Trang bìa 2 NĂM 1944 (*)
BÁO CÁO CỦA PHÂN HỘI VIỆT NAM
THUỘC HỘI QUỐC TẾ CHỐNG XÂM LƯỢC
Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây - Trung Quốc) tháng 3-1944.
I- NGUYÊN NHÂN TỔ CHỨC
Trong lịch sử 80 năm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang.
Từ sau năm 1862, khi vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp, các bậc nghĩa sĩ giàu lòng yêu nước thương dân đã từ bỏ cả cơ nghiệp của cải, dắt díu vợ con chạy ra Trung Kỳ, thà cam chịu sống cuộc đời gian truân, vất vả của kẻ hái củi, chài lưới, chứ thề không đội trời chung với giặc Pháp.
Trong bốn mươi năm, từ 1870 đến 1910, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các bậc anh hùng hào kiệt khác, đồng bào chúng ta đã anh dũng trường kỳ chống lại quân giặc, làm cho kẻ thù ăn không ngon ngủ không yên. Suốt bốn mươi năm đó, các cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra:
1905: Nông dân Trung Kỳ khởi nghĩa.
1910: Binh lính Việt Nam khởi nghĩa tại Hà Nội.
1915: Nhân dân Phú Thọ mưu khởi nghĩa.
1916: Tháng 6 vua Duy Tân mưu khởi nghĩa!
Tháng 8 cùng năm, đồng bào thiểu số Ba Xa bạo động.
1918: Bình Liêu mưu khởi nghĩa.
1919: Quảng Nam mưu khởi nghĩa.
1923: Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát toàn quyền Méclanh.
1930: Khởi nghĩa Yên Bái.
1930-1931: Nghệ An khởi nghĩa.
Cuối năm 1940: Bắc Kỳ và Nam Kỳ khởi nghĩa.
1941: Đô Lương (Trung Kỳ) khởi nghĩa.
Những sự tích vừa oanh liệt lại vừa bi tráng nêu trên, một mặt cho chúng ta thấy rằng: đất nước Việt Nam tuy bị giày xéo dưới gót sắt đẫm máu của dị tộc, nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam vĩnh viễn không vì thế mà bị tiêu diệt, mặt khác cũng dạy chúng ta rằng: Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được, nhất là hiện nay, chúng ta đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác nhất của phương Đông và phương Tây, chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài.
Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái. Mục đích của đoàn thể ấy phải thiết thực tiêu biểu cho những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả nước: Đoàn kết toàn dân, tranh thủ ngoại viện, đánh đuổi kẻ thù, khôi phục Tổ quốc. Thái độ của đoàn thể ấy phải cao cả, ngay thẳng, mới có thể không thiên lệch, không dựa trên định kiến của một đảng phái, mới có thể được sự tin tưởng và ủng hộ của các tổ chức, các đảng phái và của toàn dân.
Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại. Phương pháp tranh thủ ngoại viện của đoàn thể này là:
- Bước thứ nhất: liên lạc với các đoàn thể anh em các nước như Phân hội Trung Quốc, Phân hội Mỹ, v.v..
- Bước thứ hai: nhờ các đoàn thể anh em giới thiệu với Chính phủ các nước.
- Bước thứ ba: với thái độ chân thành và cởi mở, yêu cầu các Chính phủ, trước hết là Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ.
Cho đến nay, về mặt đoàn kết trong nước đã có được những thành tích đáng kể, nhưng về mặt tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài thì chưa có gì.
Về phần mình - Phân hội Việt Nam trong Hội quốc tế chống xâm lược - cũng không sao tránh khỏi những điều nọ tiếng kia của một số người, chúng tôi thấy chưa cần phải thanh minh. Giờ đây, hãy cứ mặc cho gió Xuân thổi đi, trong tương lai sẽ để sự thật chứng minh là đủ.
II- HỆ THỐNG TỔ CHỨC
Tổ chức của Phân hội Việt Nam có hai loại hội viên:
- Một là hội viên cá nhân: có rất nhiều người từ trước đến nay chưa tham gia một đoàn thể nào, nay muốn tham gia công việc cứu nước. Phân hội Việt Nam sẽ tuỳ theo hoàn cảnh của họ, tập hợp những người cùng một nghề nghiệp thành một tiểu tổ và sẽ cử người phụ trách đặc biệt liên hệ với họ.
- Hai là hội viên đoàn thể: đó là những đoàn thể mà các hội viên tán thành gia nhập Phân hội.
Việc hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái (như hợp tác xã, v.v.) xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản, vì rằng:
1- Mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước.
2- Mọi người đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn.
3- Mọi người đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất.
4- Người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn.
Phân hội Việt Nam chỉ yêu cầu các hội viên của mình tuân thủ mấy điều dưới đây:
1- Trong Hội không được bàn chuyện đảng phái; ngoài hội thì hoàn toàn tự do.
2- Có vấn đề gì, mọi người cần thẳng thắn, công khai thảo luận; có công việc gì, mọi người đều đồng tâm hiệp lực cùng làm.
3- Thường ngày, mọi người không được công kích lẫn nhau; gặp khi nguy hiểm, mọi người phải ra tay giúp đỡ.
Kết quả là: giữa các đảng phái không còn tình trạng tranh chấp hơn thua, sự chân thành đoàn kết không phải chỉ ở đầu lưỡi mà trở thành sự thật.
Hệ thống tổ chức: Toàn quốc chia thành kỳ, mỗi kỳ chia thành tỉnh, huyện, tổng, xã, thôn. Nơi nào đông hội viên thì lấy thôn làm đơn vị. Nơi nào ít hội viên thì lấy tổng hoặc xã làm đơn vị.
III- CÁCH LÃNH ĐẠO
Cho đến khi tôi rời nước, tình hình vẫn thế này: Cả nước chỉ có mấy người, đủ cả Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, họ là những sáng lập viên, đồng thời cũng là uỷ viên trong Ban Chấp hành toàn quốc. Về tư cách mà nói, mỗi người một tư cách khác nhau: Một số là những người tài giỏi; một số là những bậc lão thành, có danh vọng được nhân dân tín nhiệm. Tuy vậy, họ giống nhau ở chỗ đều là những nhân sĩ thiết tha yêu nước, liêm khiết, trung thực, công tâm. (Cho nên tôi rất tin tưởng rằng, nếu có tổng tuyển cử, dân chúng nhất định sẽ bầu họ). Họ phân công, hợp tác, mỗi người gánh vác một phần trách nhiệm, không có chủ tịch. Dĩ nhiên là họ không có lương, mà ngược lại khi có tiền, họ còn phải bỏ tiền túi của mình ra cho đoàn thể dùng. Vì hoàn cảnh khó khăn, họ rất ít khi họp hội nghị toàn thể, trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ. Khi có việc, những người phụ trách kỳ bộ nào đó bàn bạc cách thức tiến hành, rồi đưa trưng cầu ý kiến những người phụ trách hai kỳ bộ kia, sau khi mọi người tán thành thì phân công nhau mà làm. Ví dụ, muốn ra một bản tuyên ngôn, các người phụ trách Bắc Kỳ dự thảo, rồi gửi dự thảo cho những người phụ trách ở Nam Kỳ, Trung Kỳ. Sau khi mọi người đồng ý, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm in lấy Tuyên ngôn mà phân phát trong phạm vi Kỳ của mình. Lúc gặp việc khẩn cấp, chẳng hạn như địch tiến hành khủng bố ở Nam Kỳ thì Kỳ bộ Nam Kỳ một mặt phát động cuộc "vận động chống khủng bố", mặt khác báo cho hai Kỳ để hưởng ứng ngay.
Mọi hành động, các địa phương phải tuân thủ những nguyên tắc và thời hạn do Trung ương quy định, còn cách thức thực hiện, họ có thể tuỳ cơ ứng biến. Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đăng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu.
IV- CÁCH TUYÊN TRUYỀN
Có tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng văn tự và tuyên truyền bằng hành động.
1- Tuyên truyền bằng miệng có hai loại: Nói chuyện với từng người và nói chuyện tập thể. Loại trước thì mỗi hội viên đều phải làm, như giải thích cho bạn bè thân thích hiểu tại sao phải đánh đuổi quân thù, phải cứu nước; có khôi phục được Tổ quốc thì mới không phải nộp thuế, khỏi bị bắt đi làm phu và mọi người mới có cơm ăn, áo mặc, v.v.. Loại sau thì khi hội viên khai hội, cán bộ giải thích các vấn đề để nâng cao sự hiểu biết cho họ, nói cho họ biết cách tuyên truyền. Khi bà con cấy cày, gặt hái hoặc làm những công việc có đông người, cán bộ địa phương hoặc những hội viên có khả năng ăn nói đến làm giúp họ, nhân dịp đó mà tuyên truyền thì sẽ có tác dụng nhanh chóng và to lớn.
2- Tuyên truyền bằng văn tự có ba loại: Truyền đơn, báo chí bí mật và biểu ngữ. Làm báo bí mật là công việc rất khó khăn vì không dễ gì kiếm được nguyên liệu. Chẳng hạn, nếu ta mua giấy nhiều quá dễ bị nghi ngờ và có thể gặp nguy hiểm. Song, nếu biết dựa vào sự sốt sắng của các hội viên, dẫu có khó khăn gì cuối cùng vẫn tìm được cách giải quyết. ở một số nơi thường hay bị địch lùng sục, chúng tôi cứ cách mấy chục dặm lại đặt một "nhà in": một phiến đá, một ít giấy mực, giấu ở những nơi thật kín đáo không ai biết. Địch đến thôn Đông, chúng tôi in báo ở thôn Đoài, chúng tới thôn Nam, chúng tôi in báo ở thôn Bắc. Chúng không thể tìm ra chúng tôi, còn chúng tôi cứ tiếp tục ra báo đúng kỳ hạn. Báo là thứ vũ khí của ta mà địch căm ghét nhất.
Viết biểu ngữ cũng là một cách tuyên truyền rất lý thú. Bờ tường, mặt đường, gốc cây, lá cây, đều là những chỗ giúp ta tuyên truyền cách mạng. Cột điện, dây điện cũng là những nơi rất tốt để căng biểu ngữ. Những nơi có sông ngòi, chúng tôi lấy tre, gỗ, nứa, chuối đóng thành bè, căng biểu ngữ lên trên rồi thả xuôi theo dòng nước.
3- Tuyên truyền bằng hành động, tức là mỗi hội viên đều phải gương mẫu trong mọi việc để tỏ cho mọi người thấy rằng có tổ chức, có đoàn thể có tốt hơn.
Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi.
Cách tuyên truyền như diễn kịch, ca hát, v.v., chúng tôi không dùng được.
V- CÁCH HUẤN LUYỆN
Trước tiên, cơ quan lãnh đạo định ra một chương trình học tập, cử một vài người hoặc vài nhóm, vừa đi thí nghiệm, vừa tranh thủ ý kiến của người học. Sau đó, việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên những đợt huấn luyện trước kết hợp với kinh nghiệm của các giảng viên.
Tư cách học viên: Tất cả cán bộ địa phương nhất thiết phải được huấn luyện. Kế đó là những hội viên ưu tú, cuối cùng là tất cả các hội viên không phân biệt già trẻ, gái trai, miễn là muốn học đều có thể tham gia.
Thời gian huấn luyện: Một hoặc hai tuần lễ.
Địa điểm huấn luyện: Hang động, núi rừng, ruộng mía, nương ngô, v.v., nơi nào bảo đảm được bí mật đều có thể là những giảng đường thiên nhiên của họ. Nhưng cũng có khi một lớp học cách một hai ngày lại phải dời đi chỗ khác.
Các bài giảng đại khái gồm:
- Vì sao phải làm cách mạng?
- Vì sao phải đoàn kết?
- Khai hội tiểu tổ như thế nào?
- Phát biểu ý kiến như thế nào?
- Tự phê bình và phê bình đồng chí như thế nào?
- Bước đầu tuyên truyền cho bè bạn như thế nào?
- Giữ bí mật như thế nào?
- Những hành động hung ác của kẻ thù.
- Tình hình thế giới (kinh nghiệm kháng chiến của Trung Quốc).
- Tình hình trong nước.
Cần khuyến khích học viên dạy cho nhau học chữ quốc ngữ.
Những vấn đề trên đều do chính các hội viên tự đưa ra yêu cầu được học tập. Cơ quan lãnh đạo chỉ cần chọn một số người có thể làm giảng viên, đưa giáo trình cho họ nghiên cứu, khi họ đã nghiên cứu thông suốt, nắm được các vấn đề rồi thì cán bộ địa phương đón họ về tổ chức các lớp.
Vấn đề ăn, ở của giảng viên đều do học viên cùng nhau giải quyết, vì thế nên không tốn kém đồng nào mà lớp huấn luyện mọc lên như nấm, cơ quan lãnh đạo có cảm giác là số giảng viên "cung không kịp với cầu".
Kết quả rõ rệt nhất của các lớp huấn luyện là tất cả hội viên không kể già trẻ đều biết giữ bí mật.
VI- TÀI CHÍNH CỦA HỘI
Phân hội Việt Nam không quy định hội viên phải đóng hội phí mà áp dụng nguyên tắc "có tiền góp tiền", "có sức góp sức". Hội viên tuỳ theo hằng tâm hằng sản của mình mà giúp đỡ kinh phí cho Hội. Lúc đầu, Hội chi phí mất khá nhiều tiền (số tiền này do các hội viên có nhiệt tâm tự nguyện đóng góp). Vì muốn đặt cơ quan ở các khu "quý tộc" của các thành phố lớn để che mắt địch, Hội đã thuê nhà tây, mua sắm đồ đạc sang trọng, trang trí rất hào nhoáng, đường hoàng. Được ít lâu, có báo động, tất cả đồ đạc phải bỏ hết! Qua vài lần kinh nghiệm quá đắt như vậy, đành phải bỏ ý định lập cơ quan cố định.
Hiện nay, trừ chi phí cho báo chí và việc đi lại ra, không còn khoản gì khác phải tiêu nhiều tiền nữa, lúc cần thiết, các hội viên đều hăng hái quyên góp, vì mọi người đều tin tưởng rằng mỗi một đồng xu họ bỏ ra đều được dùng vào công việc chung cho nước nhà, cho dân tộc, chứ không phải rơi vào túi riêng của một ai. Đủ thấy câu tục ngữ xưa "Có người ắt có của" là đúng lắm vậy.
VII - CÔNG TÁC CỦA HỘI
Đằng trước thì quân thù đàn áp, đằng sau thì dân chúng thôi thúc, theo dõi, công tác của Hội hiện nay chỉ có gian khổ, chỉ có hiểm nguy, hoàn toàn không thể cầu danh lợi, địa vị cho cá nhân, cho nên người nào muốn làm việc cho Hội thì chỉ có vùi đầu vào công việc, ra sức mà làm. Ai không thật lòng muốn làm việc cho Hội thì không thể chỉ đeo nhãn hiệu suông được. Với lại, công việc thì nhiều, phạm vi hoạt động lại rộng, người nào có công việc của người ấy, nên không có sự tranh chấp. Hơn nữa, do cùng đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, nên rất có tinh thần đoàn kết. Và vì đoàn kết chặt chẽ nên công việc dễ phát triển. Kết quả công tác, thành công tuy nhiều, song thất bại cũng không phải ít.
Thành công ở chỗ, mặc dù hai tên đế quốc hung ác nhất thi hành chính sách khủng bố dã man và giữa vòng vây của bọn mật thám Pháp, Nhật, bọn Việt gian, Hán gian, mà trong một năm rưỡi ngắn ngủi, Hội đã đoàn kết được hơn hai mươi vạn người, bao gồm các đoàn thể, các đảng phái, các cá nhân, các dân tộc mà trước đây vẫn có nhiều thành kiến với nhau. Một nước với hai mươi lăm triệu dân mà mới có hai mươi vạn người có tổ chức, nghĩa là cứ 125 người mới có một người có tổ chức, con số đó thật quá ít ỏi. Nhưng chúng tôi có thể nói là phạm vi đoàn kết này đang mở rộng, đang phát triển.
Chúng ta biết rằng, thành công đó một nửa là nhờ sự đoàn kết thành thật và sự cố gắng hoạt động của cán bộ, một nửa là nhờ ảnh hưởng của cuộc kháng chiến anh dũng của Trung Quốc. Xin cử một ví dụ thực tế: ở một địa phương nọ, khi đưa cuốn sách "Những hành động tàn bạo của Nhật Bản" (do Hội đồng quân sự Trung Quốc xuất bản) cho mọi người bí mật chuyền nhau xem, rất nhiều người, nhất là chị em phụ nữ, khi xem xong cảm động đến rơi nước mắt. Mọi người đều nói: "Bọn quỷ Nhật thật hung ác, không đập chết chúng nó thì chúng ta không sống được". Sau đó, nhiều người cả nam lẫn nữ đều gia nhập tổ chức.
Thất bại ở chỗ:
1- Rất nhiều cán bộ tốt, vì làm việc quá nhiều, bồi dưỡng không đủ nên sinh đau ốm, có khi ốm đến chết (đó là sự đau lòng khó tránh khỏi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật).
2- Có nơi vì thiếu kinh nghiệm, lộ bí mật để cơ quan bị vỡ và nhiều đồng chí bị bắt, bị giết.
3- Vì giao thông liên lạc không thuận tiện, cơ quan cấp trên không kịp thời giải quyết những vấn đề khó khăn, do đó đưa đến thất bại.
4- Thiếu sự tuyên truyền đối ngoại: Một là vì mới thành lập, phải hoàn toàn giữ bí mật; hai là thiếu nhân tài ngoại giao; ba là lần đầu tiên đi làm ngoại giao, cử ba người thì hai người giữa đường hy sinh, còn lại một người nhờ được Trung Quốc chăm nom hết sức chu đáo, nhưng đã một năm rưỡi vẫn chưa thấy trở về.
Về điểm này, Trung Quốc cũng cho chúng ta một bài học quý báu, rằng nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao, giả dụ như Trung Quốc nếu không có mấy năm kháng chiến kiên quyết và gian khổ, thì chớ mong gì có thể xoá bỏ được các điều ước bất bình đẳng, và các nước đồng minh cũng chẳng giúp đỡ gì Trung Quốc.
Tuy vậy, về phần chúng tôi, lúc nào cũng tin tưởng vững chắc ở đạo đức truyền thống của Trung Quốc là "bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ người nguy, cứu kẻ sắp chết" và tin tưởng vào quốc sách của Trung Quốc là "Liên hiệp các dân tộc nhược tiểu trên thế giới để cùng nhau phấn đấu". Vì thế, chúng tôi cho rằng: lần này "thất bại là mẹ thành công", chúng tôi quyết không ngã lòng.
VIII. MẤY VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN
Dân chúng thường cho rằng: Đoàn thể là thần thông quảng đại, là tài giỏi việc gì cũng làm được, do đó từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều nhờ đến đoàn thể. Anh A và anh B cãi lộn nhau, họ cũng tìm đến đoàn thể nhờ phân xử phải trái. Anh X và anh Y tranh giành nhau gia tài cũng đến nhờ đoàn thể giải quyết, v.v.. Nhưng câu hỏi khó trả lời nhất là:
"Đoàn thể tổ chức chúng tôi lại cốt để đánh giặc Nhật, giặc Pháp. Hiện nay tổ chức xong rồi, thế bao giờ thì đánh?".
"Đoàn thể nói với chúng tôi rằng: Trung Quốc nhất định sẽ giúp chúng ta đánh đuổi quân thù, vậy đến bao giờ họ mới giúp?".
IX. HY VỌNG CỦA CHÚNG TÔI
Đồng bào chúng ta đã đau khổ đến tột bực rồi. Dân chúng trong nước chỉ có một yêu cầu là đánh đuổi quân thù, khôi phục Tổ quốc.
Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ, đúng như Tưởng Trung Chính1) tiên sinh đã nói: "Không phát động được quốc dân đứng lên phấn đấu thì không thể rửa nhục, tự cường được".
Tình hình thế giới đang rất có lợi cho chúng ta, cho nên tôi hy vọng rằng: Đồng minh hội, sau Hội nghị này có thể thực sự chấn chỉnh lại nội bộ, thực sự đoàn kết được các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, thực sự kết hợp thành một khối với các lực lượng cách mạng ở trong nước, nhằm thực hiện cho được như lời của Tưởng tiên sinh: "Hoạt động thực tế trong nước lấy hội, đảng làm đầu, viện trợ của bên ngoài lấy kiều bào làm chính".
Tôi hy vọng rằng phạm vi giúp đỡ của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam ngày càng thiết thực, ngày càng mở rộng hơn. Được như thế, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.3, tr.451-461.
___________
(*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.
1) Tức Tưởng Giới Thạch (N.D).
BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH
CÁC ĐẢNG PHÁI TRONG NƯỚC
Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây Trung Quốc) tháng 3-1944.
Vì chúng ta muốn các đảng phái, các đoàn thể trong nước tham gia Đồng minh hội, nên tôi xin báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước như sau:
1- Có người nói: ở Việt Nam có quá nhiều đảng phái. Lại có người nói: ở Việt Nam chẳng có đảng phái nào. Dù điều họ nói đúng hay không đúng, đều làm cho những người hoạt động ở trong nước phấn khởi, vì điều đó chứng tỏ rằng ở trong nước chúng tôi đã giữ được bí mật, cần biết rằng: Quân thù không sợ cái gì, chỉ sợ nhân dân Việt Nam đoàn kết. Điều luật đầu tiên của chúng là ngăn cấm không cho dân chúng lập ra đảng phái, vì đó là vũ khí tổ chức duy nhất.
2- Có người cho rằng đảng phái ở Việt Nam quá nhiều, đó là một ấn tượng không tốt. Kỳ thực không phải như thế. Tại sao vậy? Chúng ta mất nước đã hơn tám mươi năm, kẻ thù của chúng ta là hai tên cướp hung ác ở phương Đông và phương Tây, chúng dùng nọc độc thuốc phiện, giáo dục nô lệ, chính sách trường kỳ khủng bố và nhiều chính sách thâm độc khác, hòng làm tê liệt sự hiểu biết của chúng ta, hòng tiêu diệt tinh thần dân tộc và đè bẹp nghị lực đề kháng của chúng ta. Các đảng phái ở Việt Nam, trừ các đảng phái thân Nhật, thân Pháp mới được đẻ ra gần đây, đều ra đời và trưởng thành trong hoàn cảnh muôn vàn gian khổ. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết của nhân dân Việt Nam đã không bị kẻ thù làm tê liệt mà vẫn tiến theo kịp trào lưu của thế giới. Tinh thần dân tộc và nghị lực đề kháng của nhân dân Việt Nam không hề bị tiêu diệt.
3- Ở trong nước, không chỉ các chính đảng, mà cả các đoàn thể không đảng phái, thậm chí các hình thức tổ chức như các tổ tương trợ, v.v. cũng phải hết sức giữ bí mật mới không bị phá hoại và mới có thể tồn tại được. Do đó, không những người ở nước ngoài mà ngay người ở trong nước cũng ít biết được về tình hình các đảng phái.
Theo tôi được biết, những chính đảng cũ và ít nhiều có thế lực, cả thảy có sáu đảng: Đảng Xã hội (thành lập tám năm nay); Việt Nam Quốc dân đảng (thành lập mười tám năm nay); Việt Nam Tân Quốc dân đảng (thành lập mười ba năm nay); Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập mười bốn năm nay); Đảng Lập hiến (thành lập hai mươi năm nay); Đảng Bảo hoàng (thành lập khoảng mười năm nay).
Những đoàn thể không đảng phái, có: Đoàn thanh niên phản đế; Hội phụ nữ giải phóng; Hội công nhân; Hội nông dân (Hiện nay các đoàn thể trên có thêm hai chữ "Cứu quốc", và Việt Nam độc lập đồng minh.
Hiện nay, họ đều liên hiệp thành một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội quốc tế chống xâm lược.
4- Trong những chính đảng kể trên, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên nhân rất đơn giản. Quân thù mong muốn nước ngoài đồng tình với chính sách khủng bố của chúng, nên chúng quy tất cả các phong trào chống đối ở trong nước, thậm chí cả những hành vi bỉ ổi như phá nhà, cướp của đều đổ tội cho Đảng Cộng sản.
Có một nhà văn Pháp viết một vở kịch, nhan đề là "Hạnh phúc gia đình". Vai chính trong vở kịch là một cặp vợ chồng mới cưới, cô dâu bị bệnh đau đầu, cô ả khăng khăng cho rằng mình bị cộng sản bỏ thuốc độc; và những chuyện như mèo nhảy làm vỡ đĩa bát trong bếp đến chuyện nướng bánh không chín, nấu súp không ngon, cô ả cũng đổ tội cho cộng sản cả. Qua đó đủ thấy tâm địa của kẻ thù và phản ứng ở nước ngoài là thế nào rồi! Có kẻ cho rằng ở Việt Nam, đâu đâu cũng là cộng sản, tất cả các đoàn thể, các tổ chức đều là cộng sản trá hình, tất cả mọi hành động đều do cộng sản ba đầu sáu tay chỉ huy!
5- Người Việt Nam có sợ cộng sản không ? Không. Cả nước Việt Nam chúng ta, không có một nhà băng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn. Tài sản của chúng ta, một lần đã bị "cộng" cho giặc Pháp, một lần bị "cộng" cho giặc Nhật, còn có cái gì để mà "cộng" nữa?
Người có học thức lại càng không sợ. Năm 1789, do cuộc Đại cách mạng Pháp mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp Âu châu. Năm 1917, do cuộc cách mạng Nga mà tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng. Huống hồ, "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", "mọi người đều bình đẳng về kinh tế", "cần phải làm cho đời sống và sự sinh tồn của mỗi người dân được bảo đảm", đó là những tư tưởng từ thiện, tương thân tương ái, nhân dân ấm no, thế giới đại đồng.
6- Trước đây, các đảng phái thường công kích lẫn nhau trên báo chí. A nói A phải, B nói B tốt, cốt để tranh giành quần chúng. Bây giờ họ rất đoàn kết với nhau, vì:
a- Mọi người đều hiểu, đã là dân mất nước thì đảng phái gì, chủ nghĩa gì cũng vô dụng; đồng thời mọi người đều có chung một mục đích là: Cứu nước, cứu dân tộc.
b- Kẻ địch đều coi chúng ta là kẻ thù. Chẳng may bị chúng nó bắt được thì dù thuộc đảng phái nào, không bị cầm tù cũng bị chặt đầu. Ví dụ, hồi Nam Kỳ khởi nghĩa, người Đảng Lập hiến, người Đảng Cộng sản hay người Việt Nam Quốc dân đảng cũng đều cùng nhau tranh đấu và cùng nhau hy sinh.
c- Ngoài công việc cứu nước ra thì lý luận gì, công tác gì, cũng không được nhân dân ủng hộ.
d- Mọi người đều phải theo trào lưu cách mạng thế giới: Nước Trung Quốc tam dân chủ nghĩa, nước Anh đế quốc chủ nghĩa, nước Nga Xôviết cộng sản chủ nghĩa, nước Mỹ tư bản chủ nghĩa đều có thể hợp tác với nhau để chiến thắng quân thù. Các đảng phái ở Trung Quốc đều tập hợp chung quanh Quốc dân đảng Trung Quốc để chống Nhật cứu nước. Nước Pháp tự do có Đảng Cộng sản Pháp tham gia; nước Đức tự do có Đảng Cộng sản Đức tham gia, cùng nhau ra sức cứu Tổ quốc, cứu đồng bào. Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cũng không thể đi ngược dòng lịch sử được.
Hiện nay ở trong nước không cần nêu khẩu hiệu "Đoàn kết các đảng phái", vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.3, tr.462-465.
CHIẾN THUẬT DU KÍCH
(Trích)
CÁCH ĐÁNH DU KÍCH1)
CHƯƠNG I
DU KÍCH LÀ GÌ
Du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng. Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc. Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi. Muốn đánh du kích cho thắng lợi cần bốn điều:
1. Phải có con đường chính trị đúng.
Con đường chính trị chúng ta là đánh Tây - Nhật làm cho nước ta độc lập. Muốn thắng Tây - Nhật chúng ta phải dùng lối du kích và dùng lối du kích là cốt để đánh Tây - Nhật. Muốn đánh Tây - Nhật mà không dùng lối du kích thì không đánh được Tây - Nhật và mượn tiếng du kích không để đánh Tây - Nhật, mà lại để theo đuổi mục đích khác là không chính đáng.
2. Phải dựa trên cơ sở quần chúng.
Muốn đánh du kích cần phải có dân chúng tham gia và giúp sức. "Du kích như cá, dân chúng như nước. Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân chúng thì du kích chết". Quân du kích và dân chúng phải mật thiết liên lạc với nhau là vì quân du kích đánh Tây - Nhật để bảo hộ dân chúng, vậy dân chúng phải hết sức ủng hộ quân du kích.
3. Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật.
Quân du kích nếu không có tổ chức thì không phải một đội quân cách mạng, không thể đánh được Tây - Nhật. Quân du kích cần phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật, kỷ luật phải nghiêm như sắt, bao nhiêu hành động của quân du kích đều phải theo kỷ luật ấy, không ai được làm trái.
4. Phải có một lối đánh rất tài giỏi.
Quân du kích thắng được kẻ thù chính nhờ lối đánh tài giỏi này. Quân du kích là đội quân thiên biến vạn hoá, xuất quỷ nhập thần, khéo dùng lối này thì trăm trận trăm được.
CHƯƠNG II
TỔ CHỨC ĐỘI DU KÍCH
1. Tiểu tổ du kích. Từ 2, 3 người cho tới 2, 3 chục người có thể tổ chức thành tiểu tổ du kích do tổ trưởng chỉ huy (nếu cần phải có phó tổ trưởng). Có nhiều tiểu tổ thì lập ban chỉ huy chung.
Tiểu tổ du kích không thoát ly sinh sản (nghĩa là không bỏ việc làm ăn). Có việc thì họp nhau hành động; không có việc thì cứ làm ăn như thường. Vũ trang của tiểu tổ du kích thì tuỳ hoàn cảnh, xoay được thứ gì dùng thứ ấy, súng, dao, gậy đều được.
2. Chi đội. Chi đội du kích là một đội du kích có vũ trang, hoàn toàn hay không hoàn toàn thoát ly sinh sản2). Số người của một chi đội không nhất định từ mấy chục người đến mấy trăm, đến mấy nghìn người. Chi đội du kích có thể lấy tên gì cũng được: như đội quân cứu quốc Phan Bội Châu, đội quân du kích Phan Chu Trinh, hay đội quân du kích người Mán trắng, đội quân cứu quốc Bắc Sơn, v.v..
Cách biên chế (biên chế là hệ thống tổ chức từ dưới lên trên) của chi đội du kích do tiểu đội lên trung đội3), trung đội lên đại đội, đại đội lên chi đội, theo lối tam tam chế, tứ tứ chế hay ngũ ngũ chế (nghĩa là ba hay bốn, năm tiểu đội lên trung đội, rồi cứ thế lên mãi).
3. Tư cách đội viên du kích. Ai là dân Việt Nam khoẻ mạnh, muốn đánh Tây - Nhật, không sợ khó nhọc, nguy hiểm đều có thể thành một đội viên du kích. Nên chú ý những người nhanh nhẹn, dũng cảm có kinh nghiệm đánh giặc chút ít, nhất là những người đã đi lính.
4. Cơ quan chỉ huy. Tiểu tổ du kích có chánh phó tổ trưởng, tiểu đội có tiểu chánh phó đội trưởng, trung đội có trung chánh phó đội trưởng, đại đội có đại chánh phó đội trưởng, chi đội có chi chánh phó đội trưởng. Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm.
Chi đội có đông người thì có thể tổ chức những ban đặc biệt phụ trách việc trinh thám, việc quản lý, việc phá hoại, hay về mặt chính trị thì có ban dạy chữ, giảng báo, vận động dân chúng, vận động binh lính đế quốc, v.v..
CHƯƠNG III
NGUYÊN TẮC CỦA CÁCH ĐÁNH DU KÍCH
Đánh du kích cần chú ý 4 nguyên tắc chính này:
1. Giữ quyền chủ động. Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù4), muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được. Nếu nó mạnh quá đánh không có lợi thì mình lùi, mình tự ý lùi cũng là giữ quyền chủ động, giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ. Trái lại, nếu mình không giữ được quyền chủ động mà lại ở vào địa vị bị động, để cho quân thù sử khiến mình dễ bị thất bại.
2. Hết sức nhanh chóng. Đánh du kích cần nhanh chóng. Chậm chạp thì không đánh được du kích. Bất kỳ lúc nào, lúc hành quân, lúc tiến công, hay lúc rút lui, một cử động nào của đội du kích cần nhanh chóng mới được. Đội du kích phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi.
3. Bao giờ cũng giữ thế công. Giữ thế công là mình tiến đánh quân thù trước. Du kích phải giữ quyền chủ động chính để giữ thế công. Giữ thế công mới đánh được giặc, không đánh được trận to thì đánh trận nhỏ, làm tiêu hao giặc ít nào hay ít ấy. Du kích mà chỉ phòng thủ thì thế nào cũng thất bại.
4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo. Du kích đánh được giặc cố nhiên nhờ 3 nguyên tắc trên, nhưng nếu làm đúng 3 điều trên mà không có kế hoạch thích hợp và chu đáo thì cũng không thành. Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hoá, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng.
Đánh du kích cần chú ý 4 mưu mẹo lớn này:
1. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây. Đánh du kích phải hiểu rõ tình hình quân thù, chỗ quân thù mạnh mình không dại gì tiến đánh, chỉ nhằm chỗ yếu của nó mà đánh, lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông đánh phía tây.
2. Tránh trận gay go, không chết sống giữ đất. Đánh du kích cốt chọn miếng dễ miếng ngon mà ăn, không phải hao tổn nhiều. Phải tránh những trận gay go, được thua không chắc mà có thể thiệt hại nhiều, lúc quân thù tiến công, nếu chống lại không lợi thì phải lùi, nếu cần rút ra khỏi phạm vi thế lực của mình để giữ gìn lực lượng thì cứ việc rút, không bao giờ nên chết sống giữ đất.
3. Hoá chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hoá linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung), lúc quân thù nhằm vào bộ đội mình mà tiến công, hoặc lúc vì một lẽ khác mà để nguyên cả bộ đội thì hành động không tiện, quân du kích phải hoá chỉnh vi linh, nghĩa là phân tán ra, phân tán ra rồi, nếu cần tập trung bộ đội lại, để hành động thì lại hoá linh vi chỉnh, (chỉnh là toàn bộ, linh là từng bộ phận hay từng người).
4. Mình yên đánh quân thù động, mình khoẻ đánh quân thù mệt. Đánh du kích phải giữ quyền chủ động, phải chọn lúc quân thù đương làm một việc gì, nhất là lúc đi đường, nhân lúc quân thù không chú ý, mình yên núp một chỗ thoạt ra đánh nó, thế là mình yên đánh quân thù động. Còn phải chọn lúc quân thù mệt và mình khoẻ để đánh nó. Lúc mình yên quân thù động, lúc mình khoẻ, quân thù mệt, mình lại đánh úp quân thù thì mình thế nào chẳng thắng?
Du kích đánh Tây - Nhật cần nhằm vào mấy động tác sau này:
1. Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù, tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng.
2. Trinh thám quân giặc5). Một nhà đại quân sự có nói: "Biết mình, biết giặc trăm trận, trăm thắng". Đánh du kích cốt trinh thám cho rõ tình hình quân giặc.
3. Làm cho quân giặc khốn đốn. Du kích nếu chưa thắng ngay được quân giặc cũng hết sức làm cho chúng khổ sở, khốn đốn, ăn ngủ không ngon, đi đứng không yên.
4. Làm cho quân giặc đói khổ. Làm vườn không nhà trống, đánh cướp đội vận tải lương thực của giặc, đánh phá kho lương thực của giặc là những cách làm cho quân giặc đói khổ.
5. Ngăn cản quân giặc. Không cho chúng tự do đem quân đánh phá dân chúng hay đội du kích. Phá đường sá cầu cống xe cộ của giặc là cách hay nhất để ngăn cản quân giặc tự do hành động.
6. Bắt cóc quân giặc. Như lính đi truyền lịnh, lính đem thư từ, lính đi thu lương thực của dân chúng. Bắt rồi lột khí giới và tra hỏi tình hình quân thù.
7. Làm cho quân giặc mù mịt, hoảng hốt. Ví như mình có ít người mà làm như đông người, mình có một đội mà làm như nhiều đội, mình có ít súng, mà làm như nhiều súng, làm cho quân giặc hoảng hốt rồi mình thừa cơ đánh úp nó.
8. Dụ quân giặc vào bẫy để đánh. ẩn nấp đâu đó rồi lập mưu dụ quân giặc ra để đánh úp, hoặc giả đánh thua phải chạy để cho quân giặc đuổi theo rồi ẩn núp một chỗ chờ quân giặc qua thoạt ra đánh.
9. Tập kích, phục kích và truy kích quân giặc. Tập kích là mình đến đánh quân giặc đương ở một chỗ. Phục kích là mình ẩn nấp một chỗ chực quân giặc đi qua thoạt ra đánh úp. Truy kích là đuổi theo sau quân giặc để đánh.
CHƯƠNG XIII
CĂN CỨ ĐỊA
Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ.
Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được.
Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy (quân chính quy là đội quân tổ chức theo quy củ nhất định về mặt biên chế, kỷ luật, súng ống, áo quần, ăn uống đều theo quy củ nhất định ấy).
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.3, tr. 467-504.
_____________
1) Trong nguyên bản, ngoài bìa sách ghi "Chiến thuật du kích".
2) Là đội du kích hoàn toàn thoát ly sản xuất hay vừa sản xuất vừa chiến đấu.
3) Từ tiểu đội lên trung đội.
4) Tức là khôn khéo điều khiển quân thù.
5) Tất cả những chữ trinh thám ở đây hiểu là trinh sát để nắm vững tình hình.
THƯ GỬI ĐỒNG BÀO TOÀN QUỐC
Toàn quốc đồng bào!
Toàn thể đồng chí!
Tháng 8 năm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một năm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.
Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc.
Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta.
Song muốn tiếp thu lòng đồng tình và sự giúp đỡ đó, chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.
Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!
Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận, để khai cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội trong năm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công.
Lời chào thân ái
Tháng 10 năm 1944
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.3, tr. 505-506.
CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM
TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN
1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.
Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.
2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.
Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.
Tháng 12 năm 1944
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.3, tr.507-508.
