồng bộ các hình thức và mặt trận đấu tranh, kết hợp linh hoạt giữa kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao, trong đó quán triệt phương châm “vừa đánh, vừa đàm” trong những hoàn cảnh cụ thể.
Tinh thần xuyên suốt là kiên định nguyên tắc “dựa vào sức mình là chính”, song không tách rời việc chủ động, tích cực tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, các nước anh em và các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới, qua đó tạo nên thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.
Thứ tư, coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời luôn xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới. Người khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam là hòa bình, hữu nghị, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của nước Việt Nam: “1- Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. 2- Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”(14).
Những quan điểm trên cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối đối ngoại. Đó là đường lối đối ngoại kết hợp chặt chẽ giữa việc kiên định độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế; đồng thời bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng ấy tiếp tục là “kim chỉ nam” để Việt Nam phát triển quan hệ đối ngoại toàn diện, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong phát triển đối ngoại kỷ nguyên mới
Một là, kiên định độc lập, tự chủ chiến lược.
Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại, không chỉ đánh dấu chặng đường 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mà còn mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới(15). Vì vậy, công tác đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” cùng với quốc phòng - an ninh, đồng thời là một trụ cột chiến lược trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là sự phát triển về tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước, thể hiện sự nhạy bén, chủ động thích ứng trước yêu cầu mới. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội…”(16).

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cho thấy thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đất nước, công tác đối ngoại đã đóng góp quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ quốc tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại, tăng cường khoa học - công nghệ, qua đó góp phần thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu đứng trước nguy cơ đứt gãy, yêu cầu tăng cường gắn kết và hợp tác quốc tế trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao hơn nữa vai trò của đối ngoại, coi đối ngoại không chỉ là công cụ giữ vững hòa bình, ổn định, mà còn phải đi trước một bước, chủ động mở đường, kiến tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước, nhất là trong các lĩnh vực then chốt như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Đối ngoại không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn cần được phát huy như một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối ngoại đóng vai trò là cầu nối quan hệ, mặt trận ngoại giao, là kênh quan trọng kích hoạt các dòng chảy đầu tư, thương mại, công nghệ, tri thức và nhân lực chất lượng cao vào Việt Nam. Bởi vậy, mỗi mối quan hệ đối ngoại, mỗi khuôn khổ hợp tác, mỗi đối tác chiến lược không chỉ mang ý nghĩa chính trị - ngoại giao, mà cần được chuyển hóa thành nguồn lực cụ thể cho phát triển, phục vụ tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, nâng cao năng lực nội sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, đồng thời mở ra những cơ hội thiết thực cho doanh nghiệp, địa phương và người dân.
Đường lối đối ngoại của Đại hội XIV là sự kết tinh và phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng, được đặt trong tổng thể đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đường lối đó vừa kế thừa truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân nghĩa, kiên cường của dân tộc; vừa được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đồng thời tiếp nối những nội dung cốt lõi, xuyên suốt đã được hình thành và phát triển qua các kỳ Đại hội trước. Đường lối đó phản ánh sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cùng thế và lực mới của đất nước sau 40 năm đổi mới. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV tiếp tục có những bổ sung, phát triển mới về tư duy đối ngoại theo hướng thực chất, chủ động và đột phá hơn, nhằm thích ứng với những biến động lớn, nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thực tiễn cho thấy, khi đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại của Việt Nam. Giá trị bền vững đó được thể hiện rõ trong mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và định hướng lớn về đối ngoại được xác định tại Đại hội XIV của Đảng.
Về mục tiêu xuyên suốt, Đại hội XIV của Đảng khẳng định quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc; đất nước phát triển nhanh, bền vững; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”(17).
Đảng ta khẳng định nhất quán quan điểm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia, đồng thời nhấn mạnh việc tự chủ chiến lược trong đối ngoại và xử lý linh hoạt, khôn khéo các quan hệ quốc tế trong mọi tình huống. Trên cơ sở đó, Việt Nam chủ trương thiết lập và thúc đẩy quan hệ đối tác phù hợp với từng đối tượng, thực hiện nhất quán phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động tạo thế cân bằng chiến lược nhằm bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, không để rơi vào thế đối đầu, xung đột; không lệ thuộc, không chọn bên, tự chủ về chiến lược và đổi mới mô hình phát triển để nâng cao nội lực, khẳng định vị thế quốc gia. Đại hội XIV khẳng định: “kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(18).