Lời giới thiệu tập 2 Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 gồm những tác phẩm, bài viết và nói chọn lọc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 3-9-1945 đến ngày 22-7-1954 và được tuyển từ tập 4, 5, 6, 7 bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập 12 tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000. Thời gian từ sau 2-9-1945 đến 22-7-1954, là một thời kỳ sôi động đầy thử thách của cách mạng Việt Nam.
Cách mạng vừa thành công, nhân dân ta phải đối mặt với ba loại giặc - giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Cách mạng ở vào thế "ngàn cân treo sợi tóc". Trong hoàn cảnh đó, cùng với Đảng ta, Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua muôn trùng khó khăn hiểm trở, chiến thắng giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, giữ vững chính quyền cách mạng, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc và đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà ở thời kỳ tiếp sau.
Ở thời kỳ hết sức nghiêm trọng và đầy khó khăn thử thách, nghị lực phi thường của dân tộc và thiên tài Hồ Chí Minh đã được bộc lộ và phát huy rực rỡ. Là lãnh tụ Đảng và của cả dân tộc, là người đứng đầu nhà nước cách mạng, thiên tài Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc ở tư tưởng, đường lối chiến lược, sách lược cũng như năng lực tổ chức thực tiễn và sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Người về đối nội, đối ngoại đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo đầy thù trong giặc ngoài năm 1945-1946 và đưa cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm đến thắng lợi.
Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không thể tách rời với thống nhất Tổ quốc. Thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Nam Bộ, hòng tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam, Người khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Ngày 23-10-1946, sau khi đi thăm nước Pháp về, Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân rằng: "Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”.
Cuối năm 1946, khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa, không còn con đường nào khác, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước đứng dậy kiên quyết kháng chiến. Và qua mọi khó khăn thử thách Người đã lãnh đạo toàn dân "Đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập, thống nhất thật sự”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, thống nhất của Tổ quốc luôn gắn với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngày 17-l0-1945, Người viết: "Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Bởi vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, sau Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân là chống nạn đói, chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác; tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, xây dựng hiến pháp mới dân chủ; xoá bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết… Người nói với đồng bào phải "coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm”. Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người hãy phát huy truyền thống dân tộc nhường cơm sẻ áo giúp nhau khi khó khăn. Biện pháp Người nêu ra là tất cả mọi người hãy nỗ lực "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!…Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Khi phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc, Người vạch ra đường lối "Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, làm cho toàn dân đủ ăn, đủ mặc, toàn dân biết đọc, biết viết, toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm, toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục nhiệm vụ cách mạng dân tộc và dân chủ. Bởi vậy, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn giành thắng lợi cuối cùng, Người chỉ ra phải triệt để thực hiện giảm tô, giảm tức và “phải thực hiện nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”. Theo Người, mục đích của cải cách ruộng đất là thủ tiêu chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Tư tưởng này trên thực tế đã tạo ra sức mạnh to lớn, góp phần mang lại chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ.
Để lãnh đạo toàn dân vượt qua bao khó khăn, thử thách sau Cách mạng Tháng Tám và đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo công tác xây dựng, phát triển Đảng. Trong hoàn cảnh đặc biệt phức tạp, éo le, thù trong giặc ngoài sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh với một quyết định cực kỳ dũng cảm và sáng suốt đã tuyên bố Đảng tự giải tán, trên thực tế là Đảng rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng. Khi cuộc kháng chiến phát triển giành được những thắng lợi quan trọng, Đảng quyết định ra công khai và tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II vào mùa xuân năm 1951. Tại Đại hội này, Người chỉ ra nhiệm vụ của Đảng là "đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lâp hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”. Để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử này, Đảng phải được xây dựng thật vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm rèn luyện Đảng thành một “đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”, xứng đáng là một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, làm cho Đảng trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng cùng như mỗi đảng viên phải xung phong gương mẫu, làm theo đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.
Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 thể hiện nổi bật tư tưởng và sự chỉ đạo sáng suốt của Người về xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, để thiết lập cơ sở pháp lý cho nhà nước kiểu mới của nhân dân, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh về Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội lập hiến, thông qua Hiến pháp khẳng định quyền làm chủ đất nước và các quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Đồng thời, Người cùng thực hiện ngay việc chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp, làm cho nó thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mới. Trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Người nhắc nhở "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức trách.
Chúng ta phải yêu dân kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.
Người cũng vạch ra "những lầm lỗi rất nặng nề" trong một số cán bộ, họ mắc phải các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nghiêm khắc nhắc nhở “Ai đã phạm những sai lầm trên này thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.
Cùng với từng bước phát triển thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sát sao việc chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, chú trọng ngành công an, tư pháp. kinh tế tài chính, văn hoá, giáo dục, sửa đổi lối làm việc, phương pháp công tác cho cán bộ. Năm 1952, Người phát động phong trào tẩy trừ bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, làm cho bộ máy chính quyền trong sạch, thật sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân.
Một nội dung xuyên suốt tập 2, Hồ Chí Minh Tuyển tập là việc Người không ngừng chăm lo mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện đoàn kết quốc tế và gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám Người chủ trương lập "Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam” (Liên Việt) nhằm tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong một Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người đã gửi nhiều thư và điện đến các vị giám mục, linh mục để động viên tinh thần yêu nước của đồng bào công giáo. Người cũng gửi thư đến các ông lang đạo, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào tỉnh Hoà Bình. Người quan tâm giúp đỡ Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, động viên các nhân sĩ, trí thức, các nhà công thương… hăng hái tham gia kháng chiến và thực hiện đại đoàn kết. Người lãnh đạo thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội liên hiệp quốc dân thành Mặt trận Liên Việt tạo ra khối đại đoàn kết dân tộc "trường xuân bất lão” với sức mạnh không gì thắng nổi. Mặt trận Liên Việt đã góp phần to lớn vào việc đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.
Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng việc tăng cường đoàn kết quốc tế. Người gửi nhiều thư và điện văn đến Liên hợp quốc, đến những người đứng đầu Chính phủ Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng hoà bình và tiến bộ trên thế giới. Người đa đi thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị người đứng đầu nhà nước Việt Nam mới thể hiện tư tưởng độc lập và thiện chí hoà bình của dân tộc ta. Người đề ra sách lược ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với từng thời điểm lịch sử, nhằm thêm bạn bớt thù, phân hoá kẻ thù, loại trừ từng bước các thế lực đối địch, tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định chính sách ngoại giao hoà bình và thân thiện với tất cả các nước. Người tuyên bố: "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Đầu năm 1948, Người đã chủ động phá thế bao vây của kẻ thù, cử một đoàn cán bộ ngoại giao đầu tiên của ta sang các nước Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa, Tiệp Khắc để tuyên tuyền về cuộc kháng chiến anh dũng và chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1954, Người tuyên bố rõ quan điểm đối ngoại của Chính phủ ta với chính phủ các nước trên thế giới: "Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ nhân dân”. Sau tuyên bố trên, chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ mới lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Thắng lợi này đã đưa lại sự ủng hộ to lớn của các lực lượng dân chủ và hoà bình trên thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Sức mạnh tự lực tự cường của dân tộc được kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ta mau thắng lợi.
Từ những thắng lợi to lớn trên chiến trường, Hồ Chí Minh chủ động đặt vấn đề thương lượng để đi tới kết thúc chiến tranh. Ngày 26-11-1953, trả lời phỏng vấn của một nhà báo Thuỵ Điển, Người nêu rõ nguyên nhân, tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam và khẳng định: "Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”. "Cơ sở việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”. Tuyên bố này có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới, mở hướng đi tới cuộc thương lượng hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ năm 1954.
Với đường lối kháng chiến toàn diện, Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng lực lượng không chỉ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự mà Người rất chú ý tới mặt trận văn hoá. Ngay sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, Người ra kỳ hạn "trong một năm phải thanh toán xong nạn mù chữ”, “phải học đạo đức công dân, phổ thông chính trị”, “để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh”. Người chủ trương phát triển văn hoá gắn liền với xây dựng đời sống mới. Người viết tác phẩm Đời sống mới kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Người chỉ ra rằng: "Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới”.
Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ...
Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý...
Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm...
Cái gì mới mà hay thì ta phải làm”.
Người khẳng định văn hoá là một mặt trận, người làm văn hoá phải là chiến sĩ trên mặt trận ấy, “kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến".
Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác thi đua nhằm phát huy tới mức cao nhất khả năng của mọi người, mọi ngành. Làm được như vậy thì ta nhất định thắng, địch nhất định thua, kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.
Biết không tránh khỏi một cuộc kháng chiến, nên ngay từ đầu, cùng với việc chỉ đạo xây dựng chế độ mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, Hồ Chí Mình vừa chỉ đạo kháng chiến của nhân dân ta ở Nam Bộ, vừa gấp rút chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài. Người chỉ đạo khẩn trương phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. Người cải tổ Chính phủ, lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, một chính phủ toàn quốc "có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia” đủ sức lãnh đạo toàn dân tiến hành kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Tháng 11-1946, Người viết chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ, xác định rõ tính chất và nội dung cuộc kháng chiến. Đó sẽ là cuộc kháng chiến toàn diện, cả về kinh tế, quân sự, chính trị, giao thông; là cuộc kháng chiến trường kỳ “rất gay go, gian khổ”.
Thực dân Pháp cự tuyệt hoà bình, quyết lao vào chiến tranh. Đại diện cho tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người khẳng định: “Dù phảl gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.
Hồ Chí Minh chủ trương phát triển lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Trong xây dựng và phát triển quân đội, Người chỉ đạo: Phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân, một quân đội vô địch. Cùng với xây dựng quân đội, phải phát triển và củng cố dân quân du kích về mọi mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và nâng cao sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới tới đó. Cả ba thứ quân phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Người rất chú trọng giáo dục đội ngũ cán bộ. Người yêu cầu: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây: Trí - Tín - Nhân - Dũng – Liêm”.
Trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, Hồ Chí Minh không chỉ đề ra những quyết định lớn chỉ đạo chiến lược chiến tranh, phương châm tác chiến, Người còn trực tiếp chỉ đạo cụ thể về chiến dịch và chiến thuật. Người uốn nắn những khuynh hướng nóng vội, muốn đánh to thắng to khi chưa đủ điều kiện, chỉ rõ trong tác chiến phải phát huy yếu tố tinh thần ưu thế chính trị, biết chớp thời cơ bất ngờ tiến công địch, đã đánh là phải quyết thắng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và sự chỉ đạo chặt chẽ, sáng suốt của Người là nhân tố quan trọng tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2 xuất bản lần thứ ba khó tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi mong được bạn đọc góp ý để lần xuất bản sao có chất lượng cao hơn.
HỘI ĐỒNG XUẤT BẢN
HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP
Năm 1945 Năm 1945 (*)
NHỮNG NHIỆM VỤ CẤP BÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Thưa các cụ và các chú,
Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính.
Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm.
Với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công.
Hiện nay những vấn đề gì là vấn đề cấp bách hơn cả. Theo ý tôi, có sáu vấn đề:
Một là, nhân dân đang đói - Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để ngăn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ.
Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó càng làm cho tình hình trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống.
Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.
Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.
Vấn đề thứ hai, nạn dốt - Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ.
Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.
Vấn đề thứ ba - Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..
Vấn đề thứ tư - Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.
Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH.
Vấn đề thứ năm - Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy. Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.
Vấn đề thứ sáu - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr.7-9.
____________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
CÁCH TỔ CHỨC CÁC UỶ BAN NHÂN DÂN
Uỷ ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố) là hình thức Chính phủ trong các địa phương, sau khi khởi nghĩa thắng lợi. Toàn thể nhân dân Việt Nam (trừ bọn Việt gian bị tước công quyền) từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử người vào các Uỷ ban này.
Uỷ ban có từ 5 đến 7 người phải cử ra:
1) Một Chủ tịch, đứng đầu Uỷ ban, có nhiệm vụ đốc suất, củ soát các Uỷ viên khác, liên lạc với các cấp bộ trên và các tổ chức trong địa phương, chiêu tập và điều khiển các cuộc họp.
2) Một Phó Chủ tịch, giúp đỡ và thay Chủ tịch khi anh này bận hay đi vắng.
3) Một Thư ký giữ sổ sách, làm biên bản trong các cuộc hội họp.
4) Một Uỷ viên phụ trách chính trị có nhiệm vụ thành lập toà án dân chúng trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, tiễu trừ Việt gian. Tuyên truyền hay huấn luyện chính trị cho nhân dân, làm cho họ đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ.
5) Một Uỷ viên phụ trách kinh tế tài chính, có nhiệm vụ:
a- Giữ và dùng quỹ địa phương, quyên tiền, thu thuế lợi tức luỹ tiến, v.v.;
b- Khuyếch trương nền kinh tế địa phương; nâng cao trình độ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp;
c- Cải tiến đời sống cho nhân dân.
6) Một Uỷ viên phụ trách quân sự, có nhiệm vụ:
a- Đốc suất tự vệ giữ vững an toàn cho nhân dân;
b- Võ trang và huấn luyện quân sự cho nhân dân; động viên họ lên trường tranh đấu du kích chống xâm lược.
7) Một Uỷ viên phụ trách xã hội, có nhiệm vụ:
a- Tổ chức và giám đốc các cơ quan y tế, vệ sinh, cứu tế, bài trừ hủ tục, v.v..
b- Tổ chức và điều khiển những cuộc giải trí công cộng, du lịch, ca kịch, chiếu bóng, hội hè, kỷ niệm.
c- Tổ chức và trông coi công cuộc giáo dục nhân dân: mở trường học, chống nạn mù chữ, mở thư viện, v.v..
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký có thể kiêm phụ trách hoặc kinh tế, tài chính, hoặc tuyên truyền huấn luyện, hoặc quân sự, hoặc xã hội.
Họp Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký thành Ban thường vụ để chỉ huy công tác hằng ngày.
Những uỷ viên phụ trách, nếu cần, có thể lấy một số người ngoài Uỷ ban lập ra các Tiểu ban tuyên truyền huấn luyện, Tiểu ban tư pháp, Tiểu ban quân sự, v.v.. Trong các tiểu ban đó Uỷ viên phụ trách sẽ làm Trưởng ban.
Uỷ ban nào cũng có quyền giải quyết những vấn đề thuộc về địa phương mình, nhưng phải báo cáo lên cấp trên.
Trong một thời hạn (Chính phủ sẽ định), Uỷ ban nhân dân phải chiêu tập đại hội địa phương để báo cáo công việc đã làm, trình bày và đưa ra thảo luận các công việc sẽ phải làm, bầu Uỷ ban mới.
Ban thường vụ phải khai hội ít nhất mỗi tuần một lần, toàn thể Uỷ ban nửa tháng một lần để bàn bạc công tác. Trước ngày khai hội của Uỷ ban, ai có điều gì đề nghị, chất vấn hay phê bình cứ gửi cho Chủ tịch.
Xem như trên, Uỷ ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra.
CHIẾN THẮNG
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr. 13-15.
THƯ GỬI ĐỒNG BÀO TOÀN QUỐC NHÂN DỊP "TUẦN LỄ VÀNG"
Cùng toàn quốc đồng bào,
Ban tổ chức "Tuần lễ VÀNG" ở Hà Nội có mời tôi đến dự cuộc lễ khai mạc Tuần lễ VÀNG11. Vì bận việc, tôi không đến được, nhưng tôi có bức thư này ngỏ cùng toàn quốc đồng bào:
Nhờ sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào ngót 80 năm nay, nhất là trong 5 năm nay, chúng ta đã xây đắp được nền tự do độc lập của chúng ta. Ngày nay chúng ta cần củng cố nền tự do độc lập ấy để chống lại với sự dã tâm xâm lăng của bọn đế quốc Pháp.
Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có.
Ý nghĩa "Tuần lễ VÀNG" là ở đó.
Tuần lễ VÀNG sẽ thu góp số VÀNG trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng.
Tuần lễ VÀNG sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút VÀNG để phụng sự Tổ quốc.
Như thế Tuần lễ VÀNG không những có ý nghĩa giúp vào nền tài chính quốc phòng, nó còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng.
Vì vậy tôi mong rằng toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, hết sức vì nước hy sinh.
Tôi tin rằng, toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, trong sự quyên giúp này, sẽ xứng đáng với sức hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận.
Mong toàn quốc đồng bào làm tròn nghĩa vụ.
Việt Nam độc lập muôn năm!
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr. 17-18.
THƯ GỬI CÁC ĐỒNG CHÍ TỈNH NHÀ 1)
Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 1945
Cùng các đồng chí bản tỉnh 2),
(Xem rồi, nhớ chuyển cho các bạn hạ cấp 3) ).
Các đồng chí,
Thơ này, tôi không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, nhưng chỉ lấy danh nghĩa của một người đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí.
1. Cuộc dân tộc cách mạng thành công này có những ý nghĩa rất to tát mà chúng ta cần phải nhận rõ. Ý nghĩa đó là: trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã phá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa: Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hoà. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta.
2. Vì sao có cuộc thắng lợi đó ?
Một phần là vì tình hình quốc tế thuận tiện cho ta. Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.
Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó.
3. Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ! Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng 4) trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính..., trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị.
4. Khó thì khó thật, nhưng chúng ta quyết tâm; chúng ta vừa làm vừa học, nhất là chúng ta cố mà theo cho đúng chính sách của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua hết thảy những sự khó khăn đó. Nói tóm tắt, thì chính sách của Chính phủ là:
- Củng cố sự đoàn kết toàn dân.
- Sửa đổi những khuyết điểm khắp các phương diện.
5. Ở các địa phương, những khuyết điểm to nhất là:
a) Khuynh hướng chật hẹp và bao biện. Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc.
b) Lạm dụng hình phạt. Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hoá, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng 5).
c) Kỷ luật không đủ nghiêm. Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán.
d) Đề phòng hủ hoá. Cán bộ ta nhiều người "cúc cung tận tuỵ", hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư 6). Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư 7), làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể.
đ) Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động.
Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,
Chúng ta không sợ có khuyết điểm,
Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi,
Chúng ta phải lấy lòng "chí công vô tư".
Chúng ta phải hiểu rõ và theo đúng chính sách của Chính phủ thì những khuyết điểm nói trên sẽ dễ sửa đổi và sự toàn dân đoàn kết sẽ càng vững vàng.
Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi. Tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến.
Chào thân ái
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr.22-23.
Năm 1946 Năm 1946 (*)
LỜI KÊU GỌI QUỐC DÂN ĐI BỎ PHIẾU
Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946.
Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.
Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử28, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.
Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.
Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:
Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,
Kiên quyết chống bọn thực dân,
Kiên quyết tranh quyền độc lập.
Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.
Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.
Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.
Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.
Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.
Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.
HỒ CHÍ MINH
Năm 1947 NĂM 1947
ĐẦU NĂM
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo cuộc đưa đón đồng bào tản cư ra khỏi vùng có chiến sự
Kiên quyết không sống chung với thực dân Pháp, hàng chục vạn đồng bào ở các vùng có chiến sự, nhất là ở thành phố, thị xã tản cư ra vùng tự do với tâm niệm tản cư cũng là kháng chiến.
Việc đưa đón đồng bào tản cư ra khỏi vùng có chiến sự là một công việc quan trọng để chuyển đất nước vào chiến tranh. Uỷ ban tản cư các cấp được thành lập đầu năm 1947.
Ngày 17-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào tản cư, khẳng định "tản cư cũng là kháng chiến", "các đồng bào tản cư cam chịu linh đinh cực khổ, chứ không chịu đội trời chung với quân thù”, "hy sinh cửa nhà, của cải, kiên quyết tản cư", "Chính phủ và đồng bào hậu phương không thể để các đồng bào tản cư bị lưu ly cực khổ,… tìm mọi cách đặng sắp xếp cho các đồng bào có nơi ăn, chỗ ở, việc làm". Người căn dặn "mỗi người phải làm một việc, không nên một ai ăn rỗi, ngồi không”, "phải đoàn kết chặt chẽ", vì "đoàn kết là sức kháng chiến".
Ngày 10-3-1947, Người lại chỉ thị cho Bộ Nội vụ cử người về các địa phương, kể cả vùng mới bị địch chiếm đóng, để có biện pháp cụ thể khắc phục những thiếu sót trong việc đưa đón đồng bào tản cư, "Vô luận thế nào, các Uỷ ban hành chính không được bỏ dân bơ vơ".
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 30-SL ngày 17-3-1947, cử Bộ trưởng Bộ Lao động đặc nhiệm tản cư và di dân, Sắc lệnh số 32b-SL ngày 19-3-1947 ấn định quỹ Tản cư, di cư toàn quốc do Bộ trưởng Bộ Lao động sử dụng.
Lúc đầu, do không có kinh nghiệm, không dự kiến hết số lượng người tản cư, di cư và tình hình diễn biến của chiến sự cho nên Uỷ ban tản cư các cấp có nhiều lúng túng. Không ít đồng bào tản cư, di cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Sang tháng 4-1947, việc đưa đón đồng bào tản cư, di cư đi vào nền nếp, Uỷ ban tản cư các cấp hoạt động có hiệu quả, đồng bào tản cư, di cư nhanh chóng hoà nhập với nhân dân địa phương, đoàn kết sản xuất, ổn định đời sống.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, t.5, tr.49-50, 90, 735.
ĐẦU NĂM
Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo cuộc phá hoại cản bước tiến của quân Pháp
Từ đầu tháng 12-1946, trên báo Sự thật, số 66 và 67, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đề ra chủ trương “tiêu thổ kháng chiến" ở thành thị, làm “vườn không nhà trống” ở nông thôn, coi “phá hoại là một bộ phận quan trọng của chiến thuật du kích" và "công tác phá hoại phải được chỉ huy theo kế hoạch chung”.
Tiếp đó, trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã coi công tác "phá hoại" là "cách đánh" "làm cho địch đói, khát, què, mù, điếc, câm, tiêu hao, mệt mỏi, chán nản. Công tác phá hoại đã được khẳng định lại trong Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất từ ngày 12 đến ngày 16-l-1947.
Ngày 16-l-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến. Người chỉ rõ: “Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp...cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp.
Đánh thì phải phá hoại… để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng.
Các chiến sĩ ở trước mặt trận hy sinh xương máu cho Tổ quốc, họ còn không tiếc. Không lẽ đồng bào ta lại tiếc một đoạn đường, một cái cống, hoặc một ngôi nhà, mà để bọn Pháp lợi dụng, đặng đánh Tổ quốc ta.
Đồng bào đều là người ái quốc, chắc không ai nỡ lòng như thế”.
Người kêu gọi: "mọi người đều ra sức giúp phá. Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy".
Người nói: "Tôi lại trân trọng hứa với đồng bào rằng: kháng chiến thắng lợi rồi, tôi sẽ ra sức cùng đồng bào sửa sang tu bổ lại hết. Chúng ta sẽ làm những đường sá cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn, và xứng đáng một dân tộc tự do độc lập hơn".
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, theo lời kêu gọi của Người, quân và dân ta đã hăng hái tham gia cuộc phá hoại, đồng bào ta đã tự tay phá nhà mình, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống trên hướng địch có thể hành quân đánh chiếm, nhất là các trục đường lớn từ Hà Nội đi các tỉnh. Theo thống kê của Cục Công binh, trong những ngày kháng chiến toàn quốc, nhân dân ta đã phá hoại 1.060 km đường sắt, 5.840 km đường bộ, 30.500 cầu, cống, 59.100 nhà xưởng, 84 đầu máy và 868 toa xe lửa.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.25-26.
- Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Kinh tế học, Đặng Phong (Chủ biên): Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-1954, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, t.I, tr. 240.
ĐẦU NĂM
Thành lập Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Nam Bộ
Dự lễ thành lập có đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Dân chủ, các Hội Cứu quốc (Công nhân, Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ), đại biểu các tôn giáo và các dân tộc. Đồng chí Hà Huy Giáp được bầu làm Chủ nhiệm, Trần Bạch Đằng làm Tổng thư ký. Tham gia Uỷ ban còn có ông Trần Chính (Thanh niên Cứu quốc), Nguyễn Thị Thập (Phụ nữ Cứu quốc), Nguyễn Thành Vinh (Nhân sĩ Công giáo), linh mục Nguyễn Bá Luật (Công giáo kháng chiến), hoà thượng Thích Minh Nguyệt (Phật giáo), Cao Triều Phát (Cao đài 12 phái thống nhất), Hoàng Xuân Nhị (trí thức), Vương Văn Lễ (Đảng Dân chủ Việt Nam).
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (1930-1954), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004, t.1, tr.546-547.
TỪ NGÀY 12 ĐẾN NGÀY 16-1
Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất
Ngày 12-l-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất tại Chương Mỹ (Hà Đông) để bàn về nhiệm vụ quân sự trước mắt thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc trực tiếp chỉ đạo Hội nghị. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, đến dự và báo cáo về đường lối kháng chiến của Đảng.
Hội nghị nhận định: với viện binh đang kéo đến, thực dân Pháp sẽ mở "cuộc phản công và tiến công", "cố tình đi sâu vào chiến tranh", “hòng nuốt trôi nước ta".
Hội nghị quyết định: "Nhiệm vụ chính lúc này là bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài". Do đó phải "tránh mũi dùi chủ lực của địch để bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiến đấu của bộ đội ta".
Phát động chiến tranh du kích, không cho địch phát triển vị trí và tiến quân mau lẹ.
Tập trung lực lượng tiêu diệt từng phần lẻ tẻ của địch, tiêu hao lực lượng địch, động viên cả nước, duy trì cuộc chiến tranh trường kỳ và tiêu hao cho tới khi giành được thắng lợi cuối cùng.
Hội nghị đề ra nhiệm vụ quân sự trước mắt là phát triển chiến tranh du kích rộng khắp với lối đánh tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch, thực hiện phá hoại đường sá, cầu và nhà kiên cố, làm vườn không nhà trống nhằm cản bước tiến quân của địch và duy trì sức chiến đấu lâu dài của quân và dân ta.
Hội nghị ra thông báo kêu gọi nhân dân "sửa soạn về mọi phương diện để đối phó với cuộc tấn công mà bọn thực dân Pháp đang chuẩn bị gấp".
Hội nghị quyết định tặng danh hiệu Trung đoàn Thủ đô cho Trung đoàn Liên khu I (Hà Nội) đã chiến đấu dũng cảm và hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ tiêu hao và kìm chân địch trong thành phố.
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954), Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1979, t.II, tr.113-114.
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.47.
NGÀY 27-1
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô
Cuộc chiến đấu dũng cảm của quân dân Thủ đô Hà Nội mà nòng cốt là Trung đoàn Thủ đô, đã kìm chân và tiêu hao quân Pháp. Nhân dân ta vô cùng khâm phục những gương hy sinh của các chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch.
Để cổ vũ tinh thần chiến đấu quên mình vì nước của các đội Cảm tử quân Thủ đô, ngày 27-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ Cảm tử quân Thủ đô. Bức thư có đoạn: "Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh1. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...
Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn bên cạnh các em".
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.35-36.
TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 5
Tổng di chuyển cơ quan lãnh đạo kháng chiến lên An toàn khu ở Việt Bắc
Dự kiến tình hình chiến tranh sẽ xảy ra, ngay từ mùa thu 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng an toàn khu của cơ quan lãnh đạo Trung ương tại Chiến khu Việt Bắc. Từ đầu tháng 12-1946, đề phòng địch đánh úp, một số cơ quan lãnh đạo đã rời ra ngoại thành Hà Nội. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Ban Thường vụ Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy vừa chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến đấu ở các thành phố, thị xã, vừa theo dõi và chỉ đạo kế hoạch di chuyển cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Các cơ quan Trung ương Đảng, chính quyền, Mặt trận, Bộ Tổng chỉ huy,... đã di chuyển dần theo hướng Hà Đông - Sơn Tây - Phú Thọ - Tuyên Quang - Bắc Kạn - Thái Nguyên.
Địch thường xuyên tung mạng lưới gián điệp và dùng các phương tiện trinh sát kỹ thuật để theo dõi từng chặng di chuyển của cơ quan lãnh đạo kháng chiến hòng tập kích, tiêu diệt. Nhưng hàng rào chính trị của nhân dân đã bảo đảm bí mật, an toàn cho cuộc tổng di chuyển cơ quan lãnh đạo kháng chiến.
Suốt thời gian di chuyển, việc chỉ đạo kháng chiến, chỉ huy các chiến trường không hề bị gián đoạn. Chẳng những thế, trong thời gian di chuyển, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy còn triệu tập hai Hội nghị Quân sự lần thứ nhất (l-1947) và lần thứ hai (3-1947), Hội nghị Quân uỷ Trung ương mở rộng (2-1947), Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ hai (4-1947), Hội nghị Dân quân du kích toàn quốc (5-1947) để chỉ đạo kịp thời công cuộc kháng chiến.
Đến tháng 5-1947, các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy... đã ổn định nơi ở và làm việc tại các bản làng trên căn cứ địa Việt Bắc mà Trung tâm là khu tam giác Thái Nguyên - Bắc Kạn - Tuyên Quang.
- Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb.Quân đội nhân dân, Nxb. Thanh niên Hà Nội, 1995, tr.85-l19.
- Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6-1996, tr.43-45.
- Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3-1997, tr.45-48.
- Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9-1997, tr.50-52.
NGÀY 15-2
Hội nghị Chính trị viên toàn quân lần thứ nhất
Đầu năm 1947, sau khi được tăng thêm viện binh, nhất là khi đánh thông được đường 5 vào cuối tháng 1 để tăng viện cho mặt trận Hà Nội, thực dân Pháp đẩy mạnh tấn công trên các mặt trận; chiến sự diễn ra trên hầu hết 30 tỉnh thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ. Để bảo toàn chủ lực, sau khì kìm chân và tiêu hao nhiều sinh lực địch trong các thành phố, thị xã, các trục đường giao thông quan trọng, bộ đội ta tạm rút về nông thôn, tổ chức đánh du kích chuẩn bị cơ sở kháng chiến lâu dài.
Quân uỷ Trung ương đã triệu tập Hội nghị Chính trị viên toàn quân lần thứ nhất. Dự Hội nghị có các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương, các đồng chí Chính trị viên khu và chính trị viên trung đoàn2. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương và đồng chí Văn Tiến Dũng, Cục trưởng Cục Chính trị Bộ Quốc phòng, chủ trì Hội nghị. Thay mặt Quân uỷ Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc báo cáo Chiến lược và chiến thuật.
Hội nghị đã phân tích bản chất phản động, ngoan cố, hiếu chiến và âm mưu thâm độc của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời chỉ rõ những đặc điểm cuộc kháng chiến của nhân dân ta và quy luật phát triển của chiến tranh để làm sáng tỏ thêm đường lối kháng chiến và phương châm chiến lược và chiến thuật quân sự của Đảng ta.
Về tình hình và nhiệm vụ trước mắt, Hội nghị vạch rõ: "Tình hình quân sự đang diễn ra cái thế bộ đội ta có thể bị bao vây, tan rã hay tiêu diệt", vì vậy, nhiệm vụ công tác chính trị lúc này là : "Đề phòng bị bao vây và tan rã, rèn luyện bộ đội thành một bộ đội du kích, tổ chức thêm và chỉnh đốn dân quân". Nhiệm vụ của các đảng viên trong quân đội là: "dù trong trường hợp nào cũng phải nắm cho vững bộ đội, củng cố và mở rộng cơ sở Đảng, thi hành cho được nhiệm vụ quân sự”.
Hội nghị đã đề ra 10 nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội và 12 điều kỷ luật dân vận cho toàn thể Vệ quốc quân, lấy "việc bộ đội ta đánh thắng và đi đâu đều được dân chúng hoan nghênh" làm tiêu chuẩn đánh giá mọi kế hoạch công tác chính trị.
Về chế độ công tác chính trị trong quân đội, Hội nghị chỉ rõ phải củng cố và kiện toàn các cơ quan công tác chính trị trong quân đội từ cấp khu, cấp trung đoàn xuống đến cấp trung đội và phải lấy công tác chính trị ở đại đội làm nội dung căn bản. Hội nghị đã định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của thủ trưởng chính trị trong các cấp trong quân đội.
Hội nghị quyết định cho ra báo Vệ quốc quân (tiền nhân của báo Quân đội nhân dân hiện nay).
- Ban Nghiên cứu Lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.1, tr.211-212.
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.I, tr.258.
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.49.
NGÀY 17-2
Trung đoàn Thủ đô rút an toàn ra khỏi Hà Nội
Sau trận đánh của Trung đoàn Thủ đô bảo vệ chợ Đồng Xuân ngày 14-2-1947, nhận thấy nhiệm vụ kìm chân địch, tiêu hao địch đã đạt yêu cầu, để bảo toàn lực lượng Bộ Tổng chỉ huy ra lệnh cho lực lượng vũ trang Liên khu 1 rút ra khỏi Hà Nội.
Kế hoạch rút lui được giữ bí mật tuyệt đối. Ta nghi binh, lừa địch tổ chức nhiều cuộc tiến công trong nội thành thu hút sự chú ý của địch.
8 giờ tối ngày 17-12-1947, một đêm tối trời và rét ngọt, Trung đoàn Thủ đô đông hơn 1.200 người với tất cả thương binh, bệnh binh, vũ khí từ Liên khu 1 vượt qua vòng vây dày đặc của quân thù, vượt qua sông Hồng, ngay sát các vị trí địch, rút ra ngoài một cách an toàn. Riêng Tiểu đội du kích Hồng Hà do đảng viên Nguyễn Ngọc Nại làm Tiểu đội trưởng, đã kiên cường đánh địch ở Bãi giữa, Phúc Xá để thu hút địch. Tiểu đội đã chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ đội hình di chuyển nêu tấm gương sáng ngời "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.I, tr.212-214.
NGÀY 19-2
Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về hệ thống tổ chức của Đảng trong quân sự
Đến đầu năm 1947, hệ thống tổ chức của Đảng trong quân sự gần như một hệ thống độc lập, không gắn bó với các cấp bộ Đảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận thấy cách tổ chức và làm việc sai lầm ấy không đúng với nguyên tắc tổ chức của Đảng và còn đẻ ra nhiều tai hại: làm cho sự chỉ huy và hành động của Đảng không thống nhất, dễ sinh ra đầu óc biệt phái. Ngày 19-2-1947, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết sửa đổi như sau:
“1. Trung ương Quân uỷ do Trung ương của Hội chỉ huy.
2. Quân khu uỷ do Xứ uỷ (nay là Khu uỷ) chỉ huy.
3. Trung đoàn uỷ hay Tiểu đoàn uỷ do Tỉnh uỷ chỉ huy.
4. Các cấp bộ trong bộ đội phải làm báo cáo hàng tháng gửi cho Trung ương Quân uỷ và đồng thời phải gửi cho cấp bộ Hội tương đương.
5. Các cấp bộ của Hội phải mật thiết liên lạc (khai hội thường lệ) với các cấp bộ Hội trong quân sự".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.165-166.
NGÀY 20-2
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm tỉnh Thanh Hoá
Trong hành trình lên căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm tỉnh Thanh Hoá. Ngày 20-2-1947, Người gặp và nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá, sau đó gặp các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá.
Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt... nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được". Người căn dặn cán bộ phải học hỏi, cầu tiến bộ, siêng năng, tiết kiệm, thân ái với đồng chí mình, không nên kiêu ngạo, hiếu danh, hiếu vị, "Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân... muốn cho dân tin phải thanh khiết"; phải tuyệt đối trung thành với đoàn thể, phục tùng mệnh lệnh của đoàn thể, hy sinh tính mạng và quyền lợi cho đoàn thể khi cần, "Muốn giữ danh giá của đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo", phóng đại thành tích, che giấu thất bại. Người khẳng định rằng cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhất định thắng lợi.
Trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “Tỉnh Thanh Hoá... muốn trở thành một tỉnh kiểu mẫu, nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ còn thiếu sự điều khiển sắp đặt”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ những việc cần làm của từng ngành văn hoá, quân sự, chính trị, kinh tế trong tỉnh: "Tỉnh Thanh Hoá phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu, thì phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”.
Ngày 21-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào thiểu số Thanh Hoá.
Sau chuyến thăm và làm việc tại Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những ý kiến chỉ đạo đối với lãnh đạo của tỉnh. Người chỉ rõ việc phấn đấu trở thành “Thanh Hoá kiểu mẫu” phải nhằm "mục đích: làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ, người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước".
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.54, 65.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.4, tr.46-47.
NGÀY 1-3
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư các đảng viên Bắc Bộ và Trung Bộ
Thống nhất tư tưởng và hành động trong Đảng, phát huy ưu điểm và khắc phục khuyết điểm nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tình thế chiến tranh, nhất là trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược, ngày 1-3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư các đảng viên Bắc Bộ. Bức thư này được Người sửa đôi chỗ về câu chữ và bớt một phần về nội dung làm thư gửi các đảng viên Trung Bộ.
Trong hai bức thư gửi các đảng viên Bắc Bộ và Trung Bộ, Người căn dặn:
"l. Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải: Sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí.
2. Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ cao. Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm".
Người căn dặn mọi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm như địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hoá. Người vạch rõ những biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của những khuyết điểm trên. Đồng thời, Người chỉ rõ: "Vẫn biết các đồng chí nói chung có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, tháo vát, nhiều sáng kiến. Đó là những tính rất quý báu. Nó làm căn bản cho những tính tốt khác phát triển. Nhưng… chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến thắng lợi hoàn toàn".
Người yêu cầu các đảng viên phải làm được những điều sau đây:
"Đoàn thể phải quân sự hoá, tư tưởng và hành động phải tuyệt đối nhất trí.. "; "Trong các cơ quan chỉ huy chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh..."; "Phải giữ vững giao thông, liên lạc giữa các tỉnh, các khu, giữa Trung Bộ, Nam Bộ và Bắc Bộ".
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.71-79.
NGÀY 4-3
Tổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi
Quán triệt tinh thần Chỉ thị Toàn dân kháng chiến ngày 12-12-1946 của Đảng, cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, Tổng Bí thư Trường Chinh viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật - Cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng từ số 70 (4-3-1947) đến số 81 (l-8-1947). Những bài báo này đã được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản thành sách với nhan đề Kháng chiến nhất định thắng lợi nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến.
Trong tác phẩm này, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đề ra các luận chứng và phát triển toàn bộ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ nhất định thắng lợi của Đảng ta.
Tổng Bí thư vạch rõ kẻ thù chính của nhân dân ta là thực dân Pháp xâm lược, còn nhân dân Pháp là bạn của ta. Mục đích cuộc kháng chiến của nhân dân ta là độc lập và thống nhất thật sự. Để đạt mục đích đó, quân dân ta phải đạt được ba mục tiêu về quân sự: tiêu diệt sinh lực địch trên đất ta; đè bẹp ý chí xâm lược của địch; lấy lại toàn bộ đất nước.
Giành độc lập và thống nhất là mục đích của cuộc kháng chiến song cuộc kháng chiến chống Pháp là sự tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân bằng hình thức chiến tranh. Bởi vậy, nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiện dân chủ và chính sách ruộng đất vẫn phải đi đôi với nhiệm vụ chống đế quốc. Nhưng vì giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp bách nhất cho nên yêu cầu dân chủ không thể đặt ngang hàng với yêu cầu độc lập dân tộc. Chủ trương của Đảng là thực hiện từng bước chính sách ruộng đất với nội dung cụ thể là tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia ruộng đất công, giảm tô và giảm tức tiến lên thực hiện cải cách ruộng đất.
Tác phẩm trình bày rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng, chiến tranh chính nghĩa, là "một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do độc lập, dân chủ và hoà bình".
Tác phẩm luận chứng rõ cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc kháng chiến toàn dân và toàn diện, lâu dài và gian khổ.
Về chính trị: đường lối kháng chiến của Đảng là đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược trên cơ sở củng cố liên minh công nông trong mặt trận dân tộc thống nhất. Trên trường quốc tế, phải cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta chống lại thực dân Pháp và làm cho các lực lượng hoà bình và dân chủ trên thế giới đồng tình và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc chiến tranh nhân dân, do nhân dân tiến hành. Do đó, phải làm cho toàn dân tham gia và phục vụ kháng chiến. Muốn vậy, phải làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân đặng "dốc lực lượng của 25 triệu đồng bào vào cuộc chiến đấu”.
Để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến về chính trị, một mặt phải củng cố chính quyền nhân dân, tăng cường bộ máy kháng chiến, thống nhất quân, chính, dân, quân sự phải phục tùng chính trị; mặt khác, kiên quyết trấn áp bọn phản động, triệt mầm chia rẽ và phá hoại trong nhân dân, đào thải các phần tử phản bội phá hoại, cơ hội, ươn hèn quan liêu, quân phiệt, bè phái khỏi bộ máy kháng chiến.
Về quân sự: phương châm chiến lược chung của cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, vừa đánh vừa giữ gìn, bồi dưỡng và phát triển lực lượng ta, chuyển yếu thành mạnh; đồng thời làm cho địch bị tiêu diệt và tiêu hao, mỏi mắt, chán nản, từ mạnh chuyển thành yếu và bị bại. Chiến thuật của chiến tranh nhân dân là tích cực tiến công, giải quyết mau trong từng trận. Vì vậy, du kích chiến là lối đánh phổ biến nhất trong toàn bộ cuộc kháng chiến và trong cả nước, dần dần vận động chiến được áp dụng nhiều hơn cho tới lúc chiếm ưu thế. Cuộc kháng chiến sẽ trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, và tổng phản công và trong quá trình kháng chiến có thể "có những cuộc đàm phán mới xen vào".
Để kháng chiến lâu dài, phải xây dựng lực lượng vũ trang hùng hậu gồm ba thứ quân: quân chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích. Để tiến hành chiến tranh nhân dân thì phải huy động toàn dân đánh giặc, phải có phương thức tác chiến thích hợp để động viên lực lượng toàn dân vào cuộc chiến đấu với địch ở bất cứ đâu.
Với kinh tế: một mặt, phá hoại kinh tế địch, không cho địch "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh"; mặt khác, xây dựng kinh tế ta theo hướng tự cung tự cấp về mọi mặt, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Chính sách kinh tế ta là nâng cao sức sản xuất đáp ứng nhu cầu của thời chiến "ăn no, mặc ấm, đánh khoẻ”, bước đầu xây dựng kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã, coi trọng nông nghiệp và thủ công nghiệp, chú trọng công nghiệp quốc phòng, tăng thu, giảm chi, thực hành tiết kiệm, giảm nhẹ sự đóng góp của dân, củng cố tiền tệ, giữ vững giá hàng,...
Về văn hoá: đánh đổ văn hoá nô dịch, ngu dân và xâm lược của thực dân Pháp và xây dựng nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng...
Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ rõ, cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhất định thắng lợi nếu Đảng nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin và bám chắc lấy quần chúng nhân dân, phát huy khả năng của toàn dân. Đồng chí khẳng định: "Dưới tay lái tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Mình, con tàu Việt Nam với đoàn thuỷ thủ dũng cảm của nó, nhất định sẽ tránh được mọi đá ghềnh, vượt cơn sóng cả để cập bến vinh quang”.
- Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.6-144.
NGÀY 5-3
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Quốc hội và nhân dân Pháp về vấn đề Việt Nam
Được tin Quốc hội Pháp sắp họp để thảo luận về vấn đề Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tới Quốc hội và nhân dân Pháp một bức thư nói rõ sự thật về vấn đề Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: Bọn thực dân xâm lược Pháp và kẻ đại diện đầu tiên của nước Pháp ở Đông Dương là Tiơry Đácgiăngliơ đã xé bỏ Hiệp định Sơ bộ 6-3- 1946 và Tạm ước 14-9-1946, tiếp tục chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, lập ra cái gọi là "Chính phủ Nam Kỳ và cái nước Cộng hoà Nam Kỳ giả hiệu”, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và nhiều nơi khác..., "áp dụng một chính sách vũ lực, một chính sách xâm lăng, sau cùng đã có kết quả là đưa tới cuộc chiến tranh hiện tại”. Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu chống Nhật, bên cạnh nước Đồng minh trong khi thực dân Pháp đầu hàng Nhật trong cuộc thế chiến thứ hai. Nhân dân Việt Nam đã nhờ sức tranh đấu của mình mà giành lại được độc lập và lập nên nền dân chủ cộng hoà, muốn sống tự do và làm việc trong hoà bình, mong được hợp tác thân ái với dân tộc Pháp. Nhưng thực dân Pháp và kẻ đại diện cho nước Pháp ở Đông Dương đã gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, gieo rắc chồng chất đổ nát và tang tóc trên đất nước Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam muốn độc lập và thống nhất, cương quyết chịu mọi sự hy sinh để bảo vệ những nguyện vọng và quyền lợi của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Quốc hội và nhân dân Pháp, Chính phủ Pháp phải làm chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam vì "máu Pháp và Việt chảy đã nhiều”. Người viết: "Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện".
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.82-84.
NGÀY 20-3
Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành tác phẩm Đời sống mới
Xuân Bính Tuất (1946), trong thư gửi phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
"Năm mới Bính tuất
Phụ nữ đồng bào
Phải gắng làm sao
Gây "đời sống mới"
…
Cần kiệm, liêm chính
Giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống Đời sống mới.
Theo Lời kêu gọi của Người, toàn dân ta dấy lên phong trào xây dựng đời sống mới. Cuộc vận động đời sống mới do Đảng lãnh đạo nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, lòng căm thù bọn cướp nước và bọn bán nước, yêu lao động, yêu chính nghĩa và xây dựng đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng. Nhiều thói hư, tật xấu, phong tục, tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, lễ hội... và nạn cờ bạc, rượu chè, được xoá bỏ.
Để đẩy mạnh phong trào đời sống mới phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc, với bút danh tác giả là Tân Sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới. Tác phẩm này được hoàn thành ngày 20-3-1947, Uỷ ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản trong năm. Trong Lời tựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Trong lúc kháng chiến cứu quốc, chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc".
Dưới hình thức hỏi - đáp, cuốn sách trình bày một cách dễ hiểu, vắn tắt rõ ràng, đầy đủ, thiết thực những nội dung của đời sống mới và yêu cầu cụ thể đối với mỗi người, mỗi gia đình, từng giới và từng ngành trong việc thực hiện đời sống mới.
Tác phẩm Đời sống mới đã được in và phổ biến rộng rãi trong nhân dân cả nước.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.92-110.
TỪ CUỐI THÁNG 3 ĐẾN GIỮA NĂM 1948
Đảng và Nhà nước tăng cường công tác đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bè bạn trên thế giới
Song song với các mặt hoạt động lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Nhà nước ta chú trọng tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước bè bạn và nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Ngày 22-3-1947, Đoàn đại biểu của Việt Nam đi dự Hội nghị Liên Á. Ngày 25-3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Chủ tịch G.Nêru và các vị đại biểu dự Hội nghị Liên Á, nói rõ: “Nhân dân Việt Nam, bộ phận của đại gia đình châu Á, đang tranh đấu giành thống nhất và độc lập. Chúng tôi mong rằng tất cả các nước anh em ở châu Á hết lòng giúp chúng tôi". Tháng 4-1947, Việt Nam đặt cơ quan Đại diện của Chính phủ ở Thái Lan, và đầu năm 1948, đặt cơ quan Đại diện Chính phủ ở Diến Điện. Tháng 2-1948, Chính phủ cử một đoàn ngoại giao đi các nước Thái Lan, Diến Điện, Trung Quốc và Tiệp Khắc để tuyên truyền về cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược. Trước lúc đoàn lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn "đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió... khắc phục mọi sự gian nan để tranh lấy thắng lợi,… xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào".
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.114,384.
- Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.363-391.
TỪ NGÀY 3 ĐẾN NGÀY 6-4
Hội nghị Cán bộ Trung ương Đảng lần thứ hai
Hội nghị Cán bộ Trung ương Đảng lần thứ hai diễn ra từ ngày 3 đến ngày 6-4-1947. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị.
Hội nghị nhận định: chiến tranh đã làm cho kinh tế nước ta đảo lộn, "đời sống nhân dân khó khăn, nhưng ai nấy đều hăng hái tham gia hay ủng hộ kháng chiến". Cuộc kháng chiến tuy gian khó nhưng có đủ căn cứ "làm cho ta rất tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng".
Hội nghị đề ra những chủ trương và chính sách của Đảng trong cuộc kháng chiến:
Về chính trị: củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện chính sách toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài. Hoạt động của Đảng "phải nhằm vào mục đích thống nhất dân, được lòng dân, vì dân".
Về quân sự: chủ trương kháng chiến lâu dài, vừa đánh vừa bồi bổ lực lượng, "chuyển thế yếu của ta thành thế mạnh, chuyển thế mạnh của địch thành thế yếu”. Chiến thuật căn bản của ta là du kích vận động chiến; đó là cách đánh của toàn dân, chứ không chỉ riêng bộ đội, cho nên phải phát động phong trào dân quân và vũ trang toàn dân. Phải xây dựng hậu phương và các căn cứ địa kháng chiến, "nắm chắc thắng lợi bằng cách mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong ruột địch và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà cả ở đồng bằng”. Phải "áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến một cách rộng rãi".
Về kinh tế: chủ trương đồng thời phá kinh tế địch và xây dựng kinh tế ta, vừa kháng chiến vừa kiến quốc và xây dựng nền kinh tế tự túc. Chỉ sản xuất những thứ cần cho mặt trận và đời sống của dân, chú trọng nhất là nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại rồi mới đến công nghiệp, trước hết là công nghiệp quân giới và khai thác...
Về văn hoá: động viên tất cả trí thức, văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến, mở mang nền giáo dục kháng chiến, phát triển bình dân học vụ, tiếp tục vận động đời sống mới, vừa kháng chiến vừa dựng nên một nền văn hoá mới, hợp với trình độ của đông đảo quần chúng nhân dân.
Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cần kíp của Đảng:
Về quân sự: đối với bộ đội, phải nắm vững và rèn luyện bộ đội, thi hành thưởng phạt nghiêm minh, đề cao kỷ luật, kiên quyết tẩy trừ tệ hủ hoá, quân phiệt trong một vài cấp chỉ huy "làm cho bộ đội ta xứng đáng là đội quân cách mạng của nhân dân".
Kiên quyết chuyển sang du kích vận động chiến, chống thói quen đánh trận địa, hay phòng ngự theo lối trận địa, học cách phòng ngư theo lối vận động; dùng những đội du kích quấy nhiễu, dụ địch, đánh tỉa, dùng những đội quân đặc biệt luồn nhanh, sâu vào vùng địch, đánh chớp nhoáng rồi rút nhanh ra khỏi vùng địch, phối hợp dân quân du kích và quân chính quy cùng đánh địch, "dùng cách đánh vòng, đánh sau lưng, đánh bên hông quân địch".
Cấp tốc tổ chức, huấn luyện, vũ trang và lãnh đạo dân quân, phổ biến kinh nghiệm lập "làng kháng chiến", "hoá một phần bộ đội thành dân quân"...
Tổ chức căn cứ địa ở miền núi và đồng bằng; lập những đội công tác vũ trang, đội danh dự trừ gian, chuẩn bị tổ chức các "tiểu tổ bí mật" ở các căn cứ địa sát mặt trận..
Sản xuất cả vũ khí tối tân lẫn vũ khí thô sơ; phổ biến cho dân cách chế tạo vũ khí thô sơ...
Bộ đội phải tham gia sản xuất; tích trữ lúa, gạo, muối, thuốc ký ninh tại các kho bí mật và phân tán.
Về công tác chính quyền: Chính phủ Trung ương lãnh đạo thống nhất nhưng chính quyền địa phương được giao quyền rộng rãi; các Uỷ ban kháng chiến thống nhất và điều chỉnh việc lãnh đạo, mọi phương diện hoạt động của nhân dân trong thời kỳ kháng chiến, cần gạt bỏ những hiểu lầm hoặc xích mích giữa các cơ quan hành chính và Uỷ ban kháng chiến.
Về vấn đề ngoại giao: không bỏ lỡ cơ hội nào đàm phán nếu Pháp nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, nhưng cần làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rằng "chưa đánh đến hết giai đoạn thứ ba của cuộc trường kỳ kháng chiến, thì dù có dàn xếp cũng chưa thể giải quyết hẳn được sự xung đột giữa ta và thực dân Pháp"; "không được sơ hở để quân địch lợi dụng đàm phán hay đình chiến mà đánh úp ta"; tranh thủ sự đồng tình của nhân dân châu Á và thế giới đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam.
Về tài chính, kinh tế: Nhà nước bỏ tiền cho nông dân vay tín dụng để tăng gia sản xuất; tổ chức tiếp tế cho các nơi thiếu gạo, muối; kiểm soát ngoại thương vừa phải và hợp lý để nhà buôn khỏi oán...
Sản xuất trong chi tiêu; trữ tiền Đông Dương để dùng cho ngoại thương và vùng địch tạm chiếm; cổ động dân tiêu tiền Việt Nam; trừng trị bọn đầu cơ, buôn bán tiền để giữ vững giá bạc Việt Nam.
Hội nghị còn đề ra những nhiệm vụ cần kíp về di cư, tản cư, giáo dục, chống chính quyền bù nhìn, về dân vận...
Hội nghị đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ phát triển và củng cố Đảng. Hội nghị chỉ rõ: "Tiếp tục phát triển đoàn thể theo khẩu hiệu làm cho đoàn thể thành một đoàn thể quần chúng. Nhưng phải tránh lối phát triển ô hợp. Đặc biệt chú trọng phát triển Đảng trong quân đội, dân quân trong các trại sản xuất, các xưởng mới lập trong kháng chiến toàn quốc, trong vùng địch tạm chiếm, ở Lào và Miên. Trung ương Đảng sẽ chọn và bổ sung một số uỷ viên Trung ương Đảng, chấn chỉnh các tiểu ban của Trung ương, các đảng đoàn trong Chính phủ và các hội quần chúng, quy định nguyên tắc làm việc giữa các cấp uỷ Đảng và các đảng đoàn. Hội nghị nhấn mạnh việc "Tẩy rửa các khuyết điểm sai lầm theo bức thư chỉ thị của Cụ3, nhất là ba bệnh lớn của cán bộ ta hiện nay: chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa cô độc, hẹp hòi, óc địa phương”.
Hội nghị kết luận: "Máu các chiến sĩ hy sinh vì nước đang chảy. Chúng ta có bổn phận báo thù cho họ, noi chí họ.
Bổn phận những người cộng sản chúng ta là phải dũng cảm đi đầu trong Mặt trận thống nhất dân tộc chống quân xâm lăng, giành thống nhất và độc lập cho Tổ quốc".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.8, tr.173-206.
TỪ THÁNG 4 ĐẾN CUỐI NĂM
Các địa phương đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa kháng chiến
Dự kiến thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược nước ta, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt việc tiếp tục xây dựng, tăng cường căn cứ địa Việt Bắc. Trong Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25-ll-1945), Đảng ta đã đặt ra vấn đề chọn "những địa điểm chiến lược lợi hại: tiến có thể đánh, lùi có thể giữ" ở vùng chiến khu, từng tỉnh, từng huyện. Từ giữa năm 1946, việc xây dựng căn cứ địa Việt Bắc được tiến hành khẩn trương. Ở Nam Bộ, Chiến khu Đ ở Biên Hoà được xây dựng từ tháng 10-1945, các chiến khu U Minh, Đồng Tháp Mười xây dựng đầu năm 1946. Các căn cứ địa kháng chiến được xây dựng ở nhiều tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, nhất là từ khi có Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Trung ương tháng 4-1947, các khu, tỉnh, huyện và Trung ương đều tăng cường việc xây dựng, mở rộng, củng cố và phát triển các căn cứ kháng chiến. Căn cứ địa Việt Bắc rộng lớn được xây dựng, phát triển trở thành nơi đặt các cơ quan lãnh đạo đầu não của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Quân đội, nơi đặt Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.
Căn cứ địa Đồng Tháp Mười trở thành khu trung tâm đầu não kháng chiến Nam Bộ, nơi đứng chân của Xứ uỷ, Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, Sở Công an Nam Bộ, Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ, các cơ quan quân sự, chính trị, các binh công xưởng.
Vùng tự do Khu IV bao gồm ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng tự do Khu V bao gồm bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên trở thành căn cứ địa hậu phương kháng chiến của Tnmg Bộ và nước bạn Lào.
Nhiều căn cứ địa kháng chiến đã được xây dựng ngay trong vùng địch kiểm soát, kể cả ven đô các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Huế.
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1979, t.II, tr.122-123.
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.I, tr.276-280.
NGÀY 11-5
Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến với Pôn Muýt
Ngày 25-4-1947, Chính phủ ta gửi cho Chính phủ Pháp một bức thư (do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám ký), đưa ra đề nghị đình chiến để mở cuộc đàm phán giảng hoà giữa hai nước Việt - Pháp.
Ngày 11-5-1947, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương Bôlae (Bollaert) phái người đại diện là Giáo sư sử học Pháp Pôn Muýt (Phút Mus) tới thị xã Thái Nguyên gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hoàng Minh Giám. Trong cuộc hội kiến này, phía Pháp công nhận Việt Nam thống nhất và độc lập nhưng lại đòi phía Việt Nam phải chịu bốn điều kiện: 1. Quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho quân đội Pháp. 2 Quân đội Pháp được quyền tự do đi lại và đóng quân khắp đất nước Việt Nam. 3. Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp tất cả những người Pháp và người Việt thân Pháp đã bị phía Việt Nam bắt. 4. Chính phủ Việt Nam phải giao cho Pháp tất cả những người nước ngoài đã chạy sang phía Việt Nam. Tóm lại, Pháp đòi Việt Nam phải đầu hàng hòng thực hiện dã tâm xâm lược.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cự tuyệt những điều kiện của phía Pháp; cuộc hội kiến không mang lại kết quả.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.207-213.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.126-127.
NGÀY 15-5
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh cho phép lưu hành trong toàn quốc một số loại giấy bạc
Phục vụ cho nhu cầu của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, ngày 15-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 48-SL cho phép lưu hành trong toàn quốc các loại giấy bạc lđ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, l00đ, 500đ.
Tiếp đó, do yêu cầu của từng miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các Sắc lệnh số 231-SL/M ngày 18-7-1947 cho phép phát hành tại Nam Trung Bộ các loại tín phiếu lđ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ có giá trị như giấy bạc Việt Nam với tổng số giá trị không quá một trăm triệu đồng; Sắc lệnh số 67-SL ngày 26-7-1947 cho phép Uỷ ban hành chính Nam Bộ phát hành công trái lần thứ hai để lấy tiền chi dùng trong khu vực Nam Bộ và ấn định số tiền vay nhiều nhất là năm triệu đồng, phát hành 5 kỳ, lãi suất không quá 5%. Ngày 1-11-1947, Chính phủ cho phép Nam Bộ phát hành giấy bạc riêng cho Nam Bộ (chủ yếu là Tây Nam Bộ).
- Việt Nam Dân quốc Công báo, số 7, tháng 5-1947.
NGÀY 16-5
Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Trung ương Đảng (tháng 4-1947), Nha Công an tổ chức Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất tại Tuyên Quang vào ngày 16-5-1947. Hội nghị có 15 đại biểu tham dự do đồng chí Tổng Giám đốc Nha Công an chủ trì. Do tình hình chiến sự, các đại biểu Khu II và các địa phương từ Khu IV trở vào không đến dự Hội nghị được.
Sau khi nhận xét, đánh giá tình hình, Hội nghị xác định nhiệm vụ của công an trong thời gian tới là: tiễu phỉ, trừ gian, nắm tình hình địch; kiểm soát nội bộ; có chính sách với Công giáo và dân tộc; lập đội danh dự trừ gian tổ chức mạng lưới giao thông, xây dựng tổ chức công an; cấp giấy thông hành và bảo vệ mùa màng cho nhân dân.
Hội nghị đề ra những công tác cụ thể:
Đối với Việt gian, do thám, phải thận trọng, "tránh bắt bừa, bắt ẩu” và cần có sự phân biệt các hạng Việt gian, đáng chú ý là bọn đặc vụ Tưởng và thổ phỉ.
Về xây dựng cơ sở trong vùng địch, phải chú trọng những trí thức, nhất là những nhân sĩ đã tham gia Chính phủ, có cảm tình với cách mạng để họ nắm tình hình và cung cấp tin tức cho ta.
Về lập đội danh dự trừ gian và công an xung phong trong vùng địch, công an phải trở lại vùng địch để gây cơ sở cho các cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể về hoạt động, lập các đội công an xung phong vũ trang tuyên truyền để áp đảo bọn bù nhìn tay sai, gây cơ sở giao thông liên lạc, lượm tin, trừ Việt gian, diệt bọn địch đi lẻ tẻ để lấy tài liệu.
Về công tác kiểm soát nội bộ, đề phòng địch đưa người vào các cơ quan ta.
Về chính sách tôn giáo và dân tộc, phải đẩy mạnh công tác nắm tình hình các vùng Công giáo và vùng dân tộc thiểu số, cần phải kiên quyết hơn đối với số linh mục phản động.
Về tổ chức ngành công an, bỏ cấp Sở Công an Bắc Bộ và Sở Công an Trung Bộ, lập các cơ quan công an khu, ty, quận… để phù hợp với thời chiến, làm cho công an gần dân hơn; cần tăng cường biên chế cho cơ quan công an ở Nha và Khu để có đủ người làm việc.
Đối với nhân dân, cần quy định sự đi lại của dân để tránh lộn xộn và tập trung vào việc sản xuất; công an phải giúp dân bảo vệ đê điều và mùa màng.
Hội nghị còn định ra một số công tác khác: Nha và các Ty công an phải mở các lớp huấn luyện cho công an viên; áp dụng các biện pháp kết hợp giáo dục với răn đe những đối tượng mà địch có thể lợi dụng lập chính quyền bù nhìn ở các cấp; đánh lạc hướng tin tức địch thu được,...
- Bộ Nội vụ, Viện Khoa học Công an: Công an nhân dân Việt Nam, lịch sử biên niên (1945-1954), Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 117-119.
NGÀY 22-5
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về những âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp
Tiếp theo việc Pôn Muýt, đại diện của Cao uỷ Pháp ở Đông Dương Bôlae đưa ra những điều kiện "bắt ta đầu hàng nhục nhã mà nuốt chửng cái bánh vẽ độc lập và thống nhất giả hiệu”, thực dân Pháp xúc tiến việc lập ra cái gọi là Mặt trận liên hiệp quốc gia (Front d’ union nationale) để tiến tới lập chính phủ bù nhìn.
Trước động thái mới của quân xâm lược, ngày 22-5-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị gửi cho toàn Đảng vạch trần dã tâm và thái độ của Pháp, nêu rõ lập trường "kháng chiến đến toàn thắng” của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta, chỉ ra những biện pháp chống âm mưu và hành động mới của thực dân Pháp.
Chỉ thị nêu rõ: "Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh là Chính phủ duy nhất hợp pháp của nước Việt Nam,... mới có quyền ngoại giao với Pháp hoặc với một nước ngoài nào khác. Kẻ nào mạo nhận là thay mặt dân, đứng ra đàm phán với Pháp đều bị quốc dân coi là Việt gian, bị Chính phủ xử vào tội phản quốc, thông mưu với giặc và sẽ bị trừng trị theo pháp luật... Pháp muốn giải quyết vấn đề Việt Nam thì chỉ có một cách là thẳng thắn mở cuộc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh và công nhận Việt Nam thống nhất và độc lập thực sự trong khối Liên hiệp Pháp".
Chỉ thị đề ra nhiệm vụ trước mắt của Đảng là phải vạch rõ mưu gian thâm độc của thực dân Pháp trước nhân dân Việt Nam, trước dư luận nhân dân Pháp và thế giới, đồng thời tạo nên một phong trào sâu rộng chống bọn phản động Pháp là bọn bù nhìn, ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Chính phủ bằng những hình thức sau:
- Toàn quân và toàn dân đánh địch mạnh mẽ hơn để "dùng hành động quân sự mà trả lời cho thực dân Pháp rằng mưu gian của chúng không lừa được quân và dân Việt Nam".
- Tổ chức các cuộc mít tinh vạch trần mưu gian của Pháp, tỏ thái độ kiên quyết chống bọn phản động Pháp và mọi hạng bù nhìn, kiến nghị Chính phủ và Mặt trận kiên quyết đối phó với chúng.
- Các đoàn thể yêu nước khai hội gửi điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ bày tỏ thái độ hoàn toàn ủng hộ; cho các tổ chức dân chủ ở Pháp yêu cầu kiên quyết can thiệp với Chính phủ Pháp bắt bọn phản động thuộc địa, bọn quân phiệt thực dân phải đình chỉ kế hoạch gian dối và đàm phán ngay với Chính phủ Hồ Chí Minh.
- Thực hiện các hình thức tuyên truyền (truyền đơn, áp phích, báo chí, diễn thuyết, đài phát thanh...), để nêu rõ lập trường kháng chiến của nhân dân ta, vạch mặt bọn xâm lược Pháp...
- Xiết chặt khối đại đoàn kết toàn dân làm nổi bật vai trò của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam trong cuộc vận động này.
Chỉ thị chỉ rõ: "muốn độc lập và thống nhất cho ra trò, phải đoàn kết nhất trí hơn nữa, kháng chiến kiên quyết hơn nữa. Tự do không xin mà được. Tự do phải chiến đấu mà giành lấy".
Tiếp theo Chỉ thị, cuối tháng 5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, đại diện Cao uỷ Pháp Bôlae. Lời kêu gọi có đoạn: "Chúng ta quyết không chịu làm "vong quốc nô"... Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào. Chúng ta phải kiên quyết hy sinh chiến đấu để đánh tan bọn quân phiệt thực dân, để tranh lấy thống nhất và độc lập".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.207-213.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.126-127.
NGÀY 24-5
Hội nghị Dân quân toàn quốc lần thứ nhất
Tháng 2-1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư tổ chức mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi vào dân quân, quy định nhiệm vụ của dân quân tự vệ và nhiệm vụ của các đội du kích địa phương. Tháng 4-1947, Hội nghị Cán bộ Trung ương Đảng lần thứ hai đặt cho các cấp uỷ Đảng nhiệm vụ xúc tiến tổ chức, huấn luyện, vũ trang và lãnh đạo dân quân, hoá một phần bộ đội thành dân quân. Từ chỗ là những tổ chức vũ trang của quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể Cứu quốc xây dựng tại địa phương, dân quân tự vệ và du kích trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của Nhà nước do cơ quan quân sự chỉ huy. Vai trò của dân quân du kích ngày càng trở nên quan trọng trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện.
Ngày 24-5-1947, Hội nghị Dân quân toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập họp tại Việt Bắc. Dự Hội nghị có đông đủ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy dân quân, tự vệ và du kích trong cả nước.
Hội nghị đã kiểm điểm về hoạt động của các lực lượng dân quân, tự vệ và du kích, rút ra những ưu, nhược điểm, chỉ rõ những thiếu sót để đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh du kích, thực hiện toàn dân đánh giặc.
Hội nghị đã bàn việc thống nhất tổ chức dân quân, tự vệ và du kích trong cả nước, công bố 10 lời thề và 12 điều kỷ luật dân vận của dân quân, tự vệ và du kích.
Nhân dịp này, ngày 27-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho nam nữ chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc. Người khen ngợi và đánh giá cao vai trò của lực lượng dân quân, tự vệ và du kích. Người viết: "Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã". Người căn dặn các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích những điều cụ thể cần luôn ghi nhớ và thực hiện trong nội bộ đội ngũ, đối với dân, đối với công việc, đối với địch.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.173-206.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.132-133, 767.
- Bộ Quốc phòng: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.48-49.
NGÀY 25-5
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho anh em văn hoá và trí thức Nam Bộ
Trong thư, Người thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của giới văn hoá và trí thức Nam Bộ.
Người nêu rõ: Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hoá cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức được phát triển tự do. Ngòi bút của các anh em văn hoá và trí thức Nam Bộ cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp kháng chiến. Đồng thời, Người căn dặn: nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng cương quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em văn hoá, trí thức là lớp hiểu biết trước, càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.131.
NGÀY 8-6
Trung ương Đảng ra Chỉ thị đối với tờ Sự thật
Chỉ thị đề cao vai trò của tờ Sự thật "là một công cụ sắc bén để tuyên truyền cổ động: tuyên truyền chính sách và chủ nghĩa của đoàn thể cổ động toàn dân kháng chiến; tờ báo cũng là một lợi khí để giác ngộ nhân dân, đưa nhân dân vào tổ chức cách mệnh, bày vẽ công tác cách mạng cho hàng vạn cán bộ và đồng chí, cho hàng triệu nhân dân yêu nước.. muốn giác ngộ cho quần chúng nhân dân và huấn luyện cho đảng viên về lý luận và thực hành không thể không có tờ báo".
Chỉ thị vạch ra những "khuyết điểm" của tờ báo như: chưa phản ánh được sinh hoạt của đoàn thể; ít bàn về công tác; ít phê bình các sai lầm, khuyết điểm của các tổ chức, cơ quan; chưa có mục tranh luận giữa những điểm chống nhau; chưa có người ngoài đoàn thể bày tỏ ý kiến trên mặt báo.
Chỉ thị đưa ra những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên: Bộ biên tập ít người lại không được chuyên trách; các đồng chí phụ trách các ngành công tác trọng yếu không viết bài cho tờ báo; không có thông tin viên và đặc phái viên nằm ngay trong quần chúng; cấp trên chưa chú ý giúp đỡ mọi mặt; vì hoàn cảnh chiến tranh nên việc in báo phát hành chậm và thất thường.
Trên cơ sở đó, Chỉ thị đề ra nhiệm vụ của các đồng chí Trung ương đối với tờ Sự thật trong thời gian tiếp theo như: Ban tuyên truyền cổ động Trung ương phải chọn người vào Bộ biên tập cho tờ báo. Các đồng chí phụ trách các ngành công tác chính, bắt buộc phải viết bài gửi cho Sự thật. Mỗi khu ít nhất phải có một đồng chí trong khu uỷ làm thông tin viên, hay biên tập viên cho báo. Gắng cho báo ra đúng và đều mỗi tuần một kỳ. Tất cả các đồng chí đảng viên phải bắt buộc nghiên cứu Sự thật, thảo luận những bài quan trọng.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.214-218.
TỪ NGÀY 16 ĐẾN NGÀY 17-6
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị (mở rộng)
Sau 6 tháng kháng chiến toàn quốc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng đề ra một số công tác trước mắt nhằm củng cố Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và kiện toàn bộ máy của Đảng ở các cấp, trong quân đội và chính quyền.
Hội nghị đã bàn và quyết định những nội dung chính như sau:
Về hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội, ở toàn quân, lập Uỷ ban đảng vụ quân đội; ở khu và trung đoàn là Ban Đảng vụ khu và trung đoàn.
Hội nghị quyết định những vấn đề cấp bách khác:
- Tăng cường giao thông liên lạc cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ, chú ý mở đường hành lang cho việc này; chuẩn bị cử một phái đoàn của Trung ương gồm có đại biểu Đảng, quân sự, hành chính, vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ...
- Lập Phân khu Bình - Trị - Thiên của Khu IV, chỉ định cán bộ phụ trách phân khu; phê phán nghiêm khắc cách làm việc và tinh thần kỷ luật kém, nặng óc địa phương và óc bản vị của các đồng chí phụ trách Khu IV. Chú trọng xây dựng căn cứ Thanh - Nghệ - Tĩnh và vùng Trấn Ninh.
- Trung ương nắm danh sách cán bộ Đảng từ cấp tỉnh trở lên và cán bộ quân sự từ trung đoàn trở lên,…
- Mở trường huấn luyện, đào tạo huấn luyện viên cho các tỉnh.
- Đặt trách nhiệm cho các cán bộ phụ trách các ngành, các khu phải viết bài cho báo Sự thật; cho ra tạp chí Sinh hoạt của Đoàn thể Nam Bộ và Trung Bộ ra Nội san.
- Kiện toàn cơ quan chỉ đạo điều động cán bộ cấp dưới tăng cường cho cấp trên, thi hành kỷ luật một số cán bộ do Trung ương quản lý.
Hội nghị cũng kiểm điểm việc thi hành Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Trung ương (4-1947) trên các mặt: đạo đức của cán bộ, đảng viên, tăng gia sản xuất của bộ đội, huấn luyện cán bộ...
Nghị quyết của Hội nghị đã đáp ứng kịp thời yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t.8, tr.219-224.
6 THÁNG ĐẦU NĂM
Di chuyển máy móc, nguyên vật liệu tới các căn cứ địa kháng chiến
Để bảo đảm cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh, Đảng và Chính phủ chủ trương di chuyển máy móc, nguyên vật liệu từ các nơi đang xảy ra chiến sự và các vùng có thể xảy ra chiến sự đến các căn cứ địa kháng chiến của Trung ương, các khu và các tỉnh. Trong điều kiện không có phương tiện vận tải cơ giới, lại qua nhiều chặng đường bị phá hoại, bị địch bắn phá, qua đường rừng núi, việc vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn. Được nhân dân tận tình giúp đỡ, với tinh thần dũng cảm, chịu đựng khó khăn, mưu trí, cán bộ, công nhân ta đã vận chuyển hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu tới các căn cứ địa. Đặc biệt là ta đã vận chuyển được 2.500 tấn máy móc từ Quảng Yên men theo vùng tự do lên Việt Bắc.
Những máy móc và nguyên vật liệu đó là cơ sở vật chất ban đầu để ta lập nên những công binh xưởng, những nhà máy sản xuất ra vũ khí, vải, giấy để đánh giặc và bảo đảm đời sống nhân dân trong kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu: Toàn quốc tự cấp tự túc, địa phương tự lập để kháng chiến lâu dài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc.
- Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.103.
NGÀY 7-7
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về cách kiểm thảo theo bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đảng viên Bắc Bộ và Trung Bộ ngày 1-3-1947
Nhận thấy việc kiểm thảo theo bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "một việc khẩn thiết của tất cả các đồng chí trong Đảng”, song "nhiều nơi đã làm một cách chiếu lệ”, ngày 7-7-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc kiểm thảo. Chỉ thị đã vạch ra những điều chủ yếu sau đây:
Về ý nghĩa và mục đích bức thư, Chỉ thị nêu rõ: lãnh tụ Hồ Chí Minh mong muốn Đảng "ngày càng đoàn kết chặt chẽ và thêm mạnh mà để gánh vác nhiệm vụ lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến giành thống nhất độc lập cho dân tộc". Đồng thời, vì Hồ Chủ tịch đã nhận thấy những khuyết điểm về tư tưởng, hành động của các đ.c4 có thể làm cản trở bước tiến của đoàn thể, nên Người chỉ thị cho chúng ta biết cách sửa chữa để được xứng đáng là những người hội viên của Hội".
Về kế hoạch kiểm thảo, Chỉ thị nêu rõ:
Việc kiểm thảo cần theo các nguyên tắc: tất cả các cấp bộ từ chi bộ trở lên đều phải kiểm thảo; thời gian kiểm thảo kể từ ngày tổng khởi nghĩa đến tháng 7 năm 1947, kiểm thảo cấp mình đồng thời kiểm thảo cấp trên trực tiếp và cấp dưới trực tiếp; kiểm thảo cả những khuyết điểm mà bức thư chưa vạch ra; kiểm thảo phải căn cứ vào thời gian, không gian, chứ không được chỉ trích một cách vu vơ; luôn kiểm điểm mình, chứ không chỉ kiểm điểm một lần rồi thôi; phải ấn định thời gian gột rửa sai lầm.
Trước khi kiểm thảo, cần chuẩn bị đầy đủ: nghiên cứu kỹ bức thư rồi tự liên hệ tư tưởng và hành động của mình, tìm ra nguồn gốc sai lầm phải chuẩn bị đủ tài liệu về chủ trương và công tác của cấp uỷ và chi bộ để tiện xem xét.
Trong khi kiểm thảo, việc kiểm thảo tiến hành theo nguyên tắc "tự nhận định, tự giác theo tinh thần tự chỉ trích của hội chứ không lấy đa số quyết định", "chú ý tới những nguyên tắc chung, chứ đừng quá chú trọng về những sự vụn vặt”, “Hết sức tránh sự xoi mói có tính cách ghen ghét để gây thành ác cảm cá nhân”; vạch sai lầm của các đồng chí, đồng thời "phải tìm nguyên nhân và phương pháp bổ khuyết cho các đồng chí”, kiểm thảo từng cá nhân, đồng thời phải kiểm thảo cả chủ trương của cấp bộ.
Sau khi kiểm thảo, mỗi đồng chí phải cương quyết tẩy rửa sai lầm, phát huy ưu điểm, nhắc nhở nhau sửa chữa sai lầm.
Cuối Chỉ thị, Ban Thường vụ Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng: "Chúng ta là những người đã hy sinh tất cả cho sự nghiệp của dân tộc, của hội, thì chúng ta phải nâng cao tinh thần tự ngã chỉ trích. Kiểm thảo theo bức thư của Hồ Chủ tịch phải là việc học tập nghiên cứu hằng ngày trong mỗi đồng chí... để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo giành thắng lợi cho dân tộc”.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.225-228.