Về định hướng, Đại hội XIV nêu rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển quan hệ đối ngoại trong kỷ nguyên mới;… là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế”(19).
Hai là, vận dụng phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là nguyên tắc bất biến trong đường lối đối ngoại của Việt Nam. Trên cơ sở đó, về sách lược, Đảng ta chủ trương chủ động, linh hoạt trong tư duy và hành động, không ngừng đổi mới toàn diện, sâu rộng trên mọi lĩnh vực, nhất là mở cửa, hội nhập quốc tế, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong điều kiện mới, bảo đảm hài hòa giữa tính kiên định về mục tiêu, nguyên tắc với sự mềm dẻo, linh hoạt trong phương thức triển khai.
Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không chọn bên mà chọn lẽ phải, công lý và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; đồng thời chủ động giữ thế cân bằng chiến lược, tránh bị cuốn vào các xung đột và cạnh tranh đối đầu giữa các nước lớn. Mục tiêu xuyên suốt là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển đất nước, đồng thời vận dụng linh hoạt các phương thức ứng xử đối ngoại để phục vụ hiệu quả mục tiêu chiến lược cao nhất là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Ba là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Đại hội XIV của Đảng xác định đối ngoại không chỉ là “lá chắn” bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn là “cánh cửa” mở ra cơ hội phát triển, tăng cường kết nối Việt Nam với thế giới, qua đó đưa đất nước hội nhập quốc tế một cách chủ động, bản lĩnh, thực chất và sâu rộng hơn trong dòng chảy toàn cầu. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng, thể hiện rõ yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với nhiệm vụ phát triển đất nước trong điều kiện mới.
Trên tinh thần đó, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh; tận dụng thời cơ, điều kiện thuận lợi từ môi trường bên ngoài để phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc từ sớm, từ xa, giữ nước khi nước chưa nguy.
Trong mối quan hệ đó, sức mạnh dân tộc là sức mạnh nội lực, là sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam - nền tảng quyết định, còn sức mạnh thời đại được thể hiện ở các xu thế lớn như hòa bình, hợp tác, phát triển, toàn cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các nguồn lực quốc tế có thể tranh thủ cho phát triển. Sự kết hợp chặt chẽ hai nguồn sức mạnh đó trong hoạt động đối ngoại là điều kiện quan trọng để xây dựng đất nước cường thịnh, văn minh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền trong thời kỳ mới.
Bốn là, nâng cao vai trò đối ngoại.
Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao vai trò của đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần phát huy mạnh mẽ ngoại giao tâm công, đề cao giá trị nhân văn, hòa hiếu trong hoạt động đối ngoại; đồng thời chú trọng hơn nữa đối ngoại nhân dân, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa Việt Nam, qua đó phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc, tạo dựng sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp phát triển đất nước.
Kế thừa tinh thần “làm bạn với tất cả các nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội XIV khẳng định Việt Nam không chỉ chủ động, tích cực tham gia vào các tiến trình hợp tác quốc tế, mà còn đóng góp ngày càng trách nhiệm, thực chất và hiệu quả hơn vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững của khu vực và thế giới. Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”(20). Điều đó cũng phản ánh yêu cầu nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, từng bước phát huy vai trò nòng cốt, đóng góp dẫn dắt tại các cơ chế đa phương quan trọng, nhất là trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc và các diễn đàn quốc tế khác.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định cùng với việc “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng”(21) thì “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(22). Theo đó, đẩy mạnh “triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả ba trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(23) trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác thuận lợi cho phát triển đất nước; đưa quan hệ đối ngoại vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là tài sản vô giá của Đảng và dân tộc ta, đồng thời là nền tảng tư tưởng, nguồn sức mạnh và kim chỉ nam cho việc hoạch định, triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại đòi hỏi phải được thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt, sáng suốt và đột phá, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy sự phát triển đất nước giàu mạnh, thịnh vượng, hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đồng thời giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.
------------------------
(1) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 82, 117
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 162
(3), (9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 602, 256, 39
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 596
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 147
(6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 320, 445
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 553
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 517
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 3
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 273
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 523
(15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 13, 21, 117, 83, 117, 117; 81, 82; 82, 118