NGÀY 13-7
Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Về việc thi hành kế hoạch giúp đỡ đồng bào di cư, tản cư
Sau nửa năm thực hiện di cư, tản cư, Đảng ta nhận định công tác này “là một thất bại", vì ta quan niệm việc di cư, tản cư không thực tế, chủ quan, thi hành không có kế hoạch. một bộ phận đồng bào tản cư tự động trở về; số còn lại gặp nhiều khó khăn trong đời sống.
Trước tình hình đó, ngày 13-7-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị cho các khu có đồng bào tản cư đến, phải thành lập Uỷ ban phụ trách công tác tài chính trong các trại di cư để gây cơ sở Đảng và Mặt trận, tuyên truyền nâng cao tinh thần đồng bào; lập các tiểu ban di cư chuyên lo thực hiện chương trình di cư.
- Các Khu III, Khu II, Khu XI có đồng bào di cư trở về, phải cử cán bộ, dân chúng đến uý lạo, cứu tế và tuyên truyền tổ chức.
Thực hiện Chỉ thị của Trung ương, các địa phương đã thành lập các tiểu ban đón tiếp đồng bào tản cư, sắp xếp công ăn việc làm, nơi ăn chốn ở cho đồng bào. Chỉ tính riêng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có hơn 500 trại sản xuất thu hút 7 vạn đồng bào tản cư.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.243-247.
NGÀY 27-7
Ngày Thương binh toàn quốc
Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm Ngày Thương binh để nhân dân ta có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, một Hội nghị trù bị với sự tham dự của đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khu và tỉnh được triệu tập họp tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Hội nghị đã nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7- 1947 làm Ngày Thương binh toàn quốc trong cả nước.
Ngày 17-7-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ban thường trực của Ban tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc nói rõ ý nghĩa của ngày kỷ niệm và kêu gọi mọi người có hành động thiết thực giúp đỡ thương binh. Trong thư, Người nói: "Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.
Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy... Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh".
Nhân ngày này, Người xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu Người, một tháng lương, tiền một bữa ăn của Người và của cả các nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch, cộng là 1.127 đồng. Người đề nghị đồng bào ta "vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương", đó là một việc nghĩa, mọi người tự động làm, tuyệt đối không cưỡng bức. Người còn nói: "các cụ già thượng thọ, các cháu bé sơ sinh, các bộ đội các mặt trận, những đồng bào đang đau yếu, thì không nên nhịn".
Bức thư đầu tiên của Người nhân dịp ngày thương binh đã được Ban tổ chức trịnh trọng đọc trước cuộc mít tinh trọng thể có khoảng 2.000 người dự vào ngày 27-7-1947 tại Đại Từ.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, đồng bào ta đã phát huy truyền thống Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, sôi nổi xung phong ủng hộ, giúp đỡ, chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ. Đó là một nguồn động viên, cổ vũ các chiến sĩ đang đánh giặc, giữ nước, giữ làng.
Từ đó, ngày 27-7 hằng năm đã trở thành Ngày Thương binh liệt sĩ của nước ta.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.175-176, 767.
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử đảng (1945-1954), Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1979, t.II, tr.130-131.
TỪ NGÀY 28-7 ĐẾN NGÀY 2-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về Phát triển đảng viên “Lớp Tháng Tám"
Ngày 28-7-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc tổ chức "Lớp Tháng Tám" nhằm "phát triển Hội và kỷ niệm cuộc Khởi nghĩa Tháng Tám một cách đặc biệt". Chỉ thị nêu rõ: Những đồng chí được kết nạp trong đợt này gọi là đồng chí "Lớp Tháng Tám" để các đồng chí ấy cũng như toàn Đảng nhận rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời nhận rõ nhiệm vụ phát triển tinh thần và sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám. “Lớp Tháng Tám", được tổ chức từ ngày 19-8 đến ngày 2-9-1947. Những người được giới thiệu vào “Lớp Tháng Tám" cũng như lệ thường, nhất thiết phải là những người hăng hái, tích cực, trung thực, tán thành chủ nghĩa cộng sản, có lý lịch rõ ràng; tuyệt đối không vì cảm tình riêng, vì sự gần gũi mà giới thiệu vào Đảng một cách ẩu thả, làm cho thành phần của Đảng trở nên phức tạp. Các cấp bộ Đảng phải chuẩn bị mở lớp huấn luyện ngay cho những đảng viên "Lớp Tháng Tám" về chủ nghĩa cộng sản, công tác và đạo đức cách mạng.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.250-251.
NGÀY 4-8
Trung ương Đảng ra Nghị quyết Về thống nhất các Uỷ ban Kháng chiến và hành chính từ xã đến tỉnh
Do yêu cầu của công cuộc kháng chiến kiến quốc và để tiện cho việc điều hành từ Trung ương xuống cơ sở, ngày 4-8-1947, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về thống nhất các Uỷ ban Kháng chiến và hành chính từ xã đến tỉnh.
Theo Nghị quyết này, các Uỷ ban Hành chính kiêm kháng chiến cũ sẽ đổi là Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính để cho công việc kháng chiến được đặc biệt chú trọng. Chủ tịch Uỷ ban mới này sẽ được bầu lên tuỳ theo năng lực (có thể là Chủ tịch Kháng chiến hoặc hành chính cũ).
Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp bộ Đảng sửa soạn vận động trước để có thể đưa các đồng chí đủ năng lực vào phụ trách Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính. Ở địa phương chỉ cần một đồng chí làm Phó chủ tịch cũng điều khiển được mọi công việc thì nên đưa người tỉnh ngoài có cảm tình danh vọng và có năng lực lên làm Chủ tịch để có thể hiệu triệu toàn dân tham gia kháng chiến. Nếu Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính là Chủ tịch kháng chiến cũ thì nên để Chủ tịch hành chính cũ giữ chức Phó chủ tịch để cho công việc được dễ dàng.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.256.-257.
NGÀY 14-8
Ban Thường vụ Trung ương Đảng Chỉ thị cho các Bí thư Khu uỷ chú trọng về công tác vận động binh lính Việt Nam trong hàng ngũ quân đội Pháp
Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", “dùng người Việt đánh người Việt", thực dân Pháp đã tổ chức ra những đội quân mà thành phần là những phần tử Việt gian phản động và một số đông người bị chúng dụ dỗ hoặc bắt ép theo chúng.
Ngày 14-8-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị cho các đồng chí Bí thư Khu uỷ đặc biệt chú trọng đến công tác vận động binh lính Việt Nam trong hàng ngũ quân đội Pháp".
Chỉ thị nói rõ: "Muốn thực hiện nhiệm vụ này, phải đặt kế hoạch cụ thể, vạch các hình thức tuyên truyền cho thích hợp, nêu những khẩu hiệu đại đoàn kết, nêu cao tinh thần quốc gia để kêu gọi những binh lính lầm đường trở lại với Tổ quốc".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.260.
NGÀY 31-8
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, phương pháp làm việc của các Đảng đoàn, các cơ quan chuyên môn của Đảng và các chi bộ đặc biệt ở các cấp
Trước tình hình các cấp uỷ Đảng vẫn xao lãng việc lãnh đạo các Đảng đoàn, các cơ quan chuyên môn của Đảng và các chi bộ đặc biệt ở các cấp, ngày 31-8-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn, phương pháp làm việc của các tổ chức ấy.
Về tổ chức Đảng đoàn, Ban Thường vụ quy định:
Đảng đoàn do Đảng chỉ định, gồm từ hai đảng viên trở lên được tổ chức ở mỗi đoàn thể quần chúng hay cơ quan chính quyền. Những đảng viên trong Đảng đoàn của một đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm mang nghị quyết của cấp bộ Đảng thi hành trong đoàn thể quần chúng ấy.
Trong chính quyền nhân dân, Đảng chỉ tổ chức Đảng đoàn trong Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Hành chính kháng chiến các cấp. Trong các cấp chỉ huy bộ đội, không có Đảng đoàn, Tổ chức Đảng trong quân đội theo hệ thống đặc biệt: đơn vị lập chi bộ là đại đội, trên cùng là Trung ương Quân uỷ. Trong các bộ phận chuyên môn trực thuộc Chính phủ và Uỷ ban Hành chính như: Bộ Tài chính, Bộ Canh nông, các cơ quan công an,... không có Đảng đoàn, nhưng để thống nhất hành động, khi Đảng đoàn cơ quan hành chính các cấp họp bàn đến vấn đề của ngành chuyên môn nào, phải triệu tập các đồng chí phụ trách ngành ấy.
Đảng đoàn ở cấp nào do cấp uỷ cấp ấy lập ra.
Nhiệm vụ của Đảng đoàn là đem chính sách Đảng và Nghị quyết của cấp uỷ Đảng tương đương thi hành trong các cơ quan và đoàn thể quần chúng, mở rộng ảnh hưởng của Đảng, giữ quyền lãnh đạo của Đảng.
Đảng đoàn cấp nào do cấp uỷ Đảng bộ cấp ấy chỉ huy. Quyền hạn của Đảng đoàn phải được thực hiện theo Điều lệ Đảng.
Đảng đoàn các cấp không có liên lạc và quyền hạn gì với nhau, trừ trường hợp đặc biệt thì có thể liên lạc với nhau để giải quyết một vấn đề nào đó nhưng phải thông qua sự giới thiệu của cấp uỷ Đảng.
Phương pháp làm việc căn bản của Đảng đoàn là phương pháp đề nghị, vận động, thuyết phục, chứ không phải dùng mệnh lệnh bắt quần chúng thi hành nghị quyết của Đảng và Đảng đoàn phải tôn trọng hệ thống tổ chức độc lập và sáng kiến của tổ chức quần chúng do mình lãnh đạo.
Cấp uỷ Đảng phải ra chỉ thị, sinh hoạt đều đặn với Đảng đoàn, Đảng đoàn không được xa lìa sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng.
Về tổ chức các cơ quan chuyên môn của Đảng, Ban Thường vụ quy định:
Từ trên xuống dưới, các cấp bộ Đảng có các cơ quan chuyên môn chính như Tổ chức, Kiểm soát, Tuyên truyền, huấn luyện, Tài chính, Dân vận. Các cơ quan chuyên môn của Trung ương gọi là Bộ, của khu, tỉnh, huyện gọi là Ban; các cơ quan trực thuộc bộ gọi là ban, trực thuộc ban gọi là tiểu ban. Cơ quan chuyên môn cấp nào do cấp uỷ cấp ấy lập ra, không có hệ thống dọc các cơ quan chuyên môn.
Nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn là lo thực hiện những công tác chuyên môn của Đảng. Cơ quan chuyên môn có quyền quyết định mọi vấn đề về chuyên môn miễn là hợp với chính sách chung của Đảng. Cơ quan chuyên môn ở cấp bộ nào do cấp uỷ cấp ấy lập ra và cấp uỷ có toàn quyền thành lập hay giải tán, thay đổi các nhân viên. Cơ quan chuyên môn các cấp không có quyền hạn gì với nhau. Cơ quan chuyên môn cấp trên có thể ra chỉ thị cho cơ quan chuyên môn cấp dưới, song chỉ thị ấy phải được cấp bộ Đảng tương đương thông qua và coi như là nghị quyết của cấp bộ ấy.
Về tổ chức các chi bộ đặc biệt, Nghị quyết quy định:
Chi bộ đặc biệt là những chi bộ ở những nơi đặc biệt, không theo hệ thống bình thường của Đảng (từ chi bộ lên huyện, tỉnh, khu, trung ương...) mà do các cấp bộ trên trực tiếp lãnh đạo. Đó là các chi bộ tổ chức ở cơ quan trực tiếp giúp việc cấp trên (văn phòng, giao thông, báo, nhà in), ở trụ sở các đoàn thể quần chúng và các cơ quan chính quyền tương đương với cấp bộ ấy.
Chi bộ đặc biệt ở cấp nào do cấp ấy duyệt y rồi mới được tổ chức, còn quy tắc tổ chức của các chi bộ này cũng như các chi bộ thường.
Nhiệm vụ của chi bộ đặc biệt cũng giống như chi bộ thường. Chi bộ đặc biệt ở cấp nào do cấp uỷ ấy lãnh đạo và có quyền cử đại biểu tham dự các cuộc hội nghị đại biểu ở cấp bộ chỉ huy mình.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.261-268.
NGÀY 1-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về việc lập Ban tổ chức khu và tỉnh
Để chấn chỉnh công tác tổ chức Đảng, ngày 1-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về việc lập Ban tổ chức khu và tỉnh.
Về thành phần: Ban Tổ chức khu gồm ba đồng chí, đồng chí Khu uỷ phụ trách tổ chức làm Trưởng ban, hai đồng chí còn lại phải là trình độ Tỉnh uỷ hay Tỉnh uỷ viên. Tỉnh, huyện có Ban tổ chức tỉnh, huyện. Nếu thiếu người thì ít nhất phải cử một đồng chí trong cấp uỷ phụ trách về tổ chức.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban tổ chức như sau:
- Có trách nhiệm lo tất cả những công tác thuộc về tổ chức Đảng như: đặt kế hoạch củng cố, phát triển Đảng, chấn chỉnh các cơ quan chỉ đạo các Đảng đoàn, tổ chức các cuộc hội nghị Đảng, kiểm soát việc làm lý lịch, phát thẻ đảng viên, chăm lo việc đề bạt cán bộ, tổ chức thi đua, thưởng phạt trong Đảng,…
- Phải thi hành những nghị quyết của cấp bộ về tổ chức Đảng những chỉ thị của Ban tổ chức cấp trên.
- Có quyền quyết định tất cả mọi phương pháp làm việc thuộc phương diện chuyên môn, nhưng không có quyền hạn gì về công tác lãnh đạo (ví dụ thi hành kỷ luật, quyết định thay đổi cán bộ).
- Mọi chỉ thị của Ban tổ chức gửi xuống cấp dưới phải được cấp uỷ Đảng thông qua và coi như nghị quyết cửa cấp uỷ.
Phương pháp làm việc của Ban tổ chức là căn cứ vào nghị quyết của Đảng về tổ chức vào tình hình cụ thể ở địa phương, với chỉ thị kế hoạch của Ban tổ chức cấp trên mà đặt kế hoạch hàng tháng; ra chỉ thị về tổ chức cho cấp bộ bên dưới; đề nghị với cấp uỷ Đảng triệu tập các đồng chí phụ trách tổ chức Đảng cấp dưới họp 3 tháng 1 lần để trao đổi kinh nghiệm, đặt kế hoạch công tác.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.273-275,
NGÀY 1-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Đề phòng cái bả độc lập thống nhất giả hiệu
Sau khi đưa ra những điều kiện mà thực chất là bắt nhân dân ta khuất phục và bị Chính phủ ta bác bỏ, thực dân Pháp xúc tiến âm mưu đưa Vĩnh Thụy về nước để lập một chính phủ bù nhìn, công nhận độc lập, thống nhất giả hiệu cho Việt Nam.
Trước âm mưu mới của địch, ngày 1-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Đề phòng cái bả độc lập thống nhất giả hiệu. vạch ra nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động lúc này là:
- “Nêu rõ thái độ của ta là: giành cho được "độc lập và thống nhất trong khối liên hiệp Pháp", nhưng phải độc lập và thống nhất thật sự".
- Phản đối mưu mô của Pháp cho bọn Việt gian và bọn lưu manh được Pháp thuê tiền, hoặc bắt ép một số đồng bào biểu tình hoặc làm đơn thỉnh nguyện mạo nhận là quần chúng chửi Việt Minh hay yêu cầu Pháp lập chế độ "quân chủ lập hiến”.
- Nêu cao giá trị của chế độ Dân chủ Cộng hoà, phê phán chế độ quân chủ bù nhìn đã chết và chế độ quân chủ lập hiến đã lỗi thời.
- Nói rõ toàn dân Việt Nam vẫn hết lòng ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Thực dân Pháp chỉ có thể đàm phán trực tiếp với Chính phủ Hồ Chí Minh.
- Nêu rõ Pháp đang lúng túng và bị suy nhược thêm do lao đầu vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đang bị Mỹ dùng kế hoạch Mác San khống chế và uy hiếp nền độc lập của Pháp.
- Dùng hành động vũ trang phá những cuộc biểu tình giả hiệu nếu có thể; bộ đội, dân quân và các đội tuyên truyền xung phong hợp tác vũ trang tuyên truyền ngay tại các vùng địch kiểm soát; cần đề phòng địch mở các cuộc tấn công lớn.
- Vận động quần chúng biểu tình, mít tinh thật đông đảo phản đối mưu đồ của Pháp lừa bịp dư luận thế giới và dụ cảm cố vấn Vĩnh Thụy; các đoàn thể biểu tình và gửi diễn văn ủng hộ Chính phủ và Quốc hội, phản đối âm mưu của thực dân phản động Pháp, biểu quyết thái độ gửi cho các báo, các đoàn thể dân chủ và thân sĩ có tiếng bên Pháp.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.269-272.
NGÀY 1-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về công tác thanh vận
Chỉ thị đề ra một số chủ trương chung:
- Công tác vận động thanh niên đều hướng theo mục đích kháng chiến kiến quốc.
- Động viên thanh niên phải theo tính chất năng lực của từng giới như thanh niên lao động làm trong công binh xưởng: tăng gia sản xuất để kháng chiến; thanh niên trí thức học tập và sáng tạo để kháng chiến kiến quốc, thanh niên nông dân tham gia du kích dân quân xung phong giết giặc cứu nước...
- Động viên tinh thần thanh niên, đồng thời chú ý đến quyền lợi thiết thực của họ.
- Đề cao thành tích của thanh niên trong các ngành, các giới.
Về tổ chức Ban thanh vận các cấp, Chỉ thị nêu rõ, trong Ban dân vận các cấp phải có một đồng chí phụ trách thanh niên. Đồng chí ấy sẽ lấy thêm từ một đến năm đồng chí nữa tổ chức thành Tiểu ban thanh vận. Nếu không có đảng viên đủ năng lực thì có thể lấy thêm những quần chúng tốt vào, bề ngoài phải lấy danh nghĩa là Ban thanh vận của Việt Minh.
Chỉ thị đề ra một số quyền hạn và nhiệm vụ của Ban thanh vận như: Ban thanh vận các cấp phải chịu quyền chỉ huy của cấp bộ tương đương; có quyền ấn định chủ trương và kế hoạch vận động thanh niên, nhưng phải được cấp bộ Đảng thông qua. Các Ban thanh vận phải mật thiết liên lạc về chuyên môn, phải làm báo cáo gửi cho cấp bộ Đảng đúng định kỳ.
Về hình thức tổ chức thanh niên phải rộng rãi và thích hợp với tình thế: Đội thanh niên kháng chiến ở gần tiền tuyến, thanh niên xung phong sản xuất ở hậu phương; những tổ chức thanh niên Cứu quốc, thanh niên du kích dân quân…; những tổ thanh niên đã ở trong các tổ chức riêng biệt như cứu quốc du kích, công đoàn, phụ nữ... thì sinh hoạt chính vẫn trong các tổ chức ấy.
Về cán bộ thanh niên, Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ Đảng phải phân công những cán bộ có năng lực chuyên môn phụ trách.
Chỉ thị còn nêu rõ các cấp bộ trong Đoàn Thanh niên Việt Nam phải có người chuyên môn phụ trách thiếu nhi; phải đào tạo và đưa thiếu nhi tham gia kháng chiến; phải mở những lớp dạy chữ cho các em; nêu cao thành tích của thiếu nhi; giúp đỡ trẻ em lưu lạc vì chiến tranh; tổ chức thiếu nhi ở các nơi đều do Đoàn thanh niên phụ trách.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t.8, tr.276-281.
NGÀY 1.9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về công tác dân vận
Dân vận là một công tác quan trọng của Đảng, song, cho đến tháng 9-1947, các ban dân vận ở các cấp vẫn chưa được tổ chức chu đáo; việc vận động quần chúng còn chưa được thi hành đúng mức.
Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị cho các cấp khu, tỉnh, phủ, huyện về công tác dân vận.
Chỉ thị nêu rõ chủ trương chung về vận động các giới phải theo lập trường đoàn kết rộng rãi, hướng theo mục đích kháng chiến, chú ý cải thiện đời sống thiết thực của họ. Những giới quan trọng phải đặc biệt chú ý vận động là công nhân, thanh niên, phụ nữ, công giáo, nông dân, các dân tộc miền ngược. Phải vận động các giới nhân dân trong những vùng địch kiểm soát.
Về kế hoạch tổ chức, Chỉ thị yêu cầu: khu, tỉnh nào chưa thành lập ban dân vận phải thành lập ngay; những nơi đã thành lập rồi phải chấn chỉnh và tích cực hoạt động. Thành phần các ban dân vận bao gồm những đồng chí phụ trách các tiểu ban vận động các giới tổ chức lại. Số đồng chí trong ban dân vận tuỳ theo sự quan trọng của địa phương và cấp bộ mà tổ chức. Mỗi giới phải tổ chức ra tiểu ban chuyên môn phụ trách như thanh vận, phụ vận, v.v.. Các ban dân vận phải chịu sự chỉ huy trực tiếp của cấp bộ Đảng cấp mình. Hàng tháng, các tiểu ban vận động các giới các tỉnh phải báo cáo tình hình đặc biệt về giới mình lên tiểu ban vận động các giới cấp khu. Cấp khu lại báo cáo lên Ban Dân vận Trung ương. Khu, tỉnh nào có những vùng bị địch kiểm soát thì các tiểu ban vận động các giới và ban dân vận phải có trách nhiệm vận động nhân dân trong vùng bị địch kiểm soát.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.282-286.
NGÀY 2-9
Chủ tịch Hồ Chi Minh ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Ngày 2-9-1947, nhân dịp lễ kỷ niệm ngày độc lập lần thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi tới đồng bào toàn quốc.
Người điểm lại những khó khăn chồng chất mà Chính phủ cùng đồng bào đã trải qua và khẳng định tuy ra đời trong hoàn cảnh “nội ưu ngoại hoạn5, đủ sự gay go”, nhưng Chính phủ ta "dựa vào sức của toàn dân và tin vào vận mệnh của Tổ quốc để cố gắng vượt mọi gian nan và đã đạt được ít nhiều kết quả". Về kinh tế, sửa chữa đê điều, tăng gia sản xuất, bỏ sưu, giảm thuế, cứu nạn đói và cải thiện sinh hoạt cho nhân dân. Về quân sự, tổ chức nên một quân đội quốc gia, huấn luyện nên hàng triệu dân quân, tự vệ để chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Về chính trị, hoàn thành cuộc tổng tuyển cử tự do và định ra Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Về văn hoá, hơn bốn triệu đồng bào nam nữ biết đọc, biết viết, đã có nhiều làng xã, toàn dân đều biết chữ.
Về mặt kháng chiến cứu nước, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, "Chính phủ, quân đội và nhân dân ta, đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc”. Nhờ vậy mà "hai năm kháng chiến ở Nam, chín tháng kháng chiến toàn quốc, lực lượng của địch ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh".
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, những đồng bào nơi địch chiếm đóng, các kiều bào ở nước ngoài "Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy năm, để đánh tan ách nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới thì cũng bõ công... Kháng chiến nhất định thắng lợi”.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.200-203.
NGÀY 7-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về việc vận động "Mùa đông binh sĩ”
Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, mùa hè 1947 đã có thêm 35.000 thanh niên tình nguyện nhập ngũ, đội ngũ Vệ quốc đoàn đã từ 85.000 người trước ngày 19-12-1946 tăng lên 125.000 người. Đội ngũ dân quân, tự vệ và du kích cũng có tới mấy chục vạn người. Trong khi đó, ngân sách quốc gia không đáp ứng được nhu cầu chi phí cho quốc phòng cho nên đời sống của bộ đội, du kích thoát ly rất khó khăn. Mùa đông sắp đến mà các chiến sĩ còn chưa có đủ quần áo, chăn, màn, giầy dép,... Nếu không khắc phục được tình trạng đó thì rất có thể sẽ có tác động không tốt tới tinh thần, sức khoẻ và sức chiến đấu của bộ đội và du kích thoát ly.
Trước tình hình đó, ngày 7-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị Về việc vận động "Mùa đông binh sĩ".
Chỉ thị yêu cầu các Bí thư Khu uỷ phải tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện; tránh địa phương chủ nghĩa; tránh bắt dân ủng hộ một cách bắt buộc mà phải để tuỳ nhiệt tâm của dân.
Sau khi Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị, ngày 12-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ bàn về việc tổ chức nhân dân hưởng ứng cuộc vận động "Mùa đông binh sĩ”. Ngày 25-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới cụ Võ Liêm Sơn, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mùa đông kháng chiến giúp binh sĩ, trong đó có đoạn viết: "Uỷ ban Trung ương Mùa đông kháng chiến giúp binh sĩ chỉ quyên vải vóc hoặc chăn áo. Nhưng tôi không biết may, không có vải, mà áo cũng chỉ có hai bộ đã cũ. Vậy tôi xin quyên một tháng lương là 1.000 đồng, nhờ Cụ mua giùm vật liệu và may giùm mấy chiếc chăn, áo cho chiến sĩ, gọi tỏ chút lòng thành.
Đồng bào ta đã giúp nhiều lần. Lần này, mặc dầu hoàn cảnh khó khăn, nhưng tôi rất mong đồng bào cũng ra sức giúp, để cho chiến sĩ khỏi lạnh lùng và đủ ấm áp để ra sức xung phong diệt địch".
Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta nhiệt liệt hưởng ứng cuộc vận động Mùa đông binh sĩ. Uỷ ban “Mùa đông binh sĩ" các cấp đã được thành lập. Các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là Hội Phụ nữ Cứu quốc, tích cực vận động hội viên, đoàn viên tham gia cuộc vận động. Đồng bào ta đã quyên góp vải vóc, quần áo, chăn màn ủng hộ bộ đội. Nhiều bậc phú hào đã hằng tâm, hằng sản quyên góp cho bộ đội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.287-288.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.4, tr.124.
NGÀY 15-9
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Bola nói gì, ta phải làm gì?
Ngày 10-9-1947, Bôlae, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, đọc diễn văn ở thị xã Hà Đông tuyên bố lập trường của thực dân Pháp về vấn đề Việt Nam với hai điểm chính: một là, không công nhận Việt Nam độc lập và thống nhất; Hai là, không công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh là đại diện chính thức của nước Việt Nam. Bôlae đã không giấu giếm lập trường phản động là định lập ra chính quyền bù nhìn và dùng nỗ lực thủ tiêu nền độc lập, tự do của nhân dân ta.
Ngày 15-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Bola nói gì, ta phải làm gì? vạch trần ý đồ nham hiểm, lừa mị, chia rẽ của thực dân Pháp đối với nhân dân ta; khẳng định lại lập trường kiên quyết chiến đấu bảo vệ độc lập và thống nhất thật sự của nước ta, dấu tranh chống các khuynh hướng thoả hiệp đầu hàng.
Chỉ thị phân tích rõ bài diễn văn của Bola phơi bày “lập trường của thực dân Pháp lúc này đối với ta còn phản động hơn hồi Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946", tỏ rõ thái độ thực dân Pháp "tham lam, gian dối, khiêu khích, cố chấp, ương ngạnh, trịch thượng. Thái độ ấy chỉ làm cho dân tộc Việt Nam căm ghét và thế giới dân chủ cười thêm".
Chỉ thị nêu rõ lập trường của Việt Nam như sau:
1. Độc lập và thống nhất thật sự. Nếu thực dân Pháp không công nhận Việt Nam độc lập và thống nhất thật sự thì dân tộc Việt Nam kiên quyết kháng chiến đến khi giành được độc lập và thống nhất thật sự.
2. Nước Việt Nam nhận đứng trong Khối liên hiệp Pháp nhưng Việt Nam phải có quân đội riêng (cả quân đội chính quy và cảnh binh, công an riêng), ngoại giao riêng (cả đại sứ và lãnh sự), tài chính riêng (tiền tệ riêng, thuế quan riêng...). Khối liên hiệp Pháp phải là hình thức hợp tác thân thiện và bình đẳng giữa các dân tộc.
3. Pháp muốn chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, thì chỉ có một cách là phải đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh là đại diện duy nhất chính thức của Việt Nam và là Chính phủ đang kháng chiến chống xâm lược, chứ không thể giảng hoà với bọn Việt gian bù nhìn phản quốc.
Chỉ thị vạch rõ: "Sau bài diễn văn của Bola, toàn thể bộ đội và nhân dân Việt Nam càng nhận rõ rằng không dùng bạo lực mà đè bẹp ý chí xâm lược của thực dân Pháp thì không thể có độc lập và thống nhất thực sự".
Chỉ thị còn đề ra những nhiệm vụ cần kíp của dân tộc ta là: "đoàn kết toàn dân, đoàn kết một cách rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa" trong Mặt trận Liên Việt; vạch trần âm mưu mới xảo quyệt và thái độ ương ngạnh của thực dân Pháp trước dư luận trong và ngoài nước, phát động phong trào sôi nổi phản đối âm mưu và thái độ của chúng; tích cực chuẩn bị chiến dịch mùa đông về mọi mặt để đối phó với cuộc tấn công của quân Pháp sau mùa mưa; phá hoại triệt để những thị trấn, phố phủ, phố huyện mà địch có thể tới, lập làng chiến đấu; tích cực thực hiện tự cấp tự túc, tổ chức vận tải tiếp tế gạo, ngô, sắn, muối. ... tới những nơi thiếu, bảo vệ mùa màng.
Chỉ thị khẳng định dứt khoát: “Rồi đây, không phải những kẻ như Bola có thể ra điều kiện cho ta, mà chính sức đoàn kết và tranh đấu mạnh mẽ của dân tộc ta và dân tộc Pháp sẽ bắt buộc bọn thực dân phản động Pháp hàng phục”.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.289-303.
NGÀY 1-10
Hợp nhất Uỷ ban Kháng chiến và Uỷ ban Hành chính từ xã đến tỉnh thành Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính
Tăng cường việc điều hành và chỉ đạo công việc kháng chiến ở địa phương và gạt bỏ những sự không ăn khớp hay hiểu lầm, xích mích giữa các cơ quan hành chính và Uỷ ban Kháng chiến, ngày 4-8-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết "quyết định thống nhất các UBKC và hành chính từ xã đến tỉnh... Các Uỷ ban Hành chính kiêm kháng chiến cũ sẽ đổi là UBKC kiêm hành chính để cho công việc kháng chiến được đặc biệt chú trọng”.
Ngày 1-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 91-SL hợp nhất Uỷ ban Kháng chiến và Uỷ ban Hành chính các cấp tỉnh, huyện, phủ hay châu, xã thành Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính, viết tắt là UBKCKHC và quy định thành phần Uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chính mỗi cấp bổ nhiệm hoặc thay thế các thành viên trong Uỷ ban các cấp và quan hệ làm việc giữa Uỷ ban các cấp.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.256-257.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.739.
NGÀY 5-10
Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về vận động các giới đối với chính sách phản động của thực dân phản động Pháp định lập Chính phủ bù nhìn
Đối phó với âm mưu của thực dân Pháp định lập chính phủ bù nhìn, tiếp theo các chỉ thị trước, ngày 5-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về vận động các giới đối với chính sách phản động của thực dân phản động Pháp định lập Chính phủ bù nhìn.
Chỉ thị vạch rõ: chính phủ bù nhìn thành lập thì “trước hết chúng sẽ dùng thủ đoạn phỉnh phờ, lừa gạt lấy quyền lợi, địa vị lôi kéo các tầng lớp thanh niên trí thức, quan lại cũ, công chức, cựu binh sĩ, đồng bào có đạo và các thổ ty và đồng bào miền ngược". Để phá tan chính sách phản động của Pháp và tay sai của chúng, Đảng có chủ trương đối phó như sau:
Đối với thanh niên trí thức và công chức, cần đem lại quyền lợi thực tế cho họ, thu dụng họ tham gia kháng chiến, tái lập trường cho họ học tập; biệt đãi và cải thiện đời sống cho công chức, tăng lương cho công chức trong các vùng giá cả đắt đỏ; kêu gọi thanh niên trí thức và công chức trong vùng địch kiểm soát không cộng tác với địch, ra vùng tự do và vùng căn cứ tham gia kháng chiến; đưa những nhà trí thức văn nghệ sĩ vào công tác văn hoá, giúp đỡ họ tiền, tài liệu, tổ chức họ thành những nhóm văn hoá kháng chiến.
Đối với kỳ hào, quan lại cũ, cần phải giao cho họ công tác thực tế, cho họ có địa vị, có trách nhiệm hẳn hoi, chứ không phải sử dụng họ một cách đối phó; vận động họ đứng ra phản đối chính thể quân chủ lập hiến, tỏ ý cương quyết trung thành với Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh; nếu chính phủ bù nhìn thành lập thì vận động họ vui lòng đốt bằng, sắc, tỏ ý đoạn tuyệt với chế độ cũ; nơi nào mà địch sắp lấn tới thì phải thuyết phục hoặc cưỡng bách những phần tử có manh tâm phản động tản cư (phải khéo léo, sáng suốt, nếu không sẽ đẩy họ theo địch).
Đối với cựu binh sĩ, cần đưa họ vào dân quân, du kích và tham gia các công việc kháng chiến; giúp đỡ họ có nghề làm ăn sinh sống và động viên họ đem hiểu biết về quân sự ra cứu nước, giữ làng; đối với những người thuộc hạng cai, đội, quản trước đây nên khéo léo đưa họ vào Vệ quốc đoàn và trọng dụng họ.
Đối với đồng bào có đạo, cần hết sức tránh mọi hành động phạm tôn giáo; gây lòng công phẫn của giáo dân đối với việc địch tàn sát giáo dân; đem lại quyền lợi thiết thực cho giáo dân; mời các cha cố cảm tình với kháng chiến lập ra các Hội Công giáo kháng chiến, Hội ủng hộ kháng chiến; phải dùng pháp luật nghiêm trị bọn phản động phá rối trật tự, an ninh, khi cần thiết phải dùng lực lượng quân sự uy hiếp tinh thần bọn phản động, giữ vững tinh thần dân chúng.
Đối với các thổ ty, cần đi sát họ, cho họ có công tác thực tế, quyền lợi và địa vị; vận động các thổ ty có uy tín đi hô hào, động viên tinh thần nhân dân tham gia kháng chiến; đem lại quyền lợi thực tế cho đồng bào miền núi: mở bình dân học vụ, tiếp tế muối và những thứ hàng cần thiết; đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động để nắm vững các tầng lớp dưới; vận động binh lính dân tộc miền núi trở về làng bản, chạy sang hàng ngũ ta, không nên giết tù binh là người dân tộc miền núi.
Chỉ thị nêu rõ khi thực hiện chủ trương trên, cần phải đề cao Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, giao công tác cho Hội ấy làm; phải thực hiện triệt để chính sách đại đoàn kết của Đảng để giữ vững Mặt trận thống nhất dân tộc, phá tan thủ đoạn xảo trá của địch.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.306-310.
TỪ NGÀY 7-10 ĐẾN NGÀY 22-12
Cuộc phản công Việt Bắc thắng lợi
Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến của cả nước. Kế hoạch tấn công này mang tên là Lêa và Clôclô nhằm mục đích tóm gọn cơ quan lãnh đạo tối cao của ta, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, phá tan căn cứ địa kháng chiến trung tâm của ta để mau chóng kết thúc chiến tranh xâm lược.
Thực hiện ý đồ trên, địch huy động khoảng 112.000 quân gồm 5 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đại đội cơ giới của Trung đoàn bộ binh cơ giới Marốc 800 xe, 2 phi đội máy bay 40 chiếc, 1 thuỷ đội 40 tàu xuồng vào cuộc tấn công này.
Ngày 7-10, địch bắt đầu tấn công Việt Bắc.
Cuộc tấn công của Pháp đã gây cho ta bất ngờ, nên lúc địch nhảy dù, một số nơi đã bị động, đối phó lúng túng.
Ngay tối 17-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các Khu uỷ, Quân khu uỷ thông báo địch tấn công Việt Bắc, ra lệnh cho các khu đánh mạnh để chia xẻ lực lượng địch, phá kế hoạch của chúng.
Ngày 8-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân, du kích và toàn thể đồng bào ta ra sức tiêu diệt địch, đánh bại cuộc hành quân của chúng. Cùng ngày, Bộ Tổng chỉ huy ra nhật lệnh cho bộ đội và dân quân chiến đấu phá tan cuộc tiến công mùa đông của địch, ra quân lệnh diệt địch, bảo vệ Việt Bắc.
Ngày 9-l0-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị cần kíp cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn, kịp thời đánh địch bảo vệ nhân dân, cơ quan, kho tàng.
Ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị phải phá cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp.
Dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ huy quân và dân Việt Bắc, phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" và cách đánh du kích, vận động, đánh trên các địa bàn trọng điểm, bẻ gãy các mũi tấn công đường không, đường bộ, đường thuỷ của địch, đánh bại cuộc tấn công của chúng vào căn cứ địa kháng chiến.
Phối hợp với quân dân Việt Bắc, quân dân cả nước đã chiến đấu anh dũng, đập tan âm mưu tập trung quân đánh Việt Bắc của địch. Ở vùng sau lưng địch, chiến tranh du kích được đẩy mạnh, hoạt động phá tề, trừ gian sôi nổi. Ngày 22-12-1947, cuộc chiến đấu chống địch tấn công Việt Bắc kết thúc thắng lợi. Quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay địch, bắn đắm 11 tàu chiến, ca nô lớn nhỏ, phá huỷ 100 khẩu pháo, cối, hàng nghìn súng, hàng trăm xe quân sự và nhiều quân trang, quân dụng khác. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn, căn cứ địa Việt Bắc đứng vững và trưởng thành, bộ đội chủ lực và dân quân du kích được tôi luyện trong chiến đấu.
Thắng lợi của quân và dân Việt Bắc là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng, là đòn quyết định làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, mở ra một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng tòan tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.9, tr.5-8 và 19-21.
- Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.I, tr.317-344.
NGÀY 9-10
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị cần kíp gửi các đồng chí Tỉnh uỷ Bắc Kạn và các đồng chí phụ trách quân, chính, dân Bắc Kạn
Ngày 7-10-1947, địch nhảy dù và đổ bộ xuống Bắc Kạn mở đầu cho cuộc tấn công chiến lược với quy mô lớn lên Việt Bắc. Trước tình thế đó, ngày 9-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị gửi các đồng chí Tỉnh uỷ Bắc Kạn và các đồng chí phụ trách quân, chính, dân Bắc Kạn.
Chỉ thị đã vạch rõ mục đích của việc địch nhảy dù xuống Bắc Kạn là nhằm: 1. Làm cho ta phải để quân chống đỡ ở Việt Bắc, khiến cho địch dễ càn quét và chiếm đóng vùng xuôi; uy hiếp căn cứ địa chính của ta; phá cơ quan Trung ương của ta; triệt một đường tiếp tế khá quan trọng của nền kinh tế kháng chiến. 2. Cố lập vài “chiến công” để giữ vững lòng tin tưởng của bọn thực dân Pháp chủ chiến và để vận động cho cuộc tuyển cử hội đồng hàng tổng ở Pháp ngày 19-10 tới, đồng thời để xúc tiến việc tập hợp lực lượng Việt gian tiến tới lập Mặt trận phản kháng chiến và lập chính phủ bù nhìn.
Chỉ thị cũng đã nói rõ việc nhảy dù xuống Bắc Kạn và một số nơi khác ở Việt Bắc và trung du trong cùng một lúc tuy không chứng tỏ rằng địch dồi dào lực lượng, đủ sức tấn công ta trên khắp các mặt trận, nhưng "dù sao nó cũng tỏ ra địch mạo hiểm và coi thường ta. Chúng nhân chỗ hớ hênh, khinh địch của ta (như phá hoại chậm chạp, cho rằng địch không thể nhảy dù Bắc Kạn, v.v.) mà tấn công ta. Cuộc tấn công này của chúng vừa phải làm cho cán bộ ta bớt chủ quan, vừa phải là một dịp cho bộ đội dân quân học thêm kinh nghiệm và rèn luyện trong chiến đấu”.
Chỉ thị vạch rõ nhiệm vụ cần kíp của tỉnh Bắc Kạn là: Về quân sự, phải:
1- Dùng lúc lượng bộ đội, dân quân du kích và toàn dân bao vây địch chung quanh tỉnh lỵ, giam chân địch trong đó, không cho chúng chiếm toả ra, đặc biệt ngăn địch trên mấy đường: Bắc Kạn - Chợ Đồn, Bắc Kạn - Chợ Rã, Bắc Kạn - Cao Bằng, Bắc Kạn - Chợ Mới, Bắc Kạn - Na Rì, Bắc Kạn - Chợ Chu.
2- Dùng những đội phá hoại cản địch; triệt để phá hoại đường xá, cầu cống, dinh thự, nhà ngói ở các phố, phủ, huyện; ngả cây, đắp ụ.
3- Dùng những đội chuyên môn phục kích và đánh địa lôi để tiêu hao tiêu diệt địch, ngăn chặn việc tiếp tế, liên lạc của địch.
4- Mau chóng tổ chức bộ đội, dân quân phản công địch ngay ở thành phố và các điểm địch mới chiếm đóng.
5- Thực hiện việc trừ gian, phòng phỉ, phong toả tin tức kiểm soát việc đi lại.
6- Thực hiện nghiêm mật việc phòng không, cấm các cơ quan phơi quần áo lộ thiên, phải đào hầm trú ẩn, phòng Việt gian làm hiệu cho máy bay, cấm mọi người chạy nhốn nháo khi báo động.
7- Cắm chông những nơi địch có thể nhảy dù.
8- Bản doanh của bộ chỉ huy và các cơ quan trọng yếu, nơi ở và nơi làm việc của cán bộ phải thay đổi, hạn chế người đi lại, canh gác nghiêm mật.
9- Yểm hộ cho các cơ quan di chuyển đến nơi an toàn.
Về chính trị và kinh tế.
1- Bộ đội, dân quân và các đoàn thể phối hợp động viên nhân dân tham gia kháng chiến, ủng hộ bộ đội.
2- Bộ đội và dân quân phải giúp dân gặt và cất lúa.
3- Tổ chức việc thu dung đồng bào tản cư, di cư vào các làng bản tham gia sản xuất hoặc đưa họ sang tỉnh khác.
Chỉ thị nhắc nhở cán bộ phụ trách của tỉnh phải thảo luận gấp nội dung Chỉ thị và thi hành ngay, không được chậm chễ, đồng chí nào gan dạ hy sinh phải được khen thưởng, những kẻ cơ hội nhát gan, trốn tránh nhiệm vụ phải bị trừng trị; báo cáo công trạng và tội lỗi lên cấp trên. "Chiến tranh lan rộng đến tỉnh ta là một dịp cho ta lập chiến công, góp sức với đồng bào toàn quốc giết địch".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.311-314.
NGÀY 15-10
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp
Quân Pháp mở đầu chiến dịch mùa Đông ở Bắc Bộ bằng cuộc hành quân đánh thẳng vào căn cứ địa Việt Bắc và chiếm đóng các thị trấn ngăn cách Việt Bắc với miền xuôi, mở đầu là nhảy dù xuống Bắc Kạn vào ngày 7-10-1947. Tiếp theo chỉ thị gửi các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn, ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp.
Sau khi thông báo tình hình chiến sự, phân tích âm mưu và cách đánh của địch, Chỉ thị đã chỉ ra những điểm yếu cơ bản của địch. Chúng có quân đông, trang bị mạnh, nhưng lực lượng có hạn nên "cuộc tấn công này chỉ ồ ạt lúc đầu”. Điểm yếu cơ bản của địch là rải quân ra trên một địa bàn quá rộng, "càng dàn quân ra càng mỏng lực lượng. Chúng đem quân lên mạn ngược là một dịp cho ta để đánh chúng miền xuôi. Chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chúng là chặn đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động. Cuộc tấn công này của địch không tỏ ra chúng mạnh, có đủ sức đánh ta khắp các mặt trận, mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm".
Đối phó với tình thế mới, Chỉ thị vạch rõ: "Chúng ta không sợ địch, nhưng cũng không được khinh địch. Chiến tranh sẽ gay go, quyết liệt hơn… Chúng ta phải dự trước tất cả để trấn tĩnh mà đối phó, đối phó có kế hoạch".
Chỉ thị đề ra những nhiệm vụ mới trước mắt do tình thế mới đặt ra:
Về quân sự và hành chính, phải đánh mạnh khắp toàn quốc khiến cho địch không thể tập trung quân đánh Việt Bắc; giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm ở Việt Bắc; đẩy mạnh chiến tranh du kích, đột kích, bao vây địch; triệt để làm vườn không nhà trống quanh vùng địch chiếm đóng; chặt đứt đường giao thông liên lạc của địch để chúng không thể tiếp ứng và tiếp tế, củng cố các căn cứ địa về mọi mặt; củng cố bộ máy hành chính và kháng chiến ở vùng địch kiểm soát, có thể lợi dụng tổ chức hành chính công khai của địch để hoạt động và tổ chức hành chính và kháng chiến bí mật để tiếp tục hoạt động; đẩy mạnh công tác phòng gian, bảo mật, đề phòng nội gián,...
Về tuyên truyền và cổ động, việc chủ yếu là làm cho toàn dân đoàn kết chặt chẽ hơn, tham gia tác chiến, giúp đỡ bộ đội, tăng gia sản xuất nhiều hơn, giải thích cho dân không sợ địch nhưng cũng không khinh địch.
Về kinh tế, tài chính, bộ đội chưa trực tiếp tác chiến phải giúp đỡ và bảo vệ nhân dân sản xuất; mở đường chuyên chở, tiếp tế, đặt lại các mối ngoại thương để nhập khẩu những thứ cần thiết cho quân giới, quân y; phân tán xưởng máy, kho tàng; thực hiện tự cấp, tục túc.
Về ủng hộ mùa đông binh sĩ, cổ động dân ủng hộ với khẩu hiệu "mỗi làng hai áo trấn thủ” hay "một chăn cho bộ đội", làng giàu gắng quyên nhiều hơn...
Về dân vận, kêu gọi toàn dân đoàn kết, tham gia kháng chiến, ủng hộ Chính phủ, ủng hộ bộ đội. Phát triển và củng cố cơ sở quần chúng trong vùng địch kiểm soát công giáo, vùng dân tộc thiểu số.
Về kiện toàn Đảng, Chỉ thị nói rõ Đảng "Trong những lúc khó khăn như lúc này, Hội ta không vững thì không thể chèo chống nổi với tình thế”. Vì vậy, phải tiếp tục vừa phát triển Đảng, vừa thanh trừ những phần tử xấu xa khỏi Đảng, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo các cấp, sa thải những phần tử kém cỏi, nhát gan, hủ hoá và cất nhắc những phần tử trung thành, gan dạ và có năng lực; đồng thời kiên quyết bài trừ những khuynh hướng biệt phái, chia rẽ, gièm pha, ganh tỵ có hại lớn cho sự đoàn kết nội bộ, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng trong kháng chiến; đặc biệt củng cố các chi bộ xí nghiệp, làng, cơ quan... làm cho các chi bộ đó thực sự lãnh đạo được quần chúng trong mọi tình thế.
Chỉ thị vạch rõ: cuộc tấn công mùa Đông của địch làm cho chúng ta chữa được bệnh chủ quan cho rằng địch không dám đánh Việt Bắc, không dám đổ bộ xa căn cứ; thúc giục các cấp chỉ huy phải nhanh chóng nắm được quy luật chiến tranh nói chung và quy luật chiến tranh Việt - Pháp, chỉ cho ta muốn thắng địch phải dự đoán đúng mưu kế của địch, giữ bí mật mưu kế của địch. Ta cần giữ gìn chủ lực nhưng phải nhè những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt để nâng cao tinh thần bộ đội và củng cố lòng tin của dân vào tiền đồ kháng chiến.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.315-326.
NGÀY 25-10
Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết về phân tán các đơn vị bộ đội
Do tình hình chiến sự thay đổi, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam đã quyết định phân tán một phần các đơn vị bộ đội. Trên cơ sở đó, ngày 25-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết về phân tán các đại đội về các phủ, huyện, châu (mỗi phủ, huyện, châu một đại đội) phối hợp với du kích tác chiến, giúp đỡ cho phong trào du kích phát triển và sau này dần dần sống lẫn với dân chúng.
Theo Nghị quyết này, cấp tiểu đoàn ở nhiều nơi sẽ bỏ đi. Ở những nơi nào cấp tiểu đoàn bỏ đi, đại đội sẽ trực tiếp với trung đoàn.
Nghị quyết nêu rõ: đứng về phương diện Hội, khi bắt đầu thi hành Nghị quyết này, khi một phủ, huyện, châu đã chính thức có một đại đội Vệ quốc đoàn do quân sự điều động về, mỗi đại đội uỷ phải có một đồng chí được chỉ định tham gia vào ban phủ, huyện, châu uỷ và có quyền hành nhiệm vụ như đại biểu của Trung đoàn uỷ hoặc Tiểu đoàn uỷ trong ban Tỉnh uỷ.
Đứng về mặt kháng chiến hành chính thì đại biểu của đại đội được làm một uỷ viên chính thức trong Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính phủ, huyện, châu cũng như là đại biểu của trung, tiểu đoàn trong Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.332-333.
THÁNG 10
Ban Thường vụ Trung ương Đảng phụ chú một điểm trong Chỉ thị ngày 15-10-1947 của Trung ương
Trong Chỉ thị ngày 15-10-1947 có một câu nói về quy luật chiến tranh và quy luật chiến tranh Việt - Pháp chưa rõ nghĩa. Vì vậy có nhiều đồng chí viết thư hỏi Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương đã trả lời chung bằng một bản phụ chú gửi tới các đồng chí trong các khu uỷ và quân khu uỷ.
Ban Thường vụ Trung ương giải thích:
“Quy luật chiến tranh là phép tắc mà bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải theo". Trong thời đại ngày nay, chiến tranh phải theo những phép tắc sau:
1- "Chiến tranh là sự kế tục của chính trị một nước. Chính trị quyết định quân sự..."
2- "Chiến tranh ở thời đại này là chiến tranh toàn diện, chiến tranh nhân dân (guerre totale, guerre du peuple). Đối với đế quốc hay đối với ta cũng thế...
3- "Chiến tranh của một nước phải do trình độ kinh tế, chính trị xã hội, văn hoá của nước đó quyết định..."
4- "Quá trình của chiến tranh là quá trình biện chứng. . ."
5- "Giai đoạn chiến lược của chiến tranh là do lực lượng so sánh giữa hai phe đánh nhau mà quyết định..."
6- "Chiến lược quyết định chiến thuật..., chiến thuật (mẹo đánh của từng trận) là bộ phận khăng khít của chiến lược (mưu cơ đánh để cố thắng trong cả một cuộc chiến tranh).
Tiếp đó, bản phụ chú vận dụng quy luật của chiến tranh nói chung vào cuộc chiến tranh Việt - Pháp: "cuộc chiến tranh Việt - Pháp hoàn toàn theo những phép tắc đó. Song nó có những đặc điểm của nó do trình độ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá của hai nước, do lực lượng so sánh và tình thế chính trị, kinh tế của hai nước, do kỹ thuật, tập quán của quân đội hai nước mà quyết định".
Là một nước đế quốc đi xâm lược, Pháp dùng "mọi phương pháp tàn nhẫn, đánh nhanh đánh lối trận địa và vận động chiến, có du kích nhưng ít. Ta là một nước nông nghiệp, ta tự vệ, ta làm chiến tranh cách mạng, võ khí ta kém, nên ta đánh lén và đánh lối du kích nhiều”. Địch lợi dụng ưu thế kỹ thuật lớn nhất của chúng là máy bay và bom. Chúng có kỹ thuật vận chuyển nhanh nên hay dùng lối đánh vòng bao vây ta. Chiến tranh toàn diện và kinh tế tài chính cũng là mặt trận đánh, nên địch dùng lối đổi tiền 100đ Đông Dương để làm khó cho ta.
Ban Thường vụ Trung ương thẳng thắn nhận định: "Trong việc chuẩn bị chiến dịch mùa đông vừa rồi, ta chủ quan đánh giá quá thấp địch, không đoán đúng được mưu mô của địch, hoặc đoán không đến nơi, hơn nữa không nhận rõ quy luật chiến tranh nói chung và quy luật chiến tranh Việt - Pháp nhưng thất bại đầu tiên ở Bắc Kạn, Cao Bằng, Chợ Đồn, Tuyên Quang, v.v. vừa rồi là những bài học dạy cho ta".
Bản phụ chú nhắc nhở: "Cuộc kháng chiến này là cuộc chiến tranh giải phóng lớn nhất trong lịch sử nước ta, lần đầu tiên dân tộc ta phải đối phó với bọn xâm lược mạnh, thao luyện, có võ khí tối tân như bọn Pháp. Ta vừa đánh vừa học, ta luôn luôn gắng sức học cái hay của địch, ta sửa chữa sai lầm của ta, phát triển ưu điểm của ta, lợi dụng triệt để những nhược điểm của địch mà đánh... Như thế nhất định ta sẽ chuyển bại thành thắng".
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.327-330.
THÁNG 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, rèn luyện cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng và phong cách công tác, tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, ký bút danh X.Y.Z. Cuốn sách do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên vào đầu năm 1948.
Trong cuốn sách, Người chú trọng sáu nội dung:
I. Phê bình và sửa chữa: Người nêu lên tầm quan trọng của việc tự phê bình và phê bình, cách thức tiến hành phê bình và tự phê bình, ba chứng bệnh (bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa) rất nguy hiểm cần phải sửa trong lối làm việc của Đảng.
II. Mấy điều kinh nghiệm: Người chỉ ra các kinh nghiệm: muốn công việc thành công phải có cán bộ tốt; có chính sách đúng đồng thời phải có cách làm đúng; phải biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc; phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái; bất kỳ việc gì lợi ích của nhân dân thì làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân; sát quần chúng, hợp quần chúng.
III. Tư cách và đạo đức cách mạng: Người nhấn mạnh tư cách của Đảng chân chính cách mạng gồm 12 tiêu chí; phận sự của đảng viên và cán bộ là trọng lợi ích của Đảng hơn hết; có đạo đức cách mạng gồm "năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm"; phải giữ kỷ luật, phải "chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân và sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm bằng phê bình và tự phê bình...; tư cách và bổn phận đảng viên là phải căn cứ vào Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương; phải rèn luyện tính Đảng.
IV. Vấn đề cán bộ. Người viết: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng". Người chỉ rõ những biện pháp tiến hành công tác huấn luyện cán bộ, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ, chính sách cán bộ.
V. Cách lãnh đạo. Người phân tích rõ: lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào? lãnh đạo thế nào? học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng.
VI. Chống thói ba hoa, Người chỉ rõ thói ba hoa là gì? cách chữa thói ba hoa.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.230-306.
NGÀY 12-12
Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông cáo về triển vọng của tình hình chính trị Pháp và công tác tuyên truyền và ngoại giao
Bản Thông cáo nêu rõ triển vọng của tình hình chính trị Pháp trên bảy nội dung chính sau:
1. Phái Đờ Gôn (De Gaulle) lợi dụng dân Pháp thiếu thốn và xu hướng muốn yên thân mà tuyên truyền thân Mỹ.
2- Rất có thể khi điều kiện thuận lợi, phái Đờ Gôn sẽ làm đảo chính, đặt chế độ độc tài cá nhân và giải tán Đảng Cộng sản.
3- Đảng Cộng sản quyết không nhường và đang chuẩn bị dùng bạo lực cản đường phái Đờ Gôn.
4- Nếu Pháp có nội chiến Mỹ sẽ can thiệp thẳng vào tình hình Pháp và Việt Nam, cũng như chúng sẽ can thiệp vào tình hình các thuộc địa Pháp.
5- Pháp có nội chiến thì ảnh hưởng lợi hại cho ta thế nào? lợi là đế quốc Pháp phải phân tán lực lượng, binh lính Pháp hoang mang; hại là, Mỹ sẽ can thiệp vào tình hình Việt Nam.
6- Nếu xảy ra nội chiến ở Pháp thì phong trào cách mạng châu Âu lên cao.
7- Nếu Mỹ can thiệp vào Việt Nam thì mặt trận chống phản động Mỹ và Tưởng của nhân dân Tàu và mặt trận chống Pháp, Mỹ của nhân dân Việt Nam sẽ hoà làm một.
Qua nhận định triển vọng tình hình chính trị Pháp ở trên, Thường vụ Trung ương Đảng đề ra phương hướng công tác tuyên truyền và ngoại giao. Chủ trương tuyên truyền là vạch rõ mưu mô của địch trong cuộc tiến công mùa đông và chính sách "dùng người Việt trị người Việt"; cổ động toàn dân đoàn kết hơn và ủng hộ Chính phủ và bộ đội nhiệt liệt hơn; vạch rõ tham vọng của Mỹ và nguy cơ Mỹ, chống xu hướng thân Mỹ và sợ Mỹ; ta cần lợi dụng triệt để những mâu thuẫn dù nhỏ đến mấy giữa Pháp và Mỹ. Về ngoại giao vẫn tuyên bố thân thiện với Mỹ và vẫn phải dùng hội Việt - Mỹ làm lợi khí tuyên truyền quốc tế.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.337-339.
NGÀY 12-12
Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông cáo về việc Pháp có thể lập Chính phủ bù nhìn toàn quốc
Bản Thông cáo nhận định: ngày 6-12-1947, Bảo Đại từ Hồng Kông về Hạ Long gặp Bôla trên một chiếc tàu. Sau đó Bôla về Pháp. Có thể một chính phủ bù nhìn toàn quốc do Bảo Đại cầm đầu sắp thành lập. Chính phủ ấy sẽ là lợi khí của cả Mỹ và Pháp. Bên cạnh đó, sẽ có thêm một Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân làm Chủ tịch. Đây là một thủ đoạn tiến công chính trị đối với ta. Địch sẽ nhân cơ hội này mà vận động các lực lượng phản quốc, cám dỗ bọn nhát gan và bọn cơ hội, tuyên truyền mê hoặc dân ta hòng chia rẽ và làm yếu mặt trận dân tộc thống nhất của ta.
Thông cáo của Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ của ta là phải vạch rõ mưu đồ "dùng người Việt trị người Việt", mưu mô lập chính phủ bù nhìn toàn quốc của địch. Cần nói rõ cho quốc dân đồng bào hiểu rõ Bảo Đại đóng một vai trò hại nước như thế nào.
Trung ương yêu cầu các cấp bộ Đảng nhân dịp kỷ niệm một năm kháng chiến toàn quốc (19-12-1947), nên tổ chức họp quần chúng, nói rõ mưu mô của Pháp và vận động quần chúng gửi điện ủng hộ Quốc hội, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, đồng thời phản đối mưu gian của Pháp và tất cả các hạng bù nhìn tay sai nước ngoài.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.340-342.
NGÀY 19-12
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân kỷ niệm một năm kháng chiến toàn quốc
Nhân kỷ niệm một năm kháng chiến toàn quốc, ngày 19-12-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Người viết: Từ ngày đầu xâm lược, thực dân Pháp huênh hoang sẽ chinh phục nước ta trong thời gian ngắn dăm ba tuần, chậm thì 3 tháng nhưng kết quả thực tế là: chúng mất hơn 20.000 lính Pháp chết và bị thương, tốn hơn 3.000 triệu bạc, mà chỉ chiếm được mấy thành phố đổ nát hoang tàn; Chính phủ Pháp và Bộ chỉ huy xâm lược Việt Nam phải thay đổi mấy lần; nhân dân Pháp đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa hao người, tốn của. Còn về phía ta thì chúng ta biết trước rằng kháng chiến ắt phải gay go, phải trường kỳ, nhưng chắc chắn sẽ thắng lợi. Vì vậy, mặc dầu gian nan cực khổ, nhân dân ta ngày càng đoàn kết, càng hăng hái, càng kiên quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng... Chính phủ ta càng thêm oai tín, càng được ủng hộ vì là một Chính phủ kiên quyết kháng chiến, một Chính phủ đại đoàn kết, một Chính phủ đồng cam cộng khổ với dân, một Chính phủ của dân… Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng cũng gần tắt nghỉ… Lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái.
Người khen ngợi động viên các tướng sĩ, công nhân, công chức, đồng bào hậu phương, các cháu nhi đồng, kiều bào ở hải ngoại đã hết lòng tham gia, giúp đỡ kháng chiến. Người cũng cám ơn các dân tộc yêu chuộng chính nghĩa trên thế giới, nhân dân Pháp đã ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước "quyết không đầu hàng địch quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa".
Người trịnh trọng tuyên bố và hứa với đồng bào: “Chính phủ Hồ Chí Minh thề quyết lãnh đạo nhân dân và quân đội chiến đấu đến cùng, để phá tan xiềng xích của bọn thực dân, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập. Chính phủ Hồ Chí Minh quyết làm trọn cái nhiệm vụ vẻ vang mà quốc dân đã giao cho và quyết không phụ lòng tin cậy mà đồng bào đã đặt vào Chính phủ”.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.313-316.
TỪ NGÀY 16 ĐẾN NGÀY 20-12
Hội nghị đại biểu Xứ uỷ Nam Bộ
Hội nghị diễn ra tại Kinh Năm Ngàn, xã Nhơn Ninh, huyện Mộc Hoá, Đồng Tháp Mười, căn cứ của Khu 8. Đây là Hội nghị đại biểu đầu tiên có mặt đông đủ đại biểu các tỉnh uỷ, khu uỷ. Đồng chí Lê Duẩn chủ trì Hội nghị.
Hội nghị bàn và ra nghị quyết về các vấn đề chính trị (tăng cường vai trò của Hội Liên Việt, tranh thủ lôi kéo các đảng phái, tôn giáo, giúp dỡ phong trào cách mạng ở Cao Miên...) quân sự, hành chính, kinh tế tài chính...
Hội nghị chú trọng đặc biệt về công tác Đảng. Nghị quyết Hội nghị viết để chỉ huy sát với tình thế, Xứ uỷ “phải được coi là phần cục của Trung ương nghĩa là phải phụ trách chỉ huy Cao Miên và Nam phần Trung Bộ".
Hội nghị đã bầu ra Xứ uỷ chính thức do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.349-358.
- Nam Bộ - Thành đồng Tổ quốc đi trước về sau, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.64, 142, 528.
NGÀY 31-12
Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông cáo gửi các Khu uỷ và Tỉnh uỷ về chấn chỉnh tổ chức, phân công giữa Đảng và Mặt trận
Cho đến cuối năm 1947, công việc của Đảng, của Việt Minh và Liên Việt thiếu sự phân công rõ ràng. Ở các địa phương, Khu uỷ có khi còn kiêm thêm cả việc của Việt Minh và Liên Việt; hành chính và kháng chiến. Thực trạng đó làm cho công việc của Đảng và quần chúng rất lủng củng, bề bộn; tổ chức không phát triển mạnh được, lãnh đạo không được sáng suốt và mau lẹ; Đảng luôn luôn ở trong tình trạng thiếu cán bộ và không đào tạo được cán bộ mới.
Thường vụ Trung ương quyết định:
a) Các cấp bộ Đảng và Việt Minh phải có tổ chức riêng biệt để công tác khỏi lẫn lộn. Tổ chức Đảng đoàn trong mỗi cấp bộ Việt Minh để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
b) Công việc mặt trận phải do các cấp bộ Việt Minh ra chỉ thị. Về báo cáo thì mỗi cấp phải làm hai bản mỗi kỳ. Một gửi lên cấp trên (Việt Minh), một gửi cho cấp tương đương ngành ngang (Đảng).
c) Mỗi cấp bộ phải mở lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh để đưa vào các cấp đương chỉnh đốn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.359-360.
Năm 1948 Năm 1948 (*)
THƯ GỬI HỘI NGHỊ TƯ PHÁP TOÀN QUỐC
Thưa các vị đại biểu,
Nhân dịp này tôi gửi lời thân ái chúc các bạn mạnh khoẻ, và tỏ cùng các bạn vài ý kiến như sau:
Trong cuộc kháng chiến này, các bạn đã góp một phần lực lượng lớn. Từ Bộ trưởng, Thứ trưởng đến toàn thể nhân viên, ai cũng chịu khổ chịu khó tận tuỵ hy sinh, để làm tròn nhiệm vụ. Đó là một sự vẻ vang cho giới tư pháp ta.
Công việc tư pháp cũng như mọi công việc khác càng làm ta càng tiến bộ, nhưng càng tiến bộ ta càng thấy rõ những sự trở ngại và những cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và những khuyết điểm nó còn sót lại. Và ta phải càng cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và khuyết điểm ấy.
Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.
Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể Dân chủ Cộng hoà của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.
Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính.
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương "phụng công, thủ pháp 1), chí công vô tư" cho nhân dân noi theo.
Thưa các bạn, công việc của chúng ta còn nhiều và còn khó nhọc, cuộc kháng chiến còn gay go. Nhưng với chí kiên quyết và lòng dũng cảm của chiến sĩ và đồng bào, với sự tinh thành đoàn kết và sự nhất trí nỗ lực của mọi người và mọi bộ phận trong Chính phủ ta, chúng ta có thể quả quyết rằng:
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.
Thống nhất độc lập nhất định thành công.
Dân chủ Cộng hoà nhất định vững chắc.
Với sự lãnh đạo của Bộ trưởng và Thứ trưởng tôi chắc Hội nghị sẽ có kết quả mỹ mãn.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 năm 1948
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr. 381-382.
_____________
1) Phụng công, thủ pháp: Chăm lo việc công, giữ gìn pháp luật (B.T).
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
TƯ CÁCH NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MỆNH
Tháng 3 năm 1948
Gửi đồng chí Hoàng Mai 1),
Bác đã nhận được thư và báo cháu gửi tặng Bác. Bác thấy có sự cố gắng, đáng hoan nghênh. Nhưng báo theo cháu nói, từ 24 đến 32 trang thì dài quá. Cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thật thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được. Như thế mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua. Trên báo, cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc.
Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong.
Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người công an cách mệnh là:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tuỵ.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.
Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó, chẳng những nên luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi các anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ, v.v.).
Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v.. Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép. Tránh hách dịch, v.v..
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.4, tr. 406-407.
______________
1) Đồng chí Hoàng Mai lúc đó là Giám đốc Sở công an Khu XII. Đồng chí đã gửi biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh báo Bạn dân (nội san của công an Khu XII) số Tết, Người đã gửi đồng chí Hoàng Mai thư này (B.T).
6 ĐIỀU KHÔNG NÊN VÀ 6 ĐIỀU NÊN LÀM
Nước lấy dân làm gốc.
Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em các bộ đội, cơ quan Chính phủ và các đoàn thể, trong khi tiếp xúc hoặc sống chung với nhân dân, ai ai cũng phải nhớ và thực hành 12 điều sau đây:
6 điều không nên:
1. Không nên làm điều gì có thể thiệt đến nương vườn, hoa màu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đồ đạc của dân.
2. Không nên năn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc cho mượn.
3. Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược.
4. Không bao giờ sai lời hứa.
5. Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân (như nằm trước bàn thờ, giơ chân lên bếp, đánh đàn trong nhà, v.v.).
6. Không nên làm hoặc nói gì có thể làm cho dân hiểu lầm rằng mình xem khinh họ.
6 điều nên làm:
1. Giúp công việc thực tế hàng ngày cho đồng bào (như việc gặt hái, lấy củi, nước, vá may, v.v.).
2. Tuỳ khả năng mà mua giùm những đồ cần dùng cho những người ở xa chợ búa (như dao, muối, kim, chỉ, bút, giấy, v.v.).
3. Nhân những lúc rảnh, kể cho đồng bào nghe những chuyện vui ngắn, giản dị có ích lợi cho tinh thần kháng chiến mà không lộ bí mật.
4. Dạy dân chữ quốc ngữ và những điều vệ sinh thường thức.
5. Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây cảm tình và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín.
6. Làm cho dân nhận thấy mình là người đứng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật.
Bài thơ cổ động
Mười hai điều trên,
Ai làm chả được.
Hễ người yêu nước,
Nhất quyết không quên.
Tập thành thói quen,
Muôn người như một.
Quân tốt dân tốt,
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.
Ngày 5 tháng 4 năm 1948
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 409-410.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ TỔNG BỘ VIỆT MINH
Kính gửi Tổng bộ Việt Minh,
Hôm nay, Tổng bộ khai Hội nghị tiếc tôi không đến được, tôi xin gửi lời kính chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Hội nghị thành công.
Sau đây tôi xin nhắc lại một ít kinh nghiệm để các đại biểu rõ.
Việt Minh sở dĩ được một ít thành công là nhờ có chính sách đúng:
a) Từ lúc đầu chính sách đối nội của Việt Minh là đoàn kết toàn dân, tranh độc lập cho Tổ quốc.
Để đi đến mục đích đó, Việt Minh quyết định đánh cả Nhật, cả Pháp.
Trong lúc chỉ mới có một nhóm đồng chí và hai bàn tay trắng, trong lúc Nhật, Pháp liên hiệp để áp bức phong trào ái quốc, quyết định như thế có người cho là điên rồ. Nhưng kết quả đã tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.
b) Đối ngoại, chính sách Việt Minh là đi với phe dân chủ.
Trong lúc phát xít Đức, Ý, Nhật đang ngang trời dọc đất, đánh đâu thắng đó, trong lúc các nước dân chủ đang lâm vào những bước thất bại đau đớn, định chính sách như thế cũng có người cho là điên rồ. Nhưng Việt Minh lúc bấy giờ đã đoán trước rằng Đồng minh dân chủ nhất định sẽ thắng lợi. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách của Việt Minh là đúng.
c) Trong lúc Nhật và Pháp đang hợp tác chặt chẽ, Việt Minh đoán trước rằng chúng sẽ phản nhau, mà Nhật sẽ phản Pháp trước. Do sự đoán định đó, Việt Minh đã chuẩn bị kế hoạch để lợi dụng cơ hội đó. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.
d) Việt Minh từ đầu đã chắc chắn tranh được độc lập cho Tổ quốc, cho nên định kế hoạch lập khu giải phóng chẳng những để làm căn cứ địa mà lại để huấn luyện cán bộ quân sự và hành chính sau này. Kết quả cũng chứng tỏ rằng chính sách Việt Minh là đúng.
e) Đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cướp được chính quyền, Việt Minh định tổ chức một Chính phủ rộng rãi, gồm tất cả các nhân tài trong nước để gánh vác việc quốc gia. Lúc đó có người nghĩ rằng các nhân sĩ có danh vọng chưa chắc vui lòng hợp tác với Việt Minh. Song vì Việt Minh đặt quyền lợi Tổ quốc và dân tộc lên trên hết, và lấy lòng chí công vô tư mà làm việc, cho nên các bậc có tài đức danh vọng đều vui lòng hợp tác trong Chính phủ.
g) Đến thời kỳ cần phải phát triển sự đoàn kết toàn dân hơn nữa, Việt Minh đã kịp đề ra và giúp đỡ sự tổ chức Liên Việt phát triển rất nhanh chóng và rộng rãi, và do đó Việt Minh vẫn phát triển và củng cố.
h) Chính sách Việt Minh là cốt giữ hoà bình, song đến ngày kháng chiến, Việt Minh ra sức ủng hộ chính sách trường kỳ kháng chiến của Chính phủ. Trong cuộc kháng chiến này, Việt Minh đoán chắc rằng sẽ thắng lợi và nhất định sẽ thắng lợi: "Đã tin lần trước, ắt nhằm lời sau".
Nói tóm lại, từ ngày tổ chức đến ngày nay, kinh nghiệm đã tỏ rằng chính sách Việt Minh đều đúng, đó là những điều cần phát triển và nêu cao.
Tuy vậy Việt Minh có một khuyết điểm là: phát triển chóng quá, thành thử không kịp huấn luyện cán bộ cho khắp, vì vậy mà nhiều nơi cán bộ làm sai chính sách chung, thậm chí một đôi phần tử trở nên hủ hoá.
Ngày nay, Việt Minh một mặt cần phải chú ý đến sự huấn luyện cán bộ từ cấp xã trở lên. Một mặt thì các cán bộ cần phải tự phê bình kiểm điểm cho xứng đáng với nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của mình. Và hội viên Việt Minh thì cần phải trở nên những người xung phong trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc.
Tôi mong Hội nghị đặt những kế hoạch thiết thực để phát triển và củng cố Việt Minh trong dịp Thi đua ái quốc.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 4 năm 1948
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 411-413.
LỜI KÊU GỌI THI ĐUA ÁI QUỐC
Mục đích thi đua ái quốc là:
Diệt giặc đói,
Diệt giặc dốt,
Diệt giặc ngoại xâm.
Cách làm là: dựa vào:
Lực lượng của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân.
Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau :
Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều.
Mỗi người dân Việt Nam , bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu:
Toàn dân kháng chiến,
Toàn diện kháng chiến.
Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta:
Vừa kháng chiến,
Vừa kiến quốc.
Kết quả đầu tiên của Thi đua ái quốc sẽ là:
Toàn dân đủ ăn đủ mặc,
Toàn dân biết đọc, biết viết,
Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới, để diệt ngoại xâm,
Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.
Thế là chúng ta thực hiện:
Dân tộc độc lập,
Dân quyền tự do,
Dân sinh hạnh phúc,
Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra.
Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin
Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,
Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,
Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,
Đồng bào công nông thi đua sản xuất,
Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,
Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,
Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.
Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi.
Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.
Hỡi toàn thể đồng bào,
Hỡi toàn thể chiến sĩ,
Tiến lên!
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 444-446.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ GIÁO DỤC TOÀN QUỐC 1)
(Nhờ ông Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục chuyển)
Nhân dịp Hội nghị giáo dục toàn quốc họp, tôi có lời thân ái chào thăm các đại biểu.
Về vấn đề giáo dục, tôi có mấy ý kiến sau đây cống hiến với Hội nghị.
Chúng ta cần phải có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc. Vì vậy, chúng ta:
1. Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
2. Muốn như thế, chúng ta phải có sách kháng chiến và kiến quốc cho các trường.
3. Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc.
4. Chúng ta phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ kháng chiến và kiến quốc.
5. Về bình dân học vụ, nhờ sự hy sinh cố gắng của nam nữ giáo viên, đã có kết quả rất tốt đẹp. Bây giờ, số đông đồng bào đã biết đọc biết viết thì chúng ta phải có một chương trình để nâng cao thêm trình độ văn hoá phổ thông của đồng bào.
Với sự lãnh đạo của Bộ trưởng và sự cố gắng thi đua ái quốc của toàn thể nhân viên giáo dục, tôi chắc Hội nghị sẽ có một chương trình hoạt động thiết thực để đi đến thành công.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 năm 1948
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 462-463.
____________
1) Hội nghị giáo dục toàn quốc họp từ ngày 10 đến ngày 15-7-1948, tại Việt Bắc (B.T).
NÓI CHUYỆN TẠI HỘI NGHỊ QUÂN SỰ LẦN THỨ NĂM 1)
Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hoà.
Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hoà.
Nhân hoà là thế nào?
Nhân hoà là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hoà là quan trọng hơn hết.
Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:
Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.
Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng.
Tín là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn nghĩa là tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn tự cao.
Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.
Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung.
Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống.
Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.
Công tác của người tướng là:
1. Đối với kỷ luật: Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.
Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.
2. Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.
Bộ đội cũng ví như con dao cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng. Chăm tập luyện sẽ tiến bộ. Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.
3. Đối với dân, thì chắc các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi. Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.
4. Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: "Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức mới bắt được". Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại.
Ta biết rõ địch thì thắng. Nếu để địch biết rõ ta thì sẽ thất bại. Cho nên phải hết sức giữ bí mật.
Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị.
Đó là mấy điều đại cương, các đồng chí phải nhớ. Nếu các đồng chí thi hành được những kế hoạch và phương châm chiến thuật chiến lược các đồng chí đang thảo luận cộng với những điều tôi nhắc nhở, thì kháng chiến nhất định thắng lợi!
Bây giờ toàn quốc đang có phong trào thi đua yêu nước. Quân đội ta đã thu được nhiều kết quả trong kỳ luyện quân lập công lần thứ nhất. Vậy các đồng chí phải hết sức lợi dụng những kinh nghiệm của lần thứ nhất để trong kỳ luyện quân lập công lần thứ hai này thu được nhiều thành tích hơn nữa.
Chính phủ và tôi hứa với các chú sẽ thưởng cho cán bộ nào có công to nhất trong kỳ luyện quân lập công này.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 479-491.
_____________
1) Hội nghị quân sự lần thứ năm họp tháng 8-1948 (B.T).
LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY KỶ NIỆM ĐỘC LẬP 2-9-1948
Cùng đồng bào toàn quốc,
Đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm,
Kiều bào ở nước ngoài,
Cùng toàn thể tướng sĩ,
Hôm nay chúng ta độc lập đã 3 năm.
Mà cũng đã 3 năm chúng ta kháng chiến.
Chúng ta đã cách mệnh để tranh lại độc lập.
Chúng ta đã kháng chiến để giữ lấy độc lập.
Trải 80 năm nô lệ, bao nhiêu liệt sĩ đã hy sinh xương máu, đồng bào đau khổ trong kiếp lầm than. Nhưng nhờ sức đại đoàn kết mà cách mệnh thành công.
Ngày nay, bao nhiêu chiến sĩ đang hy sinh xương máu, đồng bào đang chịu khó, chịu khổ. Nhưng cũng nhờ sức đại đoàn kết mà kháng chiến sẽ thắng lợi.
Chúng ta sẵn sàng hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp, chúng ta yêu chuộng hoà bình. Nhưng chúng ta quyết không chịu làm nô lệ.
Chúng ta quyết kháng chiến đến cùng, tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, thống nhất và độc lập thật sự, chứ không phải cái thứ thống nhất và độc lập bánh vẽ mà thực dân vừa thí cho bọn bù nhìn.
Thống nhất mà bị chia sẻ thành "nước Nam Kỳ", "nước Tây Kỳ", "Liên bang Thái", v.v.. Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy.
Để giữ gìn đất nước, tổ tiên ta đã từng kháng chiến 5 năm, 10 năm.
Dù phải kháng chiến 5 năm, 10 năm, hay là lâu hơn nữa, để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và hạnh phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng.
Thà 5, 10 năm hy sinh cực khổ, còn hơn làm nô lệ muôn đời.
Cuộc kháng chiến của ta đang hướng qua giai đoạn mới, giai đoạn đưa chúng ta gần đến chỗ thành công.
Như tôi thường nói với đồng bào và các chiến sĩ: càng gần bước thắng lợi, con đường kháng chiến càng gay go. Chúng ta càng phải động viên toàn thể lực lượng tinh thần và vật chất để đẩy tới công việc kháng chiến, và để xây đắp nền tảng cho công việc kháng chiến.
Chúng ta động viên bằng cách thi đua ái quốc. Mỗi một người công dân Việt Nam đều phải hăng hái tham gia, đều phải xung phong trong cuộc thi đua. Bằng cách thi đua, chúng ta sẽ thực hiện triệt để chương trình toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Bằng cách thi đua, chúng ta sẽ tẩy sạch mọi khuyết điểm, phát triển mọi ưu điểm, vượt qua mọi khó khăn. Bằng cách thi đua, chúng ta sẽ đập tan mọi âm mưu quân sự và chính trị của bọn thực dân và hoàn thành thống nhất và độc lập thật sự.
Vì bọn thực dân bất nhân bội tín, gây vạ chiến tranh, mà hôm nay chúng ta phải kỷ niệm Ngày độc lập trong vòng khói lửa.
Sự hung ác của chúng càng làm cho chúng ta căm hờn, càng làm cho chúng ta quyết tâm chiến đấu. Chúng ta trên dưới một lòng, quân dân nhất trí, ra sức đánh, đánh mạnh, đánh mãi, đánh tan chúng đi. Thì rồi đây chúng ta sẽ kỷ niệm Ngày độc lập trong một nước Việt Nam vui sướng thái bình.
Hỡi đồng bào!
Hỡi tướng sĩ! Hăng hái tiến lên!
Đánh tan bọn thực dân cướp nước!
Việt Nam thống nhất và độc lập muôn năm!
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 486-488.
CÁCH LÀM VIỆC TẬP THỂ LÃNH ĐẠO CÁ NHÂN PHỤ TRÁCH
Chính quyền thì có những Hội đồng. Các đoàn thể thì có những Uỷ ban. Đó là tập thể lãnh đạo.
Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo ?
Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề.
Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó.
Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm.
Ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: "Khôn bầy hơn khôn độc" là nghĩa đó.
Vì sao cần phải cá nhân phụ trách ?
Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.
Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này uỷ cho người kia, người kia uỷ cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong. Tục ngữ có câu: "Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa" là như thế.
Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân.
Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.
Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.
Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau.
Nhưng không phải vấn đề gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể giải quyết được, cũng đưa ra bàn - mới là tập thể lãnh đạo. Nếu làm như vậy, là hiểu tập thể lãnh đạo một cách quá máy móc. Kết quả là cứ khai hội mà hết ngày giờ.
Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định.
Tập thể lãnh đạo là dân chủ.
Cá nhân phụ trách là tập trung.
Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung.
Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung.
Người nào có chân trong một uỷ ban nào mà làm biếng không đến dự mọi cuộc hội nghị của ban ấy, hoặc không cân nhắc suy nghĩ kỹ lưỡng những vấn đề cần phải bàn bạc và giải quyết hoặc không phát biểu hết ý kiến của mình đối với vấn đề ấy, là trái với nhiệm vụ của mình, và không xứng đáng là một người lãnh đạo.
Người nào phụ trách thi hành, mà không làm đúng kế hoạch do đa số đã quyết định, là làm trái với nhiệm vụ của mình, và cũng không xứng đáng là một người lãnh đạo.
Vì vậy những người cán bộ phải thực hành cho kỳ đúng cái chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
X.Y.Z.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 504-506.
CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Nhờ ngọn lửa kháng chiến hun đúc rèn luyện mà cán bộ quân sự, chính trị, hành chính, chuyên môn đều tiến bộ nhiều và nhanh.
Song vẫn còn một vài người, một vài cơ quan hãy chưa tẩy hết cái bệnh chủ nghĩa cá nhân. Bệnh ấy tỏ rõ ra nơi:
Ngày thường, thì kỷ luật kém.
Khi có vấn đề nghiêm trọng, thì hoang mang.
Lúc tính toán công việc, thì đặt lợi ích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung.
Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, trái lợi ích của dân tộc.
Muốn tẩy sách bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ của mình; phải học theo cái tinh thần kiên quyết, dũng cảm, hy sinh, của nhân dân và của chiến sĩ.
Có những đồng bào hy sinh cả gia tài, điền sản, để giúp kháng chiến. Có những chiến sĩ tưới dầu châm lửa vào mình, để đốt đồn địch. Đó là những người anh hùng, bỏ nhà, bỏ mình vì nước. Cái tinh thần cao cả vẻ vang ấy sẽ soi sáng muôn đời, và luôn luôn làm kiểu mẫu cho mọi người noi theo.
Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức.
Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì phải:
Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa.
Phải vào sâu dân chúng, vào sâu bộ đội. Hỏi ý kiến và hỏi sáng kiến của quần chúng. Gom góp kinh nghiệm của quần chúng để giải quyết các vấn đề, và trao đổi những kinh nghiệm mới cho cơ quan khác, địa phương khác.
Công việc hàng ngày thì phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn.
Kháng chiến nhất định thắng lợi. Hồ Chủ tịch nói như thế. Quân và dân ta đều tin tưởng chắc như thế.
Vì sao mà kháng chiến nhất định thắng lợi?
Vì bốn điều kiện:
1. Đoàn kết chặt chẽ, quân dân nhất trí.
2. Có con đường chính trị đúng.
3. Có con đường quân sự đúng.
4. Có sự chỉ huy khôn khéo mau lẹ, về chính trị cũng như về quân sự.
Điều 1, chúng ta đã làm được một phần lớn. Nay cần phải làm cho chặt chẽ thêm sự đoàn kết giữa bộ đội với bộ đội, giữa bộ đội với dân quân, giữa quân đội với nhân dân. Nâng cao cái tinh thần cán bộ giúp đỡ chiến sĩ và nhân dân, quân đội giúp nhân dân, nhân dân giúp bộ đội.
Điều 2 và 3, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và cương quyết của Chính phủ kháng chiến, chúng ta đã sẵn có con đường chính trị và quân sự đúng. Chúng ta chỉ cần phải sửa chữa bệnh cá nhân, bệnh quan liêu, để theo cho đúng, làm cho kịp thời.
Điều 4, chúng ta có kinh nghiệm ba năm kháng chiến, hai cuộc luyện quân lập công, và phong trào thi đua ái quốc.
Các cán bộ chỉ huy cần phải khéo dùng những kinh nghiệm ấy, và cố gắng đẩy mạnh phong trào thi đua lên nữa. Như vậy thì sự chỉ huy càng khôn khéo mau lẹ thêm.
Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.
X.Y.Z.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 509-511.
BỆNH TỰ KIÊU, TỰ ÁI
Hai thứ bệnh nguy hiểm đó đều do bệnh chủ quan, hẹp hòi mà sinh ra.
Việc thế giới, việc xã hội, việc nước nhà to lớn vô cùng, nhiều vô cùng.
Dù ai tài giỏi mấy, cũng không thể biết hết cả, làm hết cả.
Xưa nay những bực tài giỏi như cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Cụ Khổng không biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo. Vì vậy, cần nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp. Cần may áo thì cụ Lê phải học hỏi người thợ may.
Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được mọi việc. Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.
Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: "Học mà thường tập, chẳng cũng vui lắm thay".
Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: "Học, học nữa, học mãi". Và "phải học hỏi quần chúng".
Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai.
Kỳ thực, tự kiêu là mù quáng, chỉ trông thấy những việc mình tưởng mình làm được, những điều mình tưởng mình biết hết; mà không trông thấy những điều mình không biết, những việc mình chưa làm được.
Tự kiêu là hẹp hòi. Tài đức độ lượng nhỏ nhen, không bao dung được những ý kiến và những phê bình của người khác. Thí dụ một cái cốc, vì hẹp hòi mà chỉ đựng được rất ít nước, thêm một chút nước nữa, là phải tràn. Trái với cái độ lượng rộng lớn của bể, bao nhiêu nước cũng vẫn chứa được.
Tự kiêu là thoái bộ. Vì tự mãn tự túc, không cố gắng học hỏi thêm. Không theo kịp sự tiến bộ của thời đại. Tự mình ngăn trở sự tiến bộ của mình.
Tự kiêu là hủ hoá. Vì không chịu học những sự hay sự tốt của người; không ưa những lời phê bình thẳng thắn để sửa chữa những khuyết điểm của mình. Mà người đời ai chẳng có khuyết điểm to hay nhỏ, ít hay nhiều!
Nói tóm lại: Tự kiêu nhất định sẽ đi đến thất bại. Vì kiêu ắt đi đôi với nịnh. Đã kiêu thì ắt ghét những người tài giỏi hơn mình. Ưa những kẻ nịnh hót mình. Thân cận là những kẻ vô tài bất lực, nhưng khéo nịnh hót a dua. Xa cách hoặc dìm hãm những người có tài có đức hay bàn ngay nói thẳng. Như thế thì sao khỏi hỏng việc.
Cụ Khổng Tử có nói: "Nếu có tính tự kiêu, thì dù tài giỏi vô cùng như ông Chu Công, thì tài giỏi ấy cũng vất đi".
Nghĩa chính của chữ tự ái là giữ đúng chữ cần, kiệm, liêm, chính. Không làm điều gì có hại đến danh dự và đạo đức của mình. Thế là chân chính tự ái, mà ai cũng phải tự ái.
Nhưng người ta thường hiểu lầm chữ tự ái. Do đó mà hay chấp vặt, không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình ngay thẳng - thì gọi là tự ái. Tự ái này luôn luôn đi đôi với tự kiêu, tự mãn, tự túc. Và kết quả là tự khí, nghĩa là mình tự ngăn trở mình tiến bộ, đồng thời đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Đã cô độc, thì chẳng việc gì thành công.
KẾT LUẬN: Mỗi một người và tất cả mọi người chúng ta phải tẩy cho sạch bệnh tự kiêu, "tự ái". Đó là hai thứ bệnh rất nguy hiểm cho đạo đức và công việc.
Thang thuốc thánh để chữa bệnh này gồm có bốn vị là:
a) Thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình.
b) Cố gắng sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm.
c) Luôn luôn cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ.
d) Thực hành đoàn kết.
X.Y.Z.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 514-516.
MỘT VIỆC MÀ CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CẦN THỰC HÀNH NGAY
KIỂM TRA
Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi.
Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh.
Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.
Mục đích sự tổ chức công tác là: động viên toàn thể nhân dân hăng hái thi hành chính sách đã định. Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ "dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn" và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên ấy và sự thực hành ấy đã đến mức nào, thì phải có kiểm tra.
Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời. Hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà "đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị" mà công việc vẫn không chạy.
CÁCH KIỂM TRA
1. Kiểm tra phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết, thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khăn, để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn.
2. Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi.
3. Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Như thế, thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách.
NGƯỜI KIỂM TRA
Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín.
Nhưng người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra. Ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào nếu có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm.
Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn "pha". Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra.
Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm.
X.Y.Z.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 520-521.
LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY KỶ NIỆM HAI NĂM KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC
Cùng đồng bào toàn quốc,
Cùng toàn thể chiến sĩ,
Hôm nay, cuộc trường kỳ kháng chiến bước sang năm thứ ba, riêng Nam Bộ đã đến năm thứ tư. Chúng ta hãy xét lại tình hình hai năm vừa qua, để tiến hành công việc trong năm sắp đến. Tình hình trong hai năm đó thế nào?
VỀ PHÍA ĐỊCH:
1. Chính trị: Từ ngày khởi cuộc chiến tranh phi nghĩa, Chính phủ Pháp đã bị Quốc hội và nhân dân Pháp lật đổ hơn 10 lần.
Những kẻ thay mặt Chính phủ Pháp ở Đông Dương cũng phải thay đổi ba lần. Nhà quân phiệt Đácgiăngliơ thất bại, phải trở về đi tu. Nhà chính trị Bôlae cũng thất bại, lại bị nhân dân Pháp hất ra khỏi Thượng nghị viện. Nay đến lượt công chức Pinhông, chắc rồi cũng thất bại.
Chính sách chia rẽ, chính sách dùng người Việt đánh dân Việt cũng thất bại. Lũ bù nhìn phản quốc, chẳng những bị đồng bào ta phỉ nhổ, mà lại bị thế giới chê cười.
2. Quân sự: Từ tướng Lơcléc, tướng Valuy, tướng Xalăng đến tướng Bledô, địch đã phải thay đổi thống soái bốn lần.
Binh sĩ địch mỗi tháng bị ta tiêu diệt từ 800 đến 1.000 người, cho nên ngoài lính Pháp, chúng phải dùng những tội nhân Pháp, những tù binh Đức và Ý, những lính Marốc, da đen. Chúng lại bắt ép những thanh niên Việt Nam trong vùng tạm bị chúng chiếm đi làm bia đỡ đạn. Phần đông những đồng bào ấy chỉ chờ dịp để quay về với Tổ quốc.
3. Kinh tế: Chúng phải hao tổn hàng muôn triệu về binh bị, mà nền kinh tế của chúng ở đây lại bị phá sản. Trước kia 100 phần, nay chỉ còn ba, bốn phần.
4. Thêm vào những thất bại đó, tình hình nội bộ nước Pháp lại rất rối ren. Trên trường ngoại giao, Pháp cũng thất bại, và bị các đế quốc khác lấn át, đánh lừa.
VỀ PHÍA TA:
1. Trong khi Chính phủ Pháp lập lên, đổ xuống mấy lần, oai tín Chính phủ kháng chiến ta càng ngày càng vững chắc, chẳng những được Quốc hội và nhân dân ta ủng hộ, mà danh vọng trên thế giới càng ngày càng thêm cao.
Nhân dân ta đoàn kết ngày càng chặt chẽ, lực lượng kháng chiến ngày càng dồi dào.
2. Năm đầu kháng chiến, quân đội ta còn thơ trẻ, võ khí ta rất thô sơ. Trong Nam thì gậy tầm vông, ngoài Bắc thì súng đạn cũ. Thế mà ta cũng cản được địch.
Ngày nay, quân đội ta đã trưởng thành về mọi mặt. Ta đã nhiều phen cho địch nếm mùi võ khí mới của ta, như ở Đồng Tháp Mười, ở đèo Hải Vân, ở Việt Bắc, và ở nhiều trận khác.
Ta lại có lực lượng dân quân du kích to lớn mạnh mẽ. Chẳng những các đội du kích trai tráng, mà những đội phụ lão du kích, phụ nữ du kích cũng đã nhiều lần giết giặc, lập công.
3. Kinh tế, tài chính, văn hoá của ta đã vượt qua những bước khó khăn, và vẫn theo đà phát triển.
Ta có những thắng lợi vẻ vang ấy, là do lòng nồng nàn yêu nước và sự đoàn kết nhất trí của đồng bào và chiến sĩ.
Vậy, nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi:
Toàn thể chiến sĩ, Vệ quốc quân và dân quân du kích. Toàn thể đồng bào ở vùng tự do cũng như ở vùng tạm bị chiếm và kiều bào ở hải ngoại. Toàn thể cán bộ hành chính và chuyên môn.
Tôi lại thay mặt Chính phủ, kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời thân ái an ủi các thương binh, cựu binh, cùng gia đình các chiến sĩ.
Theo sự so sánh trên đây, chúng ta thấy rằng:
Lực lượng của địch trước to sau nhỏ, trước mạnh sau yếu. Tình hình của địch như mặt trời đã xế tà, gần tắt.
Lực lượng của ta trước nhỏ sau to, trước yếu sau mạnh. Thanh thế của ta cũng như những nguồn nước nhỏ nhớn dần thành một đại dương.
Cuộc kháng chiến của ta:
NĂM ĐẦU là vất vả,
NĂM THỨ HAI là tiến bộ,
NĂM THỨ BA sẽ là năm bước gần đến thắng lợi hoàn toàn.
Song chúng ta chớ chủ quan, khinh địch. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, chúng ta còn phải kinh qua những bước gay go hơn trước, còn phải chiến đấu hăng hái hơn trước, mạnh hơn trước.
Vì vậy, toàn thể đồng bào và toàn thể chiến sĩ đều phải hăng hái xung phong thi đua ái quốc.
Các chiến sĩ phải thi đua diệt nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công.
Đồng bào phải thi đua tăng gia sản xuất, giết giặc đói, giết giặc dốt, giúp sức giết giặc ngoại xâm. Các cán bộ phải thi đua thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính, tẩy sạch khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Ta ngày càng đoàn kết, ngày càng "thực túc, binh cường", thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Độc lập, thống nhất nhất định thành công!
Chào thân ái và quyết thắng
Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 530-533.
Năm 1949 Năm 1949 (*)
BÀI NÓI CHUYỆN TRONG BUỔI BẾ MẠC HỘI NGHỊ CÁN BỘ CỦA ĐẢNG LẦN THỨ SÁU
Lần này, Hội nghị có đủ đại biểu Trung, Nam, Bắc và cán bộ cao cấp của Đảng trong chính quyền, quân sự, kinh tế, tài chính, đảng vụ, dân vận, kiểm tra, v.v. về dự, đó là một điểm tốt.
Những vấn đề thảo luận thì nhiều, nhưng đều hướng vào một đường đi: kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Phương hướng đã định, ta nhằm vào phương hướng ấy mà đi, thế nào ta cũng đi tới đích.
Năm nay, những việc chúng ta phải làm là:
1. Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi.
2. Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành.
3. Làm ra nhiều, chi dùng ít. Không cần thì không chi dùng. Đó là tất cả chính sách kinh tế, tài chính của ta.
4. Chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng. Ta thắng lợi là nhờ dân mà hiện giờ nhiều đoàn thể dân chúng còn rất kém.
5. Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm.
Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng.
Trong Đảng, có những việc khẩn yếu như:
a) Ta thiếu nhiều cán bộ quá: phải đào tạo huấn luyện cho dần dần có đủ. Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu khó học. Đồng chí ta nhiều người kinh nghiệm thực hành khá, nhưng về văn hoá thì i tờ. Những đồng chí trí thức đọc nhiều nhưng không có kinh nghiệm công tác, chưa quen nền nếp làm việc của Đảng.
Vậy phải nâng cao lý luận cho cán bộ cũ và dạy cho cán bộ trí thức làm công tác quần chúng.
b) Lối làm việc trong Đảng hiện nay mắc hai khuyết điểm:
- Cán bộ cũ làm việc theo lối thủ công nghiệp.
- Cán bộ mới làm việc theo lối khoa học nhưng lại quá trớn, không hợp với hoàn cảnh kháng chiến.
Phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý, vừa với điều kiện của ta, đừng phạm vào hình thức, máy móc.
c) Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến.
Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.
Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.
Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.
d) Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa.
Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là: Phê bình và tự phê bình.
Từ trên xuống dưới, ai nấy đều phải dùng nó để càng ngày càng đoàn kết, tiến bộ.
đ) Giữ kỷ luật.
Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác. Các đồng chí chúng ta cần phải ra sức giữ gìn kỷ luật sắt của Đảng.
*
* *
Ta họp trong lúc phong trào cách mạng thế giới đương tiến triển rất mau, nhất là cuộc thắng lợi của nhân dân và Đảng Trung Quốc.
Về thành tích thì Đảng ta là Đảng đầu tiên ở Đông - Nam Á giành được chính quyền. Nói như thế không phải để tự cao, tự đại, mà để cố gắng làm tròn trách nhiệm.
Thế giới ngót 2.000 triệu người, số đảng viên cộng sản có trên 20 triệu, đổ đồng cứ 100 người dân là có một người cộng sản. Ở Đông Dương, theo số liệu hiện nay, cứ 112 người dân là có một người cộng sản. Đó là một điều đáng mừng. Nếu ai cũng làm được đầy đủ nhiệm vụ thì kháng chiến nhất định chóng thắng lợi, kiến quốc nhất định chóng thành công.
Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!
Cách mạng thế giới thành công muôn năm!
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 551-553.
______________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH
Viết xong khoảng tháng 6-1949.
Ký tên: Lê Quyết Thắng.
Uỷ ban KCHC Liên khu I
xuất bản năm 1949.
Theo sách của Uỷ ban KCHC
Liên khu I.
CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH 1)
Vì sao Hồ Chủ tịch đề ra khẩu hiệu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính?
Vì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người.
Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nền Dân chủ Cộng hoà, cho đến mấy năm kháng chiến, dân ta nhờ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, mà đánh thắng được giặc lụt, giặc dốt, giặc thực dân và giặc đói.
Tuy vậy, đồng bào ta có người đã hiểu rõ, có người chưa hiểu rõ. Có người thực hành nhiều, có người thực hành ít. Cho nên cần phải giải thích rõ ràng, để cho mọi người hiểu rõ, mọi người đều thực hành.
CẦN
Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai.
Người Tàu có câu: không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng.
Tục ngữ ta có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu, cũng đầy tổ.
Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.
Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.
Siêng học tập thì mau biết.
Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.
Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khoẻ.
Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.
Người siêng năng thì mau tiến bộ.
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.
Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng.
Cây gỗ bất kỳ to nhỏ, đều có gốc và ngọn.
Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít.
Cụ Mạnh Tử có nói: "Người thợ muốn làm khéo, thì trước phải sắp sẵn công cụ của mình".
Một thí dụ:
Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ. Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, v.v. và làm sao xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bèn bắt tay vào việc đóng tủ.
Như thế là anh thợ mộc ấy làm việc có kế hoạch. Như thế là anh ấy sẽ không hao thì giờ, tốn lực lượng, mà việc lại mau thành.
Trái lại, nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi cần đến cưa mới chạy đi lấy cưa, khi cần đến đục thì phải chạy đi tìm đục. Như vậy thì mất thì giờ chạy lăng xăng cả ngày, mà công việc được ít.
Việc to, việc nhỏ, muôn việc đều như vậy.
Vì vậy, siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau.
Kế hoạch lại đi đôi với phân công.
Trong một gia đình, một xưởng máy, một cơ quan, v.v. đã phải có kế hoạch, lại phải phân công cho khéo.
Phân công phải nhằm vào 2 điều:
1. Công việc: Việc gì gấp thì làm trước. Việc gì hoãn thì làm sau.
2. Nhân tài: Người nào có năng lực làm việc gì, thì đặt vào việc ấy.
Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai.
Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích. Như thế chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt.
Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần.
Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.
Lười biếng là kẻ địch của chữ cần.
Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.
Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác.
Một thí dụ:
Trong thời kỳ kháng chiến của dân tộc ta, các vị kỹ sư thì chăm lo phát minh những thứ khí giới mới. Đồng bào thì chăm lo cung cấp các thứ nguyên liệu. Những người vận tải thì chăm lo đưa những nguyên liệu ấy đến các xưởng máy. Anh em công nhân thì chăm lo rèn đúc ra những thứ khí giới mới. Các chiến sĩ chăm lo luyện tập dùng những vũ khí ấy để giết cho nhiều giặc.
Tất cả mọi người đó như kết thành một sợi dây chuyền, quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Mọi người đều Cần, thì dây chuyền ấy chạy rất thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả là địch mau thua, ta mau thắng.
Nếu trong những người đó mà có người lười biếng, thì công việc của những người khác ắt chậm lại, khác nào sợi dây chuyền có một khúc hỏng. Kết quả sẽ tai hại thế nào, rất là dễ hiểu.
Lại một thí dụ nữa: Toàn dân tộc ta đoàn kết thành một khối. Công việc của mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều phối hợp với nhau, như một chuyến xe lửa. Tất cả mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều cố gắng, đều siêng năng, thì nước ta sẽ tiến bộ rất nhanh chóng. Cũng như chuyến xe lửa chạy đều, chạy nhanh, mau đến ga. Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.
Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.
Kết quả chữ Cần là thế nào?
Kết quả chữ Cần rất là to lớn. Một thí dụ:
Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh niên và thành nhân có sức làm việc. Nếu mỗi người, mỗi ngày chỉ làm thêm một tiếng đồng hồ, thì:
Mỗi tháng sẽ thêm lên 300 triệu giờ.
Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ.
Chỉ những giờ ấy đã bằng động viên 400 triệu người làm trong một ngày 9 giờ.
Cứ tính một giờ làm là đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công.
Đó là kết quả rõ ràng của chữ CẦN.
KIỆM
Kiệm là thế nào?
Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.
CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.
CẦN mà không KIỆM, "thì làm chừng nào xào chừng ấy". Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.
KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.
Cụ Khổng Tử nói: "Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ".
Tiết kiệm cách thế nào?
Chắc đồng bào ai cũng được nghe câu chuyện phong bì của Hồ Chủ tịch.
Hồ Chủ tịch dùng một cái phong bì hơn 2, 3 lần. Cụ nói:
"Trung bình, cái phong bì là 180 phân vuông giấy (0,018 m2).
Mỗi ngày, các cơ quan, đoàn thể và tư nhân trong nước ta ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy. Mỗi tháng là 5.400 thước. Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy.
Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì 2 lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước thì để dành cho các lớp bình dân học vụ, thì chẳng tốt sao?
Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể thêm vào việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa...".
Cái thí dụ ấy rất rõ rệt, dễ hiểu. Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ vật liệu khác đều như thế.
Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.
Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được. Có ai kéo lại ngày hôm qua được không?
Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên "nay lần mai lữa".
Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần.
Bất kỳ làm việc gì, nghề gì, khi đã làm thì phải hăng hái, chăm chỉ, chuyên chú, làm cho ra trò làm.
Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác.
Thánh hiền có câu: "Một tấc bóng là một thước vàng".
Tục ngữ Âu nói: "Thời giờ tức là tiền bạc".
Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại.
Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.
Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.
Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.
Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.
Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2, 3 giờ, là xa xỉ.
Hao phí vật liệu, là xa xỉ.
Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.
Ăn không ngồi rồi, trong lúc đang cần kháng chiến và xây dựng, là xa xỉ.
Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.
Tiết kiệm nghĩa là:
1 giờ làm xong công việc của 2, 3 giờ.
1 người làm bằng 2, 3 người.
1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng.
Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức. Cái thí dụ người thợ mộc nói trên, đã chứng tỏ rằng: biết tổ chức thì tiết kiệm được sức lực, thời giờ, và vật liệu.
Không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm. Thí dụ: nếu 1 nhà 10 người, mỗi người nấu riêng một nồi cơm, thì tốn biết bao nhiêu nồi, bao nhiêu củi và nước, bao nhiêu công phu. Góp nhau lại nấu chung một nồi, thì lợi biết bao nhiêu.
Vì vậy, góp sức làm việc (lao động tập đoàn), và hợp tác xã, là một cách tiết kiệm tốt nhất.
KẾT QUẢ CỦA TIẾT KIỆM
Trên kia đã thuật lại cái thí dụ tiết kiệm phong bì, mà Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta. Đây tôi xin thêm một thí dụ nữa:
Nước ta có 20 triệu người. Nhiều bù ít, mỗi người mỗi ngày ăn 700 gam gạo, mỗi tháng là 21 kilô gạo.
Nếu mỗi ngày mỗi người chỉ tiết kiệm nửa bát cơm (việc đó rất dễ, ai cũng làm được), thì mỗi tháng cả nước sẽ tiết kiệm được 20 triệu kilô gạo, nghĩa là đủ nuôi một triệu chiến sĩ trong một tháng.
Hiện nay, mấy xã ở Liên khu I có sáng kiến làm "Hũ gạo kháng chiến". Mỗi nhà mỗi ngày cứ bỏ vào hũ một vốc gạo. Chỉ thế thôi, mà số gạo đủ nuôi anh em dân quân du kích trong xã.
Đó là một sáng kiến tiết kiệm hay, mà các nơi nên làm theo. Nếu toàn dân ta THI ĐUA TIẾT KIỆM:
Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ;
Chiến sĩ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy;
Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu;
Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút;
Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội;
Mỗi người, thi đua tiết kiệm thời giờ;
Thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tăng gia sản xuất.
Một mặt, chúng ta thi đua KIỆM.
Một mặt, chúng ta thi đua CẦN.
Kết quả CẦN cộng với kết quả KIỆM là: bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiền tiến trên thế giới.
Kết quả chữ CẦN chữ KIỆM to lớn như vậy đó.
Cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.
LIÊM
Liêm là trong sạch, không tham lam.
Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.
Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.
Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM. Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.
Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.
Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.
Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.
Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.
Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.
Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.
Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.
Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.
Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là BẤT LIÊM.
Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).
Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.
Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh uý tử.
Đều làm trái với chữ LIÊM.
Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp.
Cụ Khổng Tử nói: "Người mà không Liêm, không bằng súc vật".
Cụ Mạnh Tử nói: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Để thực hiện chữ Liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.
Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư".
Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân.
"Quan tham vì dân dại". Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM.
Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM.
Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.
Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân.
Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân.
Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.
Dân tộc ta đang kháng chiến và kiến quốc, đang xây dựng một Đời sống mới trong nước Việt Nam mới. Chẳng những chúng ta phải cần kiệm, chúng ta còn phải thực hành chữ LIÊM.
CHÍNH
Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.
CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn.
Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.
Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ.
Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.
Làm việc TÀ, là người ÁC.
Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.
Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:
1. Mình đối với mình.
2. Mình đối với người.
3. Mình đối với công việc.
ĐỐI VỚI MÌNH
- Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn
mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.
- Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.
Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.
- Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.
Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.
Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? đối với việc có chuyên cần không?
Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.
Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.
ĐỐI VỚI NGƯỜI
Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.
Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.
Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.
Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.
Phải thực hành chữ Bác - Ái.
ĐỐI VỚI VIỆC
Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.
Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.
Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công.
Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.
Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.
Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.
Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.
Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt,
Con cháu mình sung sướng,
Gia đình mình no ấm,
Làng xóm mình thịnh vượng,
Nòi giống mình vẻ vang,
Nước nhà mình mạnh giàu.
Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.
Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.
Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 629-645.
LỜI KÊU GỌI THI ĐUA CHUẨN BỊ TỔNG PHẢN CÔNG
Mấy lâu nay, vì bận việc kháng chiến, tôi ít có dịp nói chuyện với đồng bào và chiến sĩ. Vậy hôm nay, lời đầu tiên là tôi thân ái hỏi thăm:
Các vị phụ lão,
Các vị thân sĩ,
Các anh em cán bộ chính trị, hành chính và chuyên môn,
Đồng bào trong nước, ngoài nước, và trong vùng tạm bị chiếm,
Các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi thân ái hỏi thăm:
Toàn thể tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích,
Các anh chị em công nhân ở các xưởng máy quốc phòng.
Hôm nay là ngày phát động Thi đua ái quốc tiếp theo kỳ trước, cho nên tôi chỉ nói chuyện thi đua.
Từ ngày Cách mạng Tháng Tám, thế giới đã ngạc nhiên và kính phục dân tộc ta vì ba điều:
Điều thứ nhất là ta đã cách mạng thành công, đã phá tan xiềng xích thực dân, đã đánh đổ chế độ phong kiến, đã lập nền dân chủ cộng hoà.
Điều thứ hai là ta chẳng những có sức kháng chiến mà lại chắc chắn kháng chiến thắng lợi.
Điều thứ ba là ta vừa kháng chiến vừa Thi đua ái quốc.
Ta bắt đầu thi đua từ tháng 6 năm ngoái. Cuộc thi đua nhằm ba mục đích: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.
Mặc dầu thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm và bị giặc Pháp tìm mọi cách để phá hoại, ta vẫn lượm được nhiều kết quả tốt sau một năm thi đua.
- Vì đồng bào ra sức thi đua tăng gia sản xuất, cho nên dân ta dù có chật vật ít nhiều, nhưng vẫn tránh khỏi nạn đói. Trong thời kỳ chiến tranh các nước còn chật vật hơn ta.
- Vì đồng bào hăng hái ủng hộ, và các chiến sĩ bình dân học vụ tận tuỵ, mà đã mấy tỉnh như Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Thái Bình đã diệt xong giặc dốt. Các tỉnh khác thì đang ra sức theo cho kịp các tỉnh trên. Đó là một thành tích vẻ vang, nếu chúng ta nhớ rằng dưới chế độ thực dân, năm 1941 chỉ có non nửa triệu trẻ con ta được đi học.
- Nhờ toàn dân ra sức ủng hộ, và bộ đội cùng dân quân du kích ta dũng cảm và nhờ anh chị em công nhân ta ra sức chế tạo vũ khí, mà từ Nam đến Bắc ta đã thắng nhiều trận vẻ vang. Chính bọn thực dân cũng phải nhận rằng quân đội ta rất tiến bộ và quân đội Pháp không thể nào thắng được ta.
- Ngoài ba việc chính ấy, đồng bào ta còn thi đua nhiều mặt khác và thành tích cũng không kém vẻ vang. Đây tôi chỉ nhắc vài thí dụ:
Các đoàn thể và cá nhân thì thi đua đỡ đầu bộ đội và dân quân. Như tỉnh Hà Tĩnh đã quyên giúp hàng mấy chục triệu.
Các cụ, các bà thì thi đua tham gia Hội mẹ chiến sĩ.
Nhân dân thì thi đua mua công phiếu kháng chiến, thi đua góp đảm phụ kháng chiến và nộp thuế. Riêng chị em phụ nữ cũng thi đua góp phần đảm phụ kháng chiến, dù được Chính phủ miễn góp.
Các đồng bào điền chủ thì thi đua giảm địa tô, có người giảm đến 50 phần 100, và thi đua quyên ruộng, có người quyên từ năm sáu trăm đến hơn 2000 mẫu.
Các cụ phụ lão và chị em phụ nữ thì thi đua tổ chức đội du kích.
Các cháu thanh niên thì thi đua tòng quân.
Cán bộ trong các cơ quan thì thi đua sửa đổi cách làm việc cho hợp lý hơn.
Các cháu nhi đồng thì thi đua học tập và giúp mọi công việc. Có nhiều cháu đã gửi tiền nhờ tôi góp vào quỹ kháng chiến.
Kiều bào ở nước ngoài và đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng đều tuỳ hoàn cảnh mà thi đua.
Nói tóm lại: mọi người đều thi đua, mọi việc đều có thi đua, và đều có thành tích. Nhân dịp này tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào và chiến sĩ.
Vì nhiều thành tích cho nên chúng ta càng thấy rõ nhiều khuyết điểm. Tôi nêu ra đây những khuyết điểm chính để chúng ta cùng nhau sửa chữa:
Còn nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa hiểu thật rõ ràng ý nghĩa của phong trào Thi đua ái quốc. Do đó mà có những khuyết điểm như sau:
- Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ: Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm.
Xưa nay ta vẫn làm ruộng. Nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.
Mọi việc đều thi đua như vậy.
- Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ. Ta phải thi đua để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Nhiều nơi đặt những kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương.
Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi.
Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được.
Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà các kế hoạch thì không ăn khớp với nhau. Thành thử "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào.
Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác, để tránh cái dở, học cái hay của nhau.
Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên. Trung ương gửi chỉ thị thế nào, khu cứ nguyên văn gửi xuống tỉnh, tỉnh cứ nguyên văn gửi xuống huyện, huyện cứ như thế gửi xuống xã. Chứ không biết điều tra kỹ lưỡng, áp dụng thiết thực.
Đó là những khuyết điểm chính mà chúng ta phải sửa chữa và quyết sửa chữa được. Điều cần thiết nhất, là phải giải thích kỹ càng cho mỗi một người dân hiểu rõ rằng: Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc thế nào. Mỗi người dân đều hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được.
Hiện nay, kháng chiến đã đến thời kỳ đẩy mạnh cuộc cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, thì phong trào Thi đua ái quốc cũng phải nhằm vào mục đích ấy. Vì vậy, chương trình thi đua trong giai đoạn này vẫn là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Nhưng tiến lên một bước mạnh hơn.
Về văn hoá, những nơi đã diệt xong nạn mù chữ thì phải thi đua học thêm nữa.
Những nơi khác thì phải thi đua diệt cho xong nạn mù chữ.
Các nhà văn nghệ thì thi đua sáng tác. Các nhà chuyên môn thì thi đua phát minh.
Về kinh tế, thì thi đua làm cho dân và quân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, để đánh giặc.
Về quân sự, Vệ quốc quân và dân quân du kích thì thi đua rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh quân đội. Các công xưởng thì thi đua chế tạo vũ khí cho nhiều, cho mau, cho tốt.
Ngoài ra, tất cả mọi việc ích lợi cho dân sinh quốc kế, quan hệ với kháng chiến kiến quốc, ta đều phải thi đua. Thi đua phải là toàn dân, toàn diện.
Trong các việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính.
Khẩu hiệu Thi đua ái quốc, hiện nay là: Tất cả để chiến thắng. Chiến thắng giặc thực dân. Chiến thắng giặc dốt. Chiến thắng giặc đói. Chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta.
Tôi chắc rằng với kinh nghiệm thi đua năm vừa qua, với lòng hăng hái của đồng bào và chiến sĩ, với hồng phúc của Tổ quốc, Thi đua ái quốc nhất định thành công to, cũng như trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi to.
Mong toàn thể đồng bào và chiến sĩ cố gắng lên!
Đồng bào và chiến sĩ lại phải nhớ rằng: trong mùa xuân vừa qua giặc Pháp bị ta đánh bại nhiều trận. Âm mưu chúng dùng bọn bù nhìn để lừa gạt đồng bào ta cũng thất bại. Cho nên thu đông này, chúng ra sức thu góp lực lượng, mở những cuộc tấn công mạo hiểm và bất thình lình; chúng mong dùng quân sự để giải quyết nguy cơ của chúng. Chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước. Tôi thường nói: càng gần thắng lợi thì càng nhiều khó khăn. Tôi mong toàn thể đồng bào và chiến sĩ hăng hái thi đua vượt qua mọi sự khó khăn, để mà tranh lấy thắng lợi.
Nước ta sẽ độc lập và thống nhất thật sự.
Dân ta sẽ no ấm và giàu mạnh thật sự.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 656-660.
DÂN VẬN
Vấn đề Dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ nhưng vì nhiều địa phương, nhiều cán bộ chưa hiểu thấu, làm chưa đúng, cho nên cần phải nhắc lại.
I- NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
II- DÂN VẬN LÀ GÌ ?
Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho.
Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ.
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng : Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân.
Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng.
III- AI PHỤ TRÁCH DÂN VẬN?
Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh, v.v.) đều phải phụ trách dân vận. Thí dụ trong phong trào thi đua cho đủ ăn, đủ mặc.
- Cán bộ chính quyền và cán bộ Đoàn thể địa phương phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn...
- Cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân, thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ, v.v..
Những hội viên các đoàn thể thì phải xung phong thi đua làm, để làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân làm.
IV- DÂN VẬN PHẢI THẾ NÀO?
Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc.
Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại.
Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.
X.Y.Z.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 698-700.
___________
1) Nội dung cuốn sách này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong 4 bài báo với bút danh Lê Quyết Thắng, đăng trên báo Cứu quốc: Thế nào là cần, 30-5-1949; Thế nào là kiệm, 31-5-1949; Thế nào là liêm, 1-6-1949; Thế nào là chính, 2-6-1949 (B.T).
THƯ GỬI HỘI NGHỊ CÁN BỘ NÔNG DÂN CỨU QUỐC TOÀN QUỐC
Nước ta là một nước nông nghiệp.
Hơn 9 phần 10 dân ta là nông dân.
Hơn 9 phần 10 nông dân ta là trung, bần và cố nông.
- Trong Vệ quốc quân và bộ đội địa phương, dân quân du kích số đông là nông dân.
- Tăng gia sản xuất để nuôi bộ đội, nuôi công nhân và công chức, là nông dân.
- Công việc phá hoại để chống giặc, công việc sửa chữa đường sá, giao thông, vận tải phần lớn do nông dân làm.
Nói tóm lại, nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân.
Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân.
Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh.
Nông vận là phải:
- Tổ chức nông dân thật chặt chẽ.
- Đoàn kết nông dân thật khăng khít.
- Huấn luyện nông dân thật giác ngộ.
- Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc.
Vận động nông dân là phải vận thế nào cho toàn thể nông dân động, nghĩa là: làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình; làm cho nông dân vào Hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Muốn như thế thì cán bộ nông dân phải tránh bệnh chủ quan, bệnh hình thức, bệnh giấy tờ.
Cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã.
Cán bộ huyện phải đến tận các xã, các thôn.
Cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ.
Để thiết thực điều tra, giúp đỡ, kiểm soát, rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm giúp đỡ nông dân và học hỏi dân.
Trong các cấp chính quyền cũng như trong các ban lãnh đạo Nông hội, phải có những anh em bần nông, cố nông tham gia thực sự.
Các cán bộ (cả cán bộ nông vận và cán bộ chính quyền), làm đúng như thế và nhất định phải gắng làm đúng như thế, thì những công việc:
- Thi đua tăng gia sản xuất để diệt giặc đói,
- Thi đua học chữ quốc ngữ để diệt giặc dốt,
- Thi đua giúp đỡ bộ đội, xây dựng dân quân du kích để diệt giặc ngoại xâm.
Nhất định sẽ thành công tốt đẹp.
Tháng 11 năm 1949
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.5, tr. 710-711.
Năm 1950 Năm 1950 (*)
THƯ CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Cùng đồng bào toàn quốc,
Cùng toàn thể chiến sĩ,
Cùng tất cả cán bộ,
Cùng các cháu thanh niên và nhi đồng,
Nhân dịp Tết dương lịch, tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và các cháu năm mới.
Trong năm 1950, cuộc kháng chiến sẽ bước sang giai đoạn mới. Vì vậy, mỗi một công dân Việt Nam, mỗi một chiến sĩ Việt Nam phải đưa tất cả tinh thần và lực lượng mới vào cuộc Thi đua ái quốc, để chuẩn bị mau chóng đầy đủ đặng chuyển sang tổng phản công.
Năm mới là một năm quyết định.
Mỗi người, mỗi ngành, mỗi nơi đều phải cố gắng làm tròn bổn phận, thì năm mới chắc là một năm đại thắng lợi.
Tôi mong rằng mỗi một đồng bào, mỗi một chiến sĩ, mỗi một cán bộ và mỗi một cháu sẽ chúc Tết Chính phủ và tôi bằng một lời hứa kiên quyết rằng:
"Tôi hứa sẽ kiên quyết làm tròn nhiệm vụ, để làm cho năm mới là năm thắng lợi hoàn toàn".
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr.1.
________________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
THƯ GỬI ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN TOÀN QUỐC 1)
Gửi Đại hội công đoàn toàn quốc,
Nhân dịp Đại hội, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Đại hội có kết quả thiết thực tốt đẹp. Trong cuộc kháng chiến của dân tộc, giai cấp công nhân ta đã gánh một phần quan trọng và đã có những thành tích vẻ vang. Từ nay giai cấp công nhân ta ắt phải cố gắng hơn nữa. Theo ý tôi, những việc chính mà Đại hội phải làm là:
- Tổ chức và huấn luyện toàn thể công nhân, trong vùng tự do và trong vùng tạm bị địch chiếm.
- Lãnh đạo công nhân xung phong thi đua ái quốc và chuẩn bị tổng phản công.
- Đi đến tổ chức toàn thể lao động bằng đầu óc cũng như lao động bằng chân tay.
- Giúp đỡ và lãnh đạo nông dân về mọi mặt.
- Liên lạc mật thiết với công nhân thế giới, trước hết là với công nhân Trung Hoa và công nhân Pháp.
Trong công việc kháng chiến và kiến quốc, trong sự nghiệp xây dựng nền dân chủ mới, giai cấp công nhân phải là người lãnh đạo. Vì vậy, mỗi nam, nữ công nhân phải cố gắng học hỏi, tiến bộ, phải cố gắng xung phong làm kiểu mẫu trong mọi việc để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của giai cấp mình.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 2-3.
____________
1) Đại hội Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khai mạc ngày 1-1-1950, tại Việt Bắc. Dự Đại hội có gần 200 đại biểu của giai cấp công nhân Việt Nam.
LỜI TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÙNG CHÍNH PHỦ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 19451 đã đánh đổ nền thống trị của đế quốc Nhật và Pháp ở Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập. Ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phát biểu bản Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân Việt Nam và thế giới. Ngày 2-3-1946, Quốc hội3 (Quốc dân đại hội) Việt Nam bầu Chính phủ chính thức của nước Việt Nam.
Ngày 23-9-1945, quân đội thực dân Pháp đánh Nam Bộ. Sau đó, nước Pháp đã ký với Việt Nam bản Hiệp định sơ bộ 6-3-19464 và Tạm ước 14-9-19465. Nhưng thực dân Pháp vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh phi nghĩa trái với ý nguyện hoà bình của nhân dân Pháp. Chúng lại thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại để dùng làm lợi khí xâm lược Việt Nam và lừa gạt thế giới.
Quyết bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc chống thực dân Pháp, nhân dân và quân đội Việt Nam đương chiến đấu anh dũng và ngày càng gần thắng lợi cuối cùng. Trải qua mấy năm kháng chiến, nước Việt Nam từng được nhân dân toàn thế giới đồng tình và ủng hộ. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố với Chính phủ các nước trên thế giới rằng: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới.
Ngày 14 tháng 1 năm 1950
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 7-8.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG 1)
Các đồng chí,
Đảng họp Hội nghị toàn quốc, tiếc vì tôi hơi mệt, không đến họp với các đồng chí được. Vậy tôi có vài ý kiến gửi các đồng chí thảo luận:
Xét tình hình trong nước và ngoài nước, thế lực của ta và của địch, năm nay là năm cuộc kháng chiến của ta chuyển biến lớn. Các đồng chí hãy thiết thực kiểm điểm công tác và thành tích của Đảng, Mặt trận và của Chính quyền trong ba năm vừa qua, để định rõ nhiệm vụ của năm mới là: hoàn thành việc chuẩn bị, chuyển mạnh sang tổng phản công.
Thời cơ có lợi cho ta, nhưng khó khăn của ta còn nhiều. Tổng phản công là một việc lớn. Chúng ta chỉ có thể tổng phản công thắng lợi, nếu chúng ta chuẩn bị đầy đủ, khắc phục mau chóng những nhược điểm, phát triển mau chóng những ưu điểm. Công việc trước mắt của chúng ta là:
- Giữ vững khối đại đoàn kết của dân tộc;
- Tích cực xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương;
- Đánh mạnh vào lực lượng vật chất và tinh thần của địch;
- Động viên lực lượng toàn dân, tổ chức và võ trang nhân dân rộng rãi, vùng tự do cũng như vùng bị tạm chiếm;
- Liên lạc hành động với nhân dân Pháp và các lực lượng hoà bình dân chủ trên thế giới...
Nếu ta làm trọn được những việc đó, thì tôi tin rằng, với tinh thần thi đua ái quốc của đồng bào ta, với lòng kiên quyết đánh giặc của tướng sĩ ta, với những cố gắng và hy sinh của đồng chí ta, năm nay sẽ là năm đại thắng lợi.
Riêng về Đảng, các đồng chí hãy kiểm thảo sự lãnh đạo của Đảng về chính trị và tổ chức, đề cao tinh thần phê bình và tự phê bình trong Đảng, tổ chức việc học tập lý luận và sửa đổi lối làm việc, để cho Đảng ta thành một lực lượng rất mạnh, đưa dân tộc đến bước thành công.
Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 20 tháng 1 năm 1950
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 11-12.
____________
2) Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 21-1-1950.
LỜI KÊU GỌI ĐỒNG BÀO TĂNG GIA SẢN XUẤT
Cùng đồng bào toàn quốc,
Năm nay là năm chuyển mạnh sang tổng phản công, bộ đội và nhân dân sẽ cần nhiều lúa thóc, hoa màu, thịt cá, bông vải.
Năm nay cũng là năm mà giặc đánh thua cố phá hoại tài sản mùa màng của ta nhiều hơn.
Vậy trong lúc ở mặt trận, bộ đội và dân quân hăng hái đánh giặc để chuyển mạnh sang tổng phản công, đồng bào ở hậu phương có nhiệm vụ:
1. Thi đua tăng gia sản xuất; chăn nuôi thêm súc vật, giồng thêm nhiều thóc lúa, hoa màu, bông, rau. Trai, gái, già, trẻ, mỗi người đều phải cố gắng, người đã tăng gia sản xuất sẽ tăng gia sản xuất nhiều hơn, người chưa tăng gia sản xuất sẽ phải tăng gia sản xuất. Chúng ta quyết thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân canh tác, bốn mùa canh tác.
2. Thi đua tiết kiệm, tránh xa xỉ, phí phạm, để dành lương thực cho bộ đội hoặc cho những lúc túng thiếu.
Làm hai việc trên là góp sức vào công việc chuyển mạnh sang tổng phản công.
Tôi mong đồng bào cố gắng.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 1 tháng 3 năm 1950
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 18.
NƯỚC VIỆT NAM ĐẤU TRANH CHO NỀN ĐỘC LẬP CỦA MÌNH
Việt Nam là nước lớn nhất trong số ba nước hợp thành Đông Dương. Việt Nam có 20 triệu dân, Campuchia có 4 triệu dân, Lào một triệu.
Việt Nam là thuộc địa giàu nhất trong số các thuộc địa của Pháp. Nam Bộ sản xuất gạo và cao su, Trung Bộ (ở giữa) sản xuất muối và cá, Bắc Bộ (Bắc Kỳ) có nhiều gỗ và hầm mỏ.
Trong hơn 80 năm dưới ách thuộc địa của Pháp, nhân dân Việt Nam không ngừng đấu tranh chống lại bọn chủ người nước ngoài. Cuộc đấu tranh đã trở lên mạnh mẽ hơn từ Chiến tranh thế giới thứ hai6. Mặc dù bọn thực dân thực hiện khủng bố trắng, các cuộc nổi dậy vẫn lần lượt nổ ra trong khắp nước.
Tháng 9 năm 1940 ở Bắc Sơn (Bắc Bộ)
Tháng 11 năm 1940 ở Nam Bộ
Tháng 1 năm 1941 ở Đô Lương (Trung Bộ)
Tháng 12 năm 1944 ở Đình Cả (Bắc Bộ) 1).
Những cuộc nổi dậy đó đã bị đàn áp dã man trong lửa và máu. Những cuộc chiến đấu yêu nước đã bắt đầu. Không gì có thể ngăn nó được.
*
* *
MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
Năm 1940, những tên Pháp phản bội ở phương Tây đã bán nước Pháp cho bọn phát xít Đức. Những tên Pháp phản bội ở phương Đông cũng bán Đông Dương cho phát xít Nhật. Dưới hai ách áp bức Pháp - Nhật, nhân dân Việt Nam đấu tranh càng kiên quyết hơn và có phương pháp hơn.
Năm 1941, Mặt trận dân tộc thống nhất - Việt Minh10, đã được thành lập.
Việt Nam độc lập đồng minh (hoặc Việt Minh) có nghĩa là liên minh vì nền độc lập của nước Việt Nam. Mặt trận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác.
Các thành viên của Mặt trận tập hợp trong các Hội cứu quốc tức các Hội cứu nước khác nhau, thí dụ như: Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, Hội nhi đồng cứu quốc, v.v..
Học tập được kinh nghiệm của thế giới là nếu không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức, Việt Minh đề ra nhiệm vụ tổ chức các đội du kích vũ trang. Ngay từ năm 1944, Việt Minh đã bắt đầu cuộc chiến tranh du kích chống lại quân đội Nhật và Pháp. Chẳng bao lâu, họ đã chiếm được sáu tỉnh phía Bắc Bắc Bộ. Trong vùng này, những bước đi đầu tiên của nền dân chủ mới đã được áp dụng: các cơ quan chính quyền địa phương do nhân dân bầu ra, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, v.v..
Các đội du kích phát triển nhanh chóng và trở thành Quân đội giải phóng nhân dân (Vệ quốc quân).
Việt Bắc - nơi đóng bản doanh của Việt Minh - trở thành một thứ "đất thánh" của cuộc cách mạng dân tộc. Những người yêu nước, trai, gái, trẻ, già, từ mọi miền đất nước đã bí mật đến đây để nhận những sự cổ vũ và những chỉ thị.
CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Tháng 3-1945, bọn đế quốc Nhật đã tống cổ bọn đế quốc Pháp ra khỏi cửa. Việt Minh đã dự kiến trước sự kiện này và đã sẵn sàng để khai thác sự kiện đó. Về mặt chính trị, Việt Minh giải thích cho nhân dân hiểu các mâu thuẫn giữa những tên đế quốc với nhau và sự diệt vong không thể tránh khỏi của những tên ăn cướp này. Về mặt quân sự, Việt Minh triển khai một công tác tuyên truyền mạnh mẽ vào các binh lính bản xứ trong quân đội Pháp và đã được họ cung cấp một số vũ khí.
Uy tín của Việt Minh tăng lên và các tổ chức của nó phát triển rất nhanh. Đến giữa năm 1945, Việt Minh đã có 5 triệu hội viên (hiện nay là 12 triệu).
Mệnh lệnh chuẩn bị tổng khởi nghĩa được ban hành.
Tháng 8-1945, chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản bị đánh bại, cách mạng Việt Nam thắng lợi trong cả nước.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam, việc thành lập nền Cộng hoà dân chủ và việc lập ra Chính phủ nhân dân. Như vậy là cả ách áp bức thuộc địa đã tồn tại trong một thế kỷ lẫn chế độ phong kiến già cỗi tồn tại từ hàng nghìn năm đều đã bị xoá bỏ.
SỰ CAN THIỆP CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG QUỐC TẾ
Ngay sau đó, bọn phản động quốc tế do chủ nghĩa đế quốc Mỹ đứng đầu đã tìm cách bóp chết nền cộng hoà non trẻ của Việt Nam.
Theo lệnh của Bộ tư lệnh Đồng minh do tướng Mỹ Mác Áctơ chỉ huy và lấy lý do giải giáp quân đội Nhật Bản, quân đội Anh đã chiếm nửa phía Nam của nước Việt Nam và quân đội Quốc dân đảng chiếm nửa phía Bắc. Quân đội Anh đã giúp thực dân Pháp mở đầu cuộc chiến tranh chiếm lại Nam Bộ. Quân đội Quốc dân đảng dung dưỡng bọn phản động Việt Nam trong hoạt động phản cách mạng của chúng.
Hơn nữa, bọn đế quốc Nhật và Pháp đã để lại cho nước Cộng hoà Việt Nam mới một gia tài thảm hại: một nạn đói lớn. Thóc gạo đã bị chúng tịch thu hết, do đó, vào mùa xuân năm 1945, hơn hai triệu người đã bị chết đói tại các tỉnh phía Bắc. Rồi nạn hạn hán tiếp theo nạn lụt!
Nhờ chính sách đúng đắn và sự lãnh đạo của Việt Minh và nhờ tinh thần hăng hái của nhân dân, không những đã tránh được nạn đói mà còn thực hiện được nhiều tiến bộ mới, thí dụ: một Quốc hội được bầu ra bằng đầu phiếu phổ thông, một quân đội nhân dân đã được tổ chức, nạn mù chữ bị xoá bỏ, v.v..
BỌN THỰC DÂN PHÁP BẮT ĐẦU CUỘC CHIẾN TRANH
Được quân đội Anh và Nhật giúp đỡ, bọn thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh ở Nam Bộ (Nam Kỳ) ngay từ tháng 9-1945.
Vào thời kỳ đó, nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Bộ nói riêng chưa được tổ chức tốt về mặt quân sự. Phần lớn các chiến sĩ được vũ trang bằng những gậy tre. Tướng Lơcléc có tiếng tăm, Tổng chỉ huy quân đội thực dân Pháp, đoán trước rằng chúng sẽ chiếm lại toàn bộ nước Việt Nam trong vòng 3 tháng là chậm nhất.
Như người ta thấy, Lơcléc đã nhầm.
Bọn thực dân tiến hành chiến tranh ở phía Nam đồng thời tiến hành ngoại giao ở phía Bắc Việt Nam. Chúng muốn tranh thủ thời gian nhằm tăng cường lực lượng viễn chinh để đánh một đòn lớn.
Vì vậy Chính phủ Pháp đã ký với Chính phủ Cộng hoà Việt Nam bản Hiệp định ngày 6-3, bản Tạm ước ngày 14-9 - những mảnh giấy mà chỉ ít lâu sau đó chúng đã xé bỏ.
Ngày 20-12-1946 quân đội Pháp mở cuộc tổng tấn công trong khắp nước Việt Nam. Đó là một cuộc chiến tranh không tuyên bố. Những nhà quân sự Pháp muốn lắp lại chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng của Hítle, nhằm chỉ một đòn là tiêu diệt xong các lực lượng yêu nước Việt Nam.
Ở đây nữa, bọn thực dân Pháp lại đã nhầm. Và rất chắc chắn là chúng cũng sẽ chịu chung số phận của bọn Hítle tiền bối của chúng.
CHÚNG ĐÃ BỊ SA LẦY TRONG NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ QUÂN SỰ
Sau 2 tháng kháng cự anh dũng trong thành phố Hà Nội, các lực lượng Việt Nam đã rút về nông thôn, không thiệt hại một người, không mất một khẩu súng nào.
Trong 3 tháng cuối năm 1947, bọn Pháp đã tung lục quân, hải quân của chúng ra nhằm bao vây và tìm diệt các lực lượng Việt Nam ở Việt Bắc. Nhưng chúng đã bị trừng phạt bằng một thất bại vang dội, với 7.500 quân của chúng bị giết và bị thương.
Từ sau thất bại đó, chúng tự hạn chế trong các trận đánh có quy mô nhỏ hơn.
Năm 1946, các nhà quân sự Pháp già dặn nhất đã công khai thú nhận rằng muốn chiếm lại Việt Nam thì phải có 500.000 lính Pháp. Nhưng tuyển mộ được số người đó, vũ trang cho họ, nuôi họ ăn và vận chuyển họ sang Việt Nam, những việc đó vượt quá sức của một nước Pháp đã bị thiệt hại nặng nề và bị kiệt quệ bởi hai cuộc chiến tranh thế giới.
Những người am hiểu các vấn đề thuộc địa- như giáo sư Giuglát và những người khác - thừa nhận rằng quân đội nhân dân Việt Nam đã mạnh lên ngang quân đội thực dân Pháp.
Báo chí Mỹ - thí dụ tờ Diễn đàn thông tin Niu Oóc viết rằng: đội quân viễn chinh của Pháp ở Đông Dương đã vượt quá số 120.000 người, nhưng đến nay nó vẫn chẳng đạt được tiến bộ gì hơn thời kỳ đầu cuộc chiến tranh. Những vùng bị người Pháp chiếm đóng không quá 16% lãnh thổ của đất nước.
Tính đến cuối năm 1949, đội quân viễn chinh Pháp đã bị mất khoảng 100.000 người bị giết và bị thương.
Kế hoạch của tướng Rơve, tổng chỉ huy quân đội Pháp, nhằm "khoá cửa" biên giới Việt Nam đã bị thất bại hoàn toàn. Tinh thần quân đội Pháp xuống đến mức thấp nhất, trong khi những người Việt Nam đang chuẩn bị một cuộc tổng phản công.
NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ CHÍNH TRỊ
Không có hy vọng về mặt quân sự, bọn thực dân Pháp giở những thủ đoạn chính trị. Họ dùng Bảo Đại để tổ chức ra một chính phủ bù nhìn nhằm chia rẽ nhân dân Việt Nam.
Cựu hoàng đế của các hộp đêm, Bảo Đại là một tay lật lọng chuyên nghiệp, lần lượt làm chó săn cho Pháp, cho Nhật và mới đây lại cho Pháp. Hắn kết hôn với con gái của một đại địa chủ theo đạo Thiên Chúa, là anh em đồng hao với một bá tước người Pháp, được nuôi nấng trong giới quý tộc thối nát ở Pháp và phần lớn thời gian hắn sống tại các thành phố ăn chơi ở Pháp. Tên bù nhìn này là bạn của Tưởng Giới Thạch và chắc chắn hắn sẽ có cái kết cục nhục nhã như tên sát nhân người Trung Quốc kia.
Tên bán nước Việt Nam không những bị nhân dân ghét bỏ mà cả hoàng tộc cũ cũng bỏ rơi hắn. Thí dụ:
Năm 1949, khi tướng Rơve đến Đông Dương, hơn một nghìn nhà trí thức ở Sài Gòn đã gửi cho Rơve một bản tuyên ngôn phản đối Bảo Đại và ủng hộ Hồ Chí Minh.
Sau khi đã công bố một bức thư kết án Bảo Đại là kẻ phản bội Tổ quốc, ông hoàng già Ưng Uý, bác của Bảo Đại đã rời bỏ Huế, cố đô bị quân Pháp chiếm để nhận chức vụ chủ tịch một uỷ ban địa phương của Mặt trận dân tộc thống nhất.
Các tổ chức nhân dân đã nhất trí đòi hỏi phải trừng trị Bảo Đại vì tội phản quốc.
Một nhà báo Mỹ hỏi một người đã từng làm quan với Bảo Đại rằng có bao nhiêu người Việt Nam tán thành Bảo Đại? Câu trả lời là: ước lượng nhiều nhất là 1%.
Nhà báo Mỹ nói trên viết rằng: Trừ một số rất ít, tất cả những người Việt Nam đều chống lại bọn thực dân Pháp và Bảo Đại, tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam tán thành Chính phủ cách mạng của ông Hồ Chí Minh.
Vậy, về mặt chính trị cũng như về mặt quân sự, bọn đế quốc Pháp đều không có lối thoát.
VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ
Theo số liệu chính thức, năm 1949, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã làm nước Pháp thiệt hại 115 tỷ phrăng, tức là gấp 4 lần so với lúc bắt đầu chiến tranh, vào năm 1946-1947.
Trong khi các khoản chi tiêu về quân sự tăng lên một cách khủng khiếp, thì nền kinh tế Pháp hoàn toàn bị kiệt quệ, như các con số sau đây chứng minh:
Xuất cảng trước chiến tranh Đến 1949
Gạo
1.500.000
tấn
90.000
tấn
Than
1.500.000
-
40.000
-
Cao su
100.000
-
28.000
-
Các thứ khác
900.000
-
48.000
-
Cộng
4.000.000
-
206.000 1)
-
Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã dẫn nước Pháp bị Mácsan hoá đến chỗ bị kiệt quệ. Báo Diễn đàn thông tin Niu Oóc viết:
"Trước kia, Việt Nam là một nguồn của cải đối với nước Pháp. Giờ đây, nó trở thành một nguồn nợ nần đối với nước Pháp".
SỰ CAN THIỆP CỦA MỸ VÀ MÂU THUẪN GIỮA NHỮNG TÊN KẺ CƯỚP
Tình trạng của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam giống như tình trạng của một người cưỡi trên lưng một con hổ. Xuống chăng? Sẽ bị ăn thịt. Đừng xuống chăng? Bị ăn thịt mất thôi.
Tuyệt vọng, hắn cầu cứu chủ nghĩa đế quốc Mỹ.
Tên này, không đợi mời đến hai lần, đã vồ ngay lấy cơ hội. Bởi vì hắn muốn biến Việt Nam thành một "vành đai an toàn" chống cộng sản.
Chẳng bao lâu, mâu thuẫn gay gắt xuất hiện giữa hai toán kẻ cướp.
Chủ nghĩa đế quốc Mỹ nói với ông bạn Pháp: "Vì tôi ứng tiền và vũ khí, và vì anh không đánh thắng được ở Việt Nam, vậy anh hãy cút khỏi đó để tôi vào thay!".
Nhưng chủ nghĩa đế quốc Pháp nói với "vị cứu tinh" của mình:
"A, xin lỗi! Anh cung cấp vũ khí, đúng vậy. Nhưng tôi, tôi đã hy sinh hàng vạn sinh mạng thanh niên Pháp. Vì vậy tôi muốn giữ lấy phần mà tôi đã cướp được".
Dưới đây là một số chứng cớ về các mâu thuẫn đó:
Ngày 1-3-1950, Thông tấn xã Pháp loan báo rằng "Chính phủ Pháp muốn giữ quyền kiểm soát mọi viện trợ được cung cấp cho Việt Nam" (cho bù nhìn Bảo Đại).
Cùng ngày, Hãng thông tấn U.P thuật lại lời của ông Giétxốp, đại sứ lưu động của Tơruman, nói rằng: "Trước khi quân đội Pháp rút khỏi nước này, nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam không có gì bảo đảm cả" (Dịch lại từ báo chí nước ngoài).
Thật là một cú đá của con lừa ... Mỹ!
CANH BẠC CỦA MỸ
Theo tin của Hãng thông tấn U.P ngày 6-3-1950, Tơruman đã gửi cho quân đội Pháp ở Đông Dương 60 máy bay mới, có thể là 120... Hạm đội 7 của Mỹ sẽ bỏ neo ở Sài Gòn... Mỹ sẽ sử dụng lính Nhật để đánh Việt Nam... theo yêu cầu của Chính phủ Pháp. Oasinhtơn sẽ cho Bảo Đại 30 triệu đôla để sống được tới tháng 6,...vân vân.
Nhưng cũng chính hãng thông tấn đó ngày 1-3-1950 đã viết rằng: "Điều mà Mỹ làm ở Đông Dương lúc này là món tiền cược cá ngựa lớn nhất mà cho tới nay Mỹ chưa từng chơi trong cuộc chiến tranh lạnh. Nhưng ngay cả với sự giúp đỡ của Mỹ, người Pháp cũng không thể đánh bại được du kích cộng sản... Từ năm 1946, không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, Hồ Chí Minh đã có thể chặn được bước tiến của quân đội Pháp... Với chỉ một phần nhỏ số viện trợ như của Mỹ dành cho Pháp, ông Hồ Chí Minh cũng có thể đương đầu với Pháp nhiều năm nữa. Nếu Liên Xô đến giúp ông ta thì ông ta cũng có thể tạo ra cho người Pháp cũng như cho người Mỹ một tình cảnh không thể tưởng tượng nổi... 30 triệu đôla mà người Pháp yêu cầu cho Bảo Đại thì chỉ là một giọt nước trong một cái bể lớn... Chính phủ Bảo Đại - do người Pháp nâng đỡ - là một đứa trẻ mới sinh, yếu đuối, và không được nhân dân kính trọng..." (Dịch lại).
Như vậy là ngay cả dư luận phản động ở Mỹ cũng lên án cuộc phiêu lưu của Tơruman ở Việt Nam.
Là một tay đánh bạc tồi, Tơruman đã đặt cọc vào Tưởng Giới Thạch một số đôla và nỗ lực đồ sộ. Và kết quả là ông ta nhận được một trận đòn khủng khiếp. Ông ta bị mất vốn và mất mặt, con ngựa Trung Quốc của ông ta bị đánh quỵ hoàn toàn, nước Trung Hoa cách mạng được giải phóng một cách thắng lợi.
Không nghi ngờ gì nữa, Bảo Đại và quân đội viễn chinh Pháp sẽ bị đánh bại như Tưởng Giới Thạch vậy, và Tơruman sẽ mất số tiền cược của ông ta ở Việt Nam như ông ta đã mất ở Trung Quốc. Nhưng đối với ông ta lần này, sự thiệt hại sẽ đau đớn hơn nhiều bởi vì ông sẽ bị đánh bại bởi nước Việt Nam nhỏ bé.
VIỆT NAM SẼ THẮNG LỢI
Việc Liên Xô, nước Trung Hoa mới và các nước dân chủ công nhận Chính phủ Cộng hoà Việt Nam đã nâng lên đến mức cao nhất niềm phấn khởi của nhân dân Việt Nam dũng cảm mà tinh thần thì rất cao và lòng can đảm thì không gì thắng nổi. Đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi lớn về chính trị.
Cảm tình của những người lao động trên toàn thế giới và sự đoàn kết của nhân dân Pháp đã dấy lên một phong trào rộng lớn chống lại "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" ở Việt Nam là một thắng lợi to lớn về tinh thần đối với nhân dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Để giành lại nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước của mình, nhân dân Việt Nam sẵn sàng đấu tranh 10 năm, 15 năm, 20 năm hoặc hơn nữa, nếu cần thiết!". Và Người nói thêm: "càng gần đến thắng lợi, chúng ta càng gặp nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta đã quyết tâm khắc phục tất cả những khó khăn và chịu đựng mọi hy sinh để đạt mục đích của mình: Đánh đuổi tất cả bọn xâm lược và giải phóng Tổ quốc của chúng ta".
Quyết tâm bền bỉ đó, niềm tin tưởng không gì lay chuyển nổi đó của một dân tộc là sự bảo đảm vững chắc của thắng lợi cuối cùng. Và Việt Nam sẽ thắng.
Vậy thì, trái với tất cả những sự tính toán của lực lượng phản động quốc tế, đứng đầu là lực lượng phản động Pháp - Mỹ đang muốn biến Việt Nam thành một cái hàng rào chống cộng sản ở Đông Nam Á, nước Việt Nam dũng cảm đang trở thành một tiền đồn vững chắc của mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này của thế giới 3).
DIN
Thư ký Mặt trận Liên - Việt
(Mặt trận dân tộc thống nhất) địa phương
Kính gửi Bộ biên tập tuần báo
Vì một nền hoà bình lâu dài
Vì một nền dân chủ nhân dân,
Đồng chí Tổng biên tập thân mến,
Tôi không viết tiếng Pháp đã từ lâu, khá lâu. Lần này viết, chắc tôi sẽ mắc nhiều lỗi. Mong đồng chí sửa hộ những lỗi đó. Nếu thấy cần thiết, đồng chí có thể sử dụng tài liệu này để viết lại hoàn toàn bài báo.
Tôi sẽ gửi tới đồng chí nhiều bài khác nữa, hoặc do tôi, hoặc do các đồng chí của tôi viết.
Về thù lao, tôi mong đồng chí gửi đều đặn cho chúng tôi nhiều bản của tờ báo và những sách báo khác mà đồng chí có.
Chào thân ái
Ngày 22 tháng 3 năm 1950
HỒ CHÍ MINH
Tái bút: Nếu trong bài có những sai về chính trị, mong đồng chí sửa hộ những sai đó và gửi cho chúng tôi lời phê bình. Xin cảm ơn trước.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 24-34.
___________
1) Trong nguyên bản đánh máy nhầm: Tháng 10-1940 ở Bắc Sơn, tháng 11-1940 ở Đô Lương, tháng 8-1941 ở Đình Cả.
2) Trong nguyên bản đánh máy nhầm là 220.000.
3) Cùng với bản thảo bài báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bức thư sau cho Bộ biên tập tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân.
VỀ CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN VÀ HỌC TẬP 1)
I- PHẢI THIẾT THỰC, CHU ĐÁO TRONG CÔNG VIỆC HUẤN LUYỆN
Việc huấn luyện học tập không phải là một việc đơn giản, muốn làm được thì phải hiểu cho rõ. Bây giờ, Bác lần lượt trả lời mấy câu hỏi về việc đó.
1. Từ trước đến nay Đoàn thể đã huấn luyện được mấy người ?
Chưa biết được con số đích xác, nhưng cũng có thể tính sơ qua được: trong báo cáo của thanh niên khu V 2) có nói đã mở được 2.713 lớp huấn luyện. Con số này có vẻ "khoa học" quá, nên chúng ta chưa thể tin hoàn toàn được. Vậy cứ "bỏ xâu" đi 713 và lấy 2.000 lớp thôi. Các đoàn thể khác trong khu V (công nhân, nông dân, phụ nữ, v.v.) cộng lại cũng có thể mở được 3.000 lớp nữa. Như thế là riêng khu V là một khu dân ít người thưa, cũng đã mở được 5.000 lớp huấn luyện. Cho mỗi lớp có 10 người học thì số người đã được huấn luyện trong cả khu là 50.000 người. Nam Bộ, khu IV, khu III và khu Việt Bắc, tuy dân đông hơn và việc huấn luyện có nơi làm được nhiều hơn, nhưng cứ tính đổ đồng cho mỗi khu 50.000 thì toàn quốc cũng đã có đến 25 vạn người được huấn luyện, nghĩa là 25 vạn cán bộ. Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ. Vì sao ? Vì việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo.
2. Huấn luyện ai ?
Ta phải:
- Huấn luyện cán bộ.
- Huấn luyện hội viên của Đoàn thể.
- Huấn luyện cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền.
- Huấn luyện nhân dân.
Nói đến cán bộ trước hết, vì "cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể".
Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn.
3. Ai huấn luyện?
Không phải ai cũng huấn luyện được.
- Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội. Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt : tư tưởng, đạo đức, lối làm việc.
- Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình. Lênin khuyên chúng ta: "Học, học nữa, học mãi". Mỗi người đều phải ghi nhớ và thực hành điều đó, những người huấn luyện lại càng phải ghi nhớ hơn ai hết. Người huấn luyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất. Khẩu hiệu "Học không biết chán, dạy không biết mỏi" treo trong phòng họp chính là của Khổng Tử. Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học.
"Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại". Lênin dạy chúng ta như vậy.
4. Huấn luyện gì ?
a) Lý luận: Phải dạy lý luận Mác - Lênin cho mọi người. Người biết lý luận mà không thực hành thì cũng vô ích.
Học lý luận không phải để nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông. Học là để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng.
b) Công tác: Ngoài lý luận phải dạy công tác. Ví dụ: về các việc Tổng động viên, thi đua ái quốc, thu thuế bằng thóc, v.v. phải giải thích thế nào cho dân hiểu, phải động viên thế nào, sắp đặt công việc thế nào. Việc thắng lợi ngoại giao vừa rồi, phải xem xét ảnh hưởng đối với ta thế nào, đối với địch thế nào, đối với trong nước thế nào, đối với quốc tế thế nào, làm thế nào để lợi dụng được hết ảnh hưởng của thắng lợi đó. Những việc như thế đều phải dạy cho cán bộ và đồng chí biết.
c) Văn hoá: Phải chú ý dạy văn hoá cho những đồng chí kém văn hoá để giúp cho họ tiến bộ về lý luận, công tác.
d) Chuyên môn: Mỗi người phải biết một nghề để sinh hoạt. Riêng về cán bộ, ai lãnh đạo trong ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn về ngành ấy. Ví dụ: những đồng chí lãnh đạo hoả xa phải biết chuyên môn về hoả xa, có thế lãnh đạo mới sát.
5. Huấn luyện thế nào ?
a) Cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều.
Việc cốt yếu là phải làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thấu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ. Trái lại cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được. Ví dụ: muốn dạy cho người ta biết con voi là thế nào thì có thể nói tỉ mỉ bộ xương của nó ra sao, nó có mấy cái răng, nó sống thế nào, sống được mấy năm, v.v.. Nhưng nếu chưa thể dạy kỹ như thế được thì cũng có thể nói cho người ta biết bao quát hình thù của con voi như: mình nó to bằng ba bốn con trâu, nó có chân lớn như cột nhà, hai tai to như hai cái quạt, một cái vòi và hai cái ngà ở đầu, v.v.. Như thế, người học không thể lầm con voi với con tôm, con mèo hay con bò được. Hơn nữa, khi nói đến chuyện săn voi hay bắt voi, người ta cũng không nghĩ lầm được rằng có thể dùng lưỡi câu mà móc hay dùng roi, dùng gậy mà đánh. Như thế là người học dùng được sự hiểu biết của mình vào việc làm một phần nào. Trái lại, nếu thì giờ ít, trình độ còn kém, mà cứ cặm cụi lo nghiên cứu tỉ mỉ cái ngà voi không chẳng hạn, thì khi trở về lại tưởng lầm con voi là cái ngà, không ích lợi gì cả.
b) Huấn luyện từ dưới lên trên.
Các ban huấn luyện không nên ôm đồm. Phải lấy người ở cấp dưới lên huấn luyện rồi trở lại cấp dưới để họ huấn luyện cho cấp dưới nữa. Trung ương huấn luyện cán bộ cho các khu, các tỉnh, cán bộ ở khu và tỉnh phải huấn luyện cho cán bộ huyện, xã. Như thế đỡ tốn công, tốn thì giờ, và cán bộ huấn luyện cho cấp dưới gần mình lại sát hơn. Nhưng muốn huấn luyện theo lối này thì phải huấn luyện cho chu đáo. Đừng bôi bác, nếu ở trên bôi bác thì càng xuống dưới càng sai lệch.
c) Phải gắn liền lý luận với công tác thực tế.
Trung ương có những chỉ thị về chủ trương chính sách, Ban huấn luyện phải có những tài liệu dựa theo tình hình cụ thể, kinh nghiệm công tác để giải thích những chủ trương chính sách đó. Như thế thì lý luận mới khỏi bị tách rời thực tế.
d) Huấn luyện phải nhằm đúng nhu cầu.
Ban huấn luyện phải liên lạc mật thiết với các cơ quan tuyên truyền, dân vận, chính quyền. Huấn luyện cán bộ là cốt để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác: Đoàn thể, Mặt trận, Chính quyền, Quân đội. Các ngành công tác như là người tiêu thụ hàng. Ban huấn luyện như là người làm ra hàng. Làm ra hàng phải đúng với nhu cầu của người tiêu thụ. Nếu người ta cần nhiều xe mà mình làm ra nhiều bình tích thì hàng ế.
đ) Huấn luyện phải chú trọng việc cải tạo tư tưởng.
Huấn luyện thì phải hiểu rõ người học để nâng cao khả năng và tẩy rửa khuyết điểm cho họ. Phải huấn và luyện. Huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc. Ví dụ: Hiện nay, cán bộ ta có một khuyết điểm lớn là tự kiêu, tự mãn. Phải đập cho tan khuyết điểm ấy đi. Nếu còn tự kiêu tự mãn thì học biết nhiều chỉ thêm hại. Do tự kiêu, tự mãn mà cán bộ có một khuyết điểm lớn nữa là óc địa vị. Ví dụ: đang làm việc ở khu, mà Đoàn thể điều động về công tác ở tỉnh thì phàn nàn, chán nản cho rằng làm như thế là không xứng đáng tài mình, đáng lẽ là mình ở cấp trên kia! Phải gột sạch đầu óc địa vị đi. Việc gì có lợi cho cách mạng, có lợi cho Đoàn thể là làm hết, không có việc gì sang, việc gì hèn cả.
6. Tài liệu huấn luyện:
a) Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có ích lợi gì. Có một lần đi dự hội nghị về, Bác gặp một đoàn thanh niên và phụ nữ thôn quê ngồi nghỉ ở một đầu dốc. Bác hỏi họ đi đâu, thì họ bảo là đi dự lớp huấn luyện về, tuy đang giữa ngày mùa nhưng họ cũng cố thu xếp để đi học, mỗi người mang theo mười ngày gạo. Bác hỏi: "Học có vui không?".
- Vui lắm.
- Thế học những gì ?
- Các Mác.
- Học thế rồi có biết gì không ?
Họ ấp úng: "Không ạ".
Thế là phí công, phí của, vô ích.
b) Ngoài những tài liệu về chủ nghĩa Mác - Lênin, còn có những tài liệu thiết thực. Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học. Việc trao đổi gom góp kinh nghiệm này phải có tổ chức hẳn hoi chứ không phải mạnh ai nấy nói.
c) Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ đều là những tài liệu cần phải học tập nghiên cứu.
II- PHẢI NÂNG CAO VÀ HƯỚNG DẪN VIỆC TỰ HỌC
Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Vì vậy:
1. Học để làm gì?
a) Học để sửa chữa tư tưởng: Hăng hái theo cách mạng, điều đó rất hay. Nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng, vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng. Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được.
b) Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tuỵ với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn.
c) Học để tin tưởng:
Tin tưởng vào Đoàn thể.
Tin tưởng vào nhân dân.
Tin tưởng vào tương lai của dân tộc.
Tin tưởng vào tương lai cách mạng.
Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh.
d) Học để hành: Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích.
Hành mà không học thì hành không trôi chảy.
2. Học ở đâu?
Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn. Sau đây là câu chuyện học nhân dân rất hay của một nữ đồng chí Thái quê ở Sơn La: Hồi đồng chí ấy mới 15, 16 tuổi thì các cán bộ cách mạng bảo cho làm công tác tuyên truyền, nhưng bảo sao thì nói vậy, chưa hiểu biết mấy. Một năm sau, giặc chiếm Sơn La. Dân chúng và cán bộ Sơn La chạy bạt sang Hoà Bình, bị đồng bào ở đó khinh miệt là sợ giặc nên quyết tâm trở về giành lại làng mạc. Trên đường về phải trải qua rất nhiều bước khó khăn, vất vả, nhưng cán bộ vẫn một niềm thương yêu, đùm bọc nhau. Có lần, một chị cán bộ ốm nặng, anh em trong đội hết sức săn sóc và giặt hộ cả quần áo. Cán bộ lại ra sức giúp nhân dân làm mọi việc, nhân dân thấy thế rất cảm phục. Nhờ đó mà nhân dân với cán bộ khăng khít với nhau, cơ sở gây lại được, cán bộ sống hoà lẫn với dân, dần dần tổ chức lại việc sản xuất và chiến đấu. Một hôm bốn dõng đến làng, phụ nữ trong làng ăn mặc chải chuốt ra chuốc rượu. Dõng mắc mưu, uống phải rượu có thuốc mê, ngã quay ra cả. Phụ nữ gọi du kích vào tước súng. Dõng tỉnh dậy, mất súng, bỏ trốn, cán bộ đoán biết thế nào giặc cũng kéo đến trả thù, nên bàn với dân cất giấu thóc lúa, của cải vào rừng, tuy thế cũng chưa dám chủ trương tiêu thổ. Chính phụ lão trong làng lại là những người đầu tiên đưa ra ý kiến phải đốt nhà để giặc có đến cũng không có chỗ ở. Ý kiến đó được dân làng nghe theo. Khi giặc kéo đến làng, nhân dân dùng súng giặc bắn lại giặc, giặc bỏ chạy. Từ đó, nhân dân tin cán bộ và tự tin sức mình, nên phong trào mỗi ngày một lên cao.
Nữ đồng chí Thái năm nay mới hai mươi tuổi và cũng chưa được học hành gì mấy, nhưng đã kể lại câu chuyện trên đây một cách rành mạch và kết luận một cách rất mácxít trong ba điểm:
"Một là, chúng cháu rất đoàn kết.
Hai là, chúng cháu được dân yêu.
Ba là, chúng cháu học được kinh nghiệm của dân".
Ba điểm đó tức là:
- Cán bộ đoàn kết, mọi việc đều làm được.
- Cán bộ phải được dân yêu, dân tin, dân phục.
- Cán bộ phải đi sát dân, học dân.
III- MỘT KHUYẾT ĐIỂM CẦN SỬA CHỮA NGAY TRONG VIỆC HUẤN LUYỆN
Khuyết điểm chung là tham làm nhiều mà làm không chu đáo, không biết "quý hồ tinh, bất quý hồ đa" 3). Rõ ràng nhất là trong việc mở lớp huấn luyện.
1. Lớp quá đông. Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều. Trình độ công tác thực tế của người học cũng khác nhau, nên chương trình không sát.
2. Mở lớp lung tung. Hiện đang có một cái "dịch" mở trường. Ví dụ: đã có trường Đoàn thể rồi lại có trường Dân vận, rồi trường Nông vận, Phụ vận, Thanh vận, Công vận. Trường nào của Đoàn thể lại không dạy dân vận mà còn phải mở riêng?
Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi "bắt phu", vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như "chuồn chuồn đạp nước", dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải "bịt lỗ", người "bịt lỗ" năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể.
Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang.
Vậy phải làm thế nào?
Phải hợp lý hoá, nghĩa là:
- Mở lớp nào cho ra lớp ấy.
- Lựa chọn người dạy và người đến học cho cẩn thận.
- Đừng mở lớp lung tung.
Nhưng không phải chỉ nói riêng việc mở lớp. Báo chí cũng phải hợp lý hoá. Đừng bày biện ra nhiều thứ. Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi. Không hợp lý hoá lại như thế thì rốt cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà tốn kém một trăm thứ. Đoàn thể cứ co cổ lại chịu tiền để mấy chú làm báo ngồi vẽ voi, vẽ ngựa mà không ai đọc.
Tóm tắt Bác nói chừng đó, các chú nghiên cứu lại.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 45-53.
____________
1) Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6-5-1950.
2) Khu V: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Công Tum, Gia Lai.
3) Ý nói không biết quý chất lượng hơn số lượng.
SÁU MƯƠI TUỔI
Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ,
Trần mà như thế kém gì tiên!
Năm 1950
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 55.
THƯ GỬI ĐỒNG BÀO LIÊN KHU IV 1)
(Nhờ UBKCHC Liên khu chuyển)
Đồng bào thân mến,
Từ ngày kháng chiến đến nay, đồng bào mọi nơi đã cố gắng và đang cố gắng làm tròn nhiệm vụ người công dân với Tổ quốc.
Phần đông cán bộ thì tận tuỵ, biết gần gũi dân, đoàn kết dân, học hỏi dân, và lãnh đạo dân thi đua làm mọi công việc kháng chiến.
Nhưng tiếc rằng ở một vài nơi, cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của Đoàn thể. Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì chỉ dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động, giải thích cho mọi đồng bào hiểu rõ và vui vẻ xung phong làm. Thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân.
Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi - là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo.
Các cấp liên khu và tỉnh cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới.
Tôi lại xin nói với đồng bào:
Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v.. Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ.
Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy. Cũng như tất cả công dân Việt Nam đều phải hiểu rõ và làm tròn nghĩa vụ kháng chiến cứu quốc.
Tôi mong rằng: từ nay các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán bộ cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ.
Như vậy, thì chúng ta tránh khỏi nhiều khuyết điểm, phát triển được nhiều ưu điểm, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ tổng động viên để chuyển mạnh sang tổng phản công, kháng chiến sẽ mau đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 65-66.
_____________
1) Trên đầu bức thư có ghi: "Thư này phải đưa đọc tận các xã trong Liên khu, trước hết tại các xã đã xảy ra những việc ép uổng dân như đã nêu rõ trong thư của Phó Thủ tướng. Khi đọc khắp rồi, phải báo cáo dư luận của đồng bào thế nào. Không được đăng báo". Ngày 22-7-1950, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã ra: "Chỉ thị về việc kiểm thảo để sửa đổi nề nếp vận động nhân dân theo thư Hồ Chủ tịch".
TRẢ LỜI CÁC NHÀ BÁO VỀ VẤN ĐỀ ĐẾ QUỐC MỸ CAN THIỆP VÀO ĐÔNG DƯƠNG
Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết hiện trạng chính sách đế quốc Mỹ can thiệp ở Đông Dương thế nào?
Trả lời: Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ.
Nhưng đế quốc Mỹ càng ngày càng mưu gạt thực dân Pháp để độc chiếm lấy Đông Dương. Vì lẽ đó mà Mỹ càng ngày càng trực tiếp và tích cực can thiệp về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế.
Và cũng vì lẽ đó mà mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và thực dân Pháp ngày càng nhiều.
Hỏi: Thưa Chủ tịch, Mỹ can thiệp thì đối với nhân dân Đông Dương ảnh hưởng thế nào?
Trả lời: Đế quốc Mỹ đưa súng đạn cho lũ tay sai của chúng tàn sát nhân dân Đông Dương.
Đưa hàng hoá đến để ngăn trở không cho tiểu công nghệ và công nghệ của người Đông Dương phát triển.
Đưa văn hoá truỵ lạc để đầu độc thanh niên ở những vùng tạm bị chiếm.
Chúng dùng chính sách mua chuộc, dụ dỗ, chia rẽ. Chúng cố lôi kéo một số người bất lương làm tay sai cho chúng, cùng chúng mưu chinh phục nước ta.
Hái: Xin Chñ tÞch cho biÕt ta ®èi phã thÕ nµo?
Trả lời: Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một.
Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn.
Ta phải vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng bị tạm chiếm.
Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm chó săn cho đế quốc Mỹ để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta.
Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ.
Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc. Đế quốc Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương.
Chúng ta gặp nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta nhất định thắng lợi.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 73-74.
LỜI KÊU GỌI NHÂN DỊP KỶ NIỆM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ NGÀY ĐỘC LẬP (1950)
Cùng đồng bào trong nước và ngoài nước,
Cùng các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,
Cùng các cán bộ Chính phủ và Đoàn thể,
Cùng các cháu thanh niên và nhi đồng.
Lần này là lần thứ năm chúng ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Độc lập. Cuộc kháng chiến của ta cũng đã 5 năm.
Chúng ta hãy kiểm điểm qua tình hình trong 5 năm, để ấn định công việc những ngày sắp đến.
Trước ngày Cách mạng tháng Tám, chúng ta có hai kẻ địch trực tiếp là đế quốc Nhật và thực dân Pháp và một kẻ địch gián tiếp là phản động Quốc dân đảng Trung Quốc. Nghĩa là sức địch rất to lớn.
Trước ngày Cách mạng Tháng Tám, chúng ta chưa có chính quyền, chưa có quân đội chính quy, Mặt trận dân tộc còn nhỏ hẹp và bí mật. Nghĩa là sức ta rất thiếu thốn.
Nhưng vì ta khéo lợi dụng điều kiện quốc tế ở ngoài, vì ta khéo đoàn kết và khéo tổng động viên trong nước, cho nên ta đã đổi thế yếu thành thế mạnh, đã thắng ba kẻ địch, đã đưa cách mạng đến thắng lợi, độc lập đến thành công.
*
* *
Nước ta vừa độc lập, thì giặc Pháp liền khai chiến.
Với binh nhiều, tướng đủ, khí giới tối tân, chúng định đánh mau thắng mau.
Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta quyết kế trường kỳ kháng chiến.
Sự thật đã chứng tỏ rằng: chiến lược ta đã thắng chiến lược địch.
Từ ngày khởi chiến ở Việt Nam, Chính phủ Pháp đã lập lên đổ xuống hơn chục lần. Thống soái Pháp đã bị thay đổi 5, 6 bận. Quân đội Pháp ngày càng hao mòn. Tài chính Pháp ngày càng kiệt quệ. Phong trào chống chiến tranh ngày càng lan rộng trong nhân dân Pháp.
Bên ta thì Chính phủ kháng chiến ngày càng thêm uy tín ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Quân đội ta ngày càng mạnh mẽ. Nhân dân ta ngày càng đoàn kết và quyết tâm.
Hiện nay, thực dân Pháp đã phải công khai thú thật rằng: Chúng đã kiệt quệ rồi, chúng không thể kéo dài chiến tranh nữa, nếu không có Mỹ giúp.
Thực dân Pháp yêu cầu Mỹ giúp, nhưng lại lo sợ Mỹ gạt chúng đi, để độc chiếm Đông Dương như Nhật đã gạt chúng mấy năm về trước.
Từ ngày bắt đầu chiến tranh, Mỹ đã ra sức giúp giặc Pháp. Nhưng hiện nay Mỹ tiến lên một bước: trực tiếp can thiệp vào Việt Nam.
Thế là ngày nay ta đã có một kẻ địch chính là giặc Pháp lại thêm một kẻ địch nữa là bọn can thiệp Mỹ .
Về phía ta, mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn nhất trên thế giới - Liên Xô và Trung Quốc dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước ngang hàng trong đại gia đình dân chủ thế giới. Nghĩa là ta đã đứng hẳn về phe dân chủ và nhập vào khối 800 triệu nhân dân chống đế quốc.
Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho những thắng lợi quân sự sau này.
Liên Xô xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ mới ngày càng mạnh.
Trung Quốc đã đánh thắng bọn can thiệp Mỹ và bọn phản động Quốc dân đảng, và đang thực hiện dân chủ mới.
Nhân dân Triều Tiên đã nổi lên đánh bọn can thiệp Mỹ và tất cả bọn chư hầu của Mỹ.
Đó là một lực lượng đồng minh rất to lớn cho cuộc kháng chiến cứu quốc nói chung của ta, và đặc biệt là một lực lượng đồng minh to lớn chống bọn can thiệp Mỹ.
Phản động Mỹ đã thất bại trước sức đoàn kết và đấu tranh của nhân dân Trung Quốc. Chúng sẽ thất bại trước sức đoàn kết và đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Triều Tiên và thế giới.
*
* *
Sự thực trong mấy năm vừa qua chứng tỏ rằng: cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định thắng lợi.
Điều đó là nhất định.
Nhưng thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau.
"Muốn ăn quả tốt, phải trồng cây to", điều đó cũng là bất di bất dịch.
Vậy nhiệm vụ cần kíp của chúng ta là:
- Toàn dân đại đoàn kết đã chặt chẽ phải chặt chẽ hơn nữa.
- Toàn dân đại đoàn kết trong việc thi đua thực hiện lệnh Tổng động viên để chuẩn bị mau chóng, đầy đủ đặng chuyển mạnh sang tổng phản công. Trước nhất là động viên nhân lực và lương thực.
- Toàn thể chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng nhau thi đua giết giặc lập công .
- Toàn thể công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất.
- Toàn thể thanh niên thi đua xung phong trong mọi công việc : tòng quân, sản xuất, vận tải, học tập, v.v..
- Toàn thể cán bộ chính quyền và đoàn thể thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính.
- Toàn thể đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm, phải thi đua chuẩn bị sẵn sàng để đấu tranh chống địch, để hưởng ứng chiến sĩ ta.
*
* *
Hỡi đồng bào thân mến,
Hỡi chiến sĩ yêu quý.
Cách mạng Tháng Tám đã đưa chúng ta đến thống nhất và độc lập, giữa lúc ngoài tinh thần đoàn kết, lực lượng chúng ta còn ít, thế mà chúng ta vẫn thắng lợi.
Trường kỳ kháng chiến để giữ gìn quyền thống nhất và độc lập của chúng ta, mà lúc này chúng ta lại có lực lượng hùng hậu và điều kiện thuận tiện trong nước cũng như quốc tế, cho nên chúng ta nhất định thành công.
Nhưng chúng ta phải biết rằng:
- Địch sẽ liều mạng hơn, hung ác hơn, chúng có thể lan rộng ra nữa, trước khi chúng bị tiêu diệt.
- Ta còn phải kinh qua nhiều sự khó khăn cực khổ hơn trước, còn phải vượt qua nhiều gian nan nguy hiểm hơn trước, để đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Cho nên chúng ta phải tỉnh táo, phải kiên quyết, tạm bại không nản, thắng to không kiêu, không chủ quan, không khinh địch.
Chính phủ và nhân dân nhất trí, nhân dân và quân đội nhất trí; với sự đồng tâm hiệp lực và tinh thần quật cường của toàn dân ta, cộng với sự ủng hộ của nhân dân các nước dân chủ và nhân sĩ yêu chuộng chính nghĩa trong thế giới, thì
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.
Thống nhất, độc lập nhất định thành công.
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 80-84.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ CÁC CÁN BỘ PHỤ TRÁCH NHI ĐỒNG TOÀN QUỐC
Nhân dịp hội nghị tôi gửi lời thân ái chúc các cô, các chú và chúc hội nghị có kết quả tốt. Sau đây là vài ý kiến giúp các bạn thảo luận:
Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hoá.
Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ hoạt bát, tự nhiên tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh.
Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học. Muốn như vậy các ban phụ trách nhi đồng cần phải liên lạc với cha mẹ và thầy giáo của nhi đồng.
Ngày nay chúng là nhi đồng. Ít năm nữa, chúng sẽ là công dân, cán bộ. Vì vậy, Chính phủ, các đoàn thể, và tất cả đồng bào đều có trách nhiệm giúp vào việc giáo dục nhi đồng. Công việc ấy phụ nữ, thanh niên phải là người phụ trách chính, nhất là thanh niên.
Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.
Như vậy, các bạn sẽ thành công.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 25 tháng 8 năm 1950
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 85.
KHUYÊN THANH NIÊN 1)
Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 95.
______________
1) Trung tuần tháng 5-1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường phục vụ chiến dịch, Người đã làm bài thơ này tặng thanh niên.
BÀI NÓI CHUYỆN TẠI HỘI NGHỊ
TỔNG KẾT CHIẾN DỊCH LÊ HỒNG PHONG II 1)
Về Hội nghị tổng kết, Bác có mấy ý kiến:
Trong Hội nghị này, có những cán bộ đã trực tiếp tham gia chiến dịch về kiểm thảo ưu điểm, khuyết điểm. Lại có cán bộ các khu, các đơn vị, các cơ quan không tham gia chiến dịch, đến để học tập kinh nghiệm. Tự phê bình, phê bình, tổng kết, phổ biến và học tập kinh nghiệm, đó là việc rất hay, nên gây thành một tác phong chung trong quân đội, chính quyền và đoàn thể. Trong việc tổng kết này có mấy điểm cần chú ý:
1. Đề cao kỷ luật
Trên dưới đều phải giữ kỷ luật. Phải kiểm thảo từ dưới lên, từ trên xuống. Cấp nào cũng phải kiểm thảo. Phải làm cho tất cả mọi người đội viên, cũng như cán bộ đều thấm nhuần, thì mới có kết quả.
2. Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên
Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành. Trung Quốc có câu: " Quân lệnh như sơn" nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào cũng phải làm. Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy.
3. Thương yêu đội viên
Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi. Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Phải khen thưởng các chiến sĩ có công, cất nhắc các cán bộ và đội viên tiến bộ, nhất là đối với những người đã ở trong quân đội lâu năm.
4. Tôn trọng nhân dân
Phải biết trọng nhân dân. Tôn trọng có nhiều cách, không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực, vật lực của dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân; mùa tới phải gặt hộ dân; dạy bình dân học vụ cho dân quân và bộ đội địa phương ở đó.
5. Giữ gìn của công, chiến lợi phẩm
Của công là do mồ hôi nước mắt của đồng bào góp lại. Bộ đội phải giữ gìn bảo vệ, không được hoang phí. Phải chấm dứt những hành động bán gạo của dân góp cho, làm hư hỏng dụng cụ, bắn phí đạn dược.
Chiến lợi phẩm cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch. Súng đạn, thuốc men, dụng cụ, lương thực là máu mủ của đồng bào. Chiến sĩ ta lại phải đổ máu mới lấy lại được. Phải biết thương tiếc, giữ gìn, bảo vệ. Không được phung phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngăn nắp, và che mưa nắng cho chu đáo.
6. Thành thật tự phê bình và phê bình
Trong báo cáo trình bày ở Hội nghị phải chú trọng điều đó. Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc. Làm nhiều công việc thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi khuyết điểm. Cho nên phải dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp nhau sửa chữa, và kiên quyết sửa chữa để cùng nhau tiến bộ. Vạch khuyết điểm để sửa chữa, nhưng cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước.
*
* *
Chiến dịch này có nhiều kinh nghiệm, tốt xấu đều có, cần phải tổng kết, phổ biến và học tập. Tóm lại có mấy điểm chính:
1. Trung ương lãnh đạo sáng suốt. Các cấp địa phương chỉ đạo đúng đắn. Các cơ quan Quân, Dân, Chính đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, hành động nhất trí.
2. Chiến sĩ ta rất hăng hái, anh dũng. Những gương chặt nốt tay bị thương cho dễ xung phong, ôm thuốc nổ nhảy xổ vào công sự địch, nhịn đói 3, 4 ngày đánh vẫn cứ hăng, tích cực và quả cảm chiến đấu, v.v. đã tỏ rõ điều đó.
3. Nhân dân ta rất tốt. Chưa bao giờ có những đoàn phụ nữ Kinh, Mán, Thổ, Nùng, v.v. đi tiếp tế vận tải đông đảo như vậy. Khó nhọc, khổ sở, nguy hiểm, mà vẫn hăng hái, vui vẻ, dũng cảm. Thật là đáng khâm phục. Được như vậy một phần là do đồng chí Ninh và cán bộ Liên khu đã làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, một phần thì do đồng bào nồng nàn yêu nước, hăng hái hy sinh.
4. Giặc chủ quan, khinh địch, không ngờ ta mạnh như vậy và tiến bộ nhanh như vậy, nên chúng hớ hênh không đề phòng cẩn thận.
Đó là những kinh nghiệm lớn. Khi báo cáo tổng kết phải nêu lên.
NHỮNG ĐIỂM KHÁC CẦN CHÚ Ý
1. Về tuyên truyền
Địch tuyên truyền cho ta nhiều hơn. Ta chưa tập trung hết mọi phương tiện và huy động hết mọi khả năng cho nên thông tin rất chậm, phổ biến không rộng. Chiến dịch kết thúc ngày 15-10 mà mãi đến 30-10 nhân dân và cán bộ nhiều nơi chưa biết, hoặc mới biết qua loa, hoặc biết mà không biết cách phổ biến. Tuyên truyền trong tù binh, binh lính địch và tuyên truyền quốc tế cũng rất kém. Ta chưa biết trích những câu đăng trong các báo địch oán trách bọn chỉ huy, bọn chính khách, bọn chính quyền thực dân lo ăn chơi, tranh tư lợi, trong lúc binh lính tử trận "không hương hoa, không nước mắt" để làm truyền đơn địch vận, để giải thích cho tù binh và tuyên truyền cho nhân dân trong vùng tạm bị chiếm.
2. Chớ chủ quan, khinh địch
Chớ chủ quan tếu, cho rằng từ nay về sau sẽ thắng lợi mãi, không gặp khó khăn thất bại nữa. Trận thắng này mới chỉ là một thắng lợi bước đầu, ta còn phải cố gắng nhiều, giành nhiều thắng lợi như thế hay lớn hơn nữa mới chuyển sang tổng phản công được. Từ nay cho đến khi hoàn toàn thắng lợi, ta còn gặp nhiều khó khăn, có thể còn phải qua nhiều thất bại. Đánh nhau có thắng có bại là thường. Điều cốt yếu là ta giành được thắng lợi cuối cùng. Phải dạy cho tất cả cán bộ, đội viên và nhân dân hiểu rõ như vậy, để thắng không kiêu, bại không nản, luôn luôn nỗ lực, cố gắng vượt mọi khó khăn gian khổ, tiến tới thắng lợi cuối cùng.
Chớ khinh địch. Không phải địch co lại để nằm yên, mà co lại để rồi nhảy ra. Chúng đang cố tranh thủ thời gian chuẩn bị để trả thù. Trong lúc chờ đợi, địch ra sức oanh tạc, bắn phá để khủng bố tinh thần ta như ở Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang vừa rồi.
3. Phải tranh thủ thời gian
Ta cũng phải tranh thủ thời gian chuẩn bị. Đó là một điều kiện để thắng đối phương. Trong quân sự, thời gian rất là quan trọng, điều kiện thiên thời đứng vào bậc nhất, trước địa lợi và nhân hoà. Có tranh thủ thời gian, mới bảo đảm được yếu tố thắng địch. Cũng để tranh thủ thời gian mà Hội nghị này phải họp ngắn. Báo cáo phải gọn gàng nêu cho được điểm chính cần thiết, không nên nói dài dòng, mất thì giờ vô ích.
4. Điều cuối cùng là phải tuyệt đối giữ bí mật
Bí mật là một điều rất quan trọng. Tất cả mọi người đều phải giữ bí mật. Phải tìm mọi cách giữ bí mật cho tất cả mọi công việc, trong tất cả mọi trường hợp: trong quán nước, trong câu chuyện, trong công việc, nhất nhất đều phải giữ bí mật. Riêng bộ đội và các cơ quan giữ bí mật chưa đủ. Phải dạy cho dân biết giữ bí mật mới có bí mật hoàn toàn. Giữ được bí mật tức là một bước thắng lợi rồi.
Tất cả những điều trên, Hội nghị này phải giải quyết một phần. Sau hội nghị quyết tâm thực hiện được 8 phần 10 nữa thì nhất định các trận sau sẽ thắng.
Đảng, Chính phủ và nhân dân kêu gọi tất cả cán bộ và tất cả chiến sĩ phải làm cho bằng được.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 108-112.
____________
1) Chiến dịch Biên giới, chiến dịch Cao - Bắc - Lạng.
THƯ GỬI CÁC BẠN NAM NỮ PHÁP ĐẤU TRANH CHO HOÀ BÌNH
Các bạn thân mến,
Đã 5 năm nay, bọn thực dân Pháp theo đuổi một cuộc chiến tranh cướp bóc trên nước chúng tôi. Chiến tranh đã gây ra bao nhiêu tang tóc và khổ cực cho các gia đình Pháp và Việt Nam. Trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, chúng tôi cương quyết bảo vệ tự do của chúng tôi đến cùng. Chúng tôi chắc chắn sẽ thắng lợi.
Cuộc chiến tranh trên nước chúng tôi sửa soạn cho một cuộc chiến tranh đế quốc khác. Bởi vậy, trong khi chiến đấu để bảo vệ hoà bình thế giới, các bạn đồng thời làm một việc rất đúng là mở một chiến dịch mạnh mẽ đòi đình chỉ ngay tức khắc cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Không phân biệt nam nữ, trẻ già, thợ thuyền, nông dân hay trí thức, các bạn đã đoàn kết để cùng góp phần cố gắng và quyết tâm của mình, chúng tôi kính phục theo dõi các bạn.
Về phần chúng tôi, trong khi chiến đấu để giải phóng Tổ quốc, chúng tôi đồng thời làm suy yếu đế quốc Pháp, một trong những kẻ gây chiến tranh thế giới.
Tất cả chúng ta đều gắng sức theo đuổi một mục đích, nhất định những cố gắng của chúng ta chẳng bao lâu sẽ đưa bọn đế quốc đến chỗ thất bại hoàn toàn.
Chúng tôi tin chắc rằng các bạn sẽ tập trung mọi phương tiện, mọi năng lực - như chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi - để
mở rộng cuộc phản chiến giành thắng lợi chung.
Thay mặt cho nhân dân Việt Nam và riêng phần tôi, xin tỏ lòng tin tưởng ở các bạn và gửi các bạn lời chào huynh đệ.
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 115-116.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM 1)
Kính gửi Hội nghị hoà bình,
Thưa các đại biểu,
Nhân dân Việt Nam ta cũng như nhân dân các nước trên thế giới đều yêu chuộng hoà bình, để xây dựng một xã hội dân chủ tốt đẹp.
Nhưng đế quốc chủ nghĩa là nguồn gốc chiến tranh. Đế quốc chủ nghĩa do Mỹ, Pháp, Anh cầm đầu một mặt thì đang thực hành chiến tranh xâm lược ở Đông Nam Á châu, một mặt đang chuẩn bị chiến tranh thế giới.
Vậy, muốn giữ gìn hoà bình một cách thiết thực thì phải ra sức chống đế quốc chủ nghĩa.
Mấy năm nay, Việt Nam ta đang ra sức kháng chiến, quân và dân ta đang ra sức đánh bọn đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Thế là chúng ta đang chặt cái gốc chiến tranh đế quốc, đang giúp sức bảo vệ hoà bình, đang góp một phần lực lượng với hơn 500 triệu chiến sĩ hoà bình ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác để bảo vệ hoà bình thế giới.
Vậy nhiệm vụ của chúng ta là đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ toàn dân Việt Nam, để kháng chiến lâu dài, để đánh tan bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ.
Tôi chắc rằng Hội nghị hoà bình sẽ gắng làm trọn nhiệm vụ cao cả ấy.
Tôi xin chúc Hội nghị thành công và kính gửi Hội nghị lời chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 17 tháng 11 năm 1950
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 123-124.
____________
1) Thư gửi Hội nghị thành lập Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, họp ngày 19-11-1950.
LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 19-12-1950
Cùng toàn thể Vệ quốc quân và dân quân du kích,
Toàn thể đồng bào,
Toàn thể cán bộ.
Hôm nay, cuộc trường kỳ kháng chiến của ta đã bước sang năm thứ 5 (ở Nam Bộ là năm thứ 6).
Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc,
Gửi lời thân mến an ủi các anh em thương binh và gia đình các tử sĩ,
Khen ngợi toàn thể bộ đội đang anh dũng giết giặc lập công,
Đồng bào đang hăng hái tham gia kháng chiến,
Các cán bộ đang cố gắng làm tròn nhiệm vụ,
Đồng bào ở trong vùng tạm bị địch chiếm và kiều bào ở nước ngoài đang đấu tranh cho Tổ quốc.
Trong 1.000 năm lịch sử của nước ta gần đây có ba cuộc trường kỳ kháng chiến:
- Đời Trần chống quân Nguyên,
- Đời Lê chống quân Minh,
- Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ ngày nay.
So sánh cuộc kháng chiến của chúng ta ngày nay với cuộc chống quân Nguyên, quân Minh của tổ tiên ta ngày xưa, thì chúng ta thấy: Ngày xưa quân thù ở bên cạnh nước ta và rất hùng mạnh, nước ta còn nhỏ, người ít, sức yếu, thế mà chỉ nhờ đoàn kết và hăng hái, tổ tiên ta đã thắng được quân giặc. Ngày nay, chúng ta đánh quân thù ở xa lại, nước ta lớn hơn, người đông hơn, sức nhiều hơn. Chúng ta lại được nhân dân thế giới đồng tình, chúng ta cũng rất đoàn kết và hăng hái. Cho nên chúng ta chắc chắn rằng kháng chiến nhất định thắng lợi, còn lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ sẽ thất bại đau đớn như quân Nguyên, quân Minh.
Lại xét kỹ tình thế của địch và của ta trong mấy năm nay, thì ta thấy:
Bên địch: Vì cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam mà quân sự, kinh tế, chính trị của nước Pháp ngày càng sa sút, càng phải phụ thuộc vào thế lực Mỹ.
Chính những nhà tư bản Pháp cũng phải nhận rằng: chiến tranh ở Việt Nam trung bình mỗi tháng Pháp chết 1.000 người, mỗi ngày Pháp tốn gần 1.000 triệu quan. Đó là chưa kể những trận Pháp bị thua to như chiến dịch Biên giới vừa rồi.
Vì vậy, ngoài bọn thực dân ngoan cố ra, thì nhân dân lao động Pháp kiên quyết phản đối chiến tranh ở Việt Nam, và cả trong giai cấp tư sản Pháp, nhiều người cũng tỏ ý không tán thành cuộc chiến tranh xâm lược đó.
Và hiện nay, Chính phủ Pháp rất bấp bênh, xã hội Pháp lại chia năm xẻ bảy.
Nói tóm lại: tình thế bên địch ngày càng khó khăn.
Bên ta: Chẳng những chúng ta đã vượt qua 4 năm gian nan cực khổ, mà chúng ta lại mỗi năm một tiến bộ thêm về chính trị, quân sự và mọi mặt khác đều như vậy. Vài chứng thực:
Đầu năm nay chúng ta thắng lợi to về chính trị: các nước dân chủ gồm 800 triệu người công nhận ta. Nhân dân lao động Pháp nhiệt liệt ủng hộ chúng ta. Nhân sĩ dân chủ thế giới ngày càng đồng tình với chúng ta.
Trong chiến dịch mùa thu vừa rồi, ta đã:
Giải phóng được 5 tỉnh, tiêu diệt và bắt sống ngót một vạn lính Pháp và 367 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp (Thủ tướng Pháp đã phải thừa nhận con số này).
Quân đội ta thì ngày thêm tiến bộ. Nhân dân ta ngày càng đoàn kết.
Những thắng lợi của ta trong năm vừa qua cũng là những thắng lợi chung của phe dân chủ và hoà bình thế giới.
Nói tóm lại: sau 4 năm kháng chiến toàn quốc, ta đã từ bị động chuyển dần sang chủ động, từ thế yếu chuyển dần sang thế mạnh, từ thế thủ chuyển dần sang thế công.
Những thắng lợi ấy là do chiến sĩ ta dũng cảm, nhân dân ta hăng hái, Chính phủ ta kiên quyết, kháng chiến ta chính nghĩa.
Nhưng tôi phải nhắc lại lần nữa để bộ đội và đồng bào ta ghi tạc vào lòng: tuyệt đối chớ vì thắng mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: Càng gần thất bại, địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng. Càng gần thắng lợi, ta càng gặp nhiều sự gay go. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng tinh thần và lực lượng để đối phó với những khó khăn mới.
Phải nhớ rằng cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ kháng chiến.
Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta từ nay cũng như từ trước, là:
- Bộ đội phải thi đua tập luyện, thi đua giết giặc lập công;
- Nhân dân phải thi đua tăng gia sản xuất, thi đua tham gia và ủng hộ kháng chiến;
- Cán bộ quân, dân, chính, phải thi đua thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính; thi đua làm tròn nhiệm vụ;
- Quân, dân, chính phải đoàn kết nhất trí, hợp tác chặt chẽ.
Với tình hình thế giới lợi cho ta, với sự ủng hộ của phe dân chủ thế giới, với sức mạnh vô địch là lực lượng đoàn kết của dân tộc ta, tôi chắc rằng kháng chiến năm tới sẽ tiến bộ nhiều hơn và thắng lợi to hơn năm vừa qua.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Thống nhất, độc lập nhất định thành công!
Hỡi chiến sĩ,
Hỡi đồng bào,
Tiến lên!
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 133-136.
Năm 1951 Năm 1951 (*)
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG
1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI TRONG 50 NĂM QUA
Tháng đầu năm 1951 là lúc khoá sổ nửa trước và mở màn nửa sau của thế kỷ XX. Nó là lúc rất quan trọng trong lịch sử loài người.
Năm mươi năm vừa qua có những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hơn nhiều thế kỷ trước cộng lại.
Trong 50 năm đó, đã có những phát minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình (télévision) cho đến sức nguyên tử. Nghĩa là loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức thiên nhiên. Cũng trong thời kỳ ấy, chủ nghĩa tư bản từ chỗ tự do cạnh tranh, đã đổi ra độc quyền lũng đoạn, đã tiến lên chủ nghĩa đế quốc.
Trong 50 năm đó, đã có hai cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp nhất trong lịch sử do bọn đế quốc gây ra. Đồng thời cũng do những chiến tranh đó mà bọn đế quốc Nga, Đức, ý, Nhật bị tiêu diệt; đế quốc Anh, Pháp bị suy đồi; tư bản Mỹ thì nhảy lên làm trùm đế quốc, trùm phản động.
Quan trọng nhất là Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa, thành lập, rộng một phần sáu thế giới, và gần một nửa loài người đã tiến vào con đường dân chủ mới, những dân tộc bị áp bức lần lượt nổi dậy chống chủ nghĩa đế quốc, đòi độc lập tự do. Cách mạng Trung Quốc đã thắng lợi. Phong trào công nhân ở các nước đế quốc ngày càng lên cao.
Riêng về nước Việt Nam ta, thì trong thời kỳ ấy, Đảng ta ra đời, đến nay nó đã 21 tuổi. Nước ta đã độc lập, đến nay là năm thứ 7. Cuộc trường kỳ kháng chiến của ta đã tiến mạnh, đến nay là năm thứ 5.
Nói tóm lại, nửa trước thế kỷ XX này có nhiều việc rất quan trọng, song chúng ta có thể đoán rằng: với sự cố gắng của những người cách mạng, thì nửa thế kỷ sau này sẽ có những biến đổi to lớn hơn, vẻ vang hơn nữa.
2. ĐẢNG TA RA ĐỜI
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), để bù đắp lại những sự thua thiệt nặng nề của chúng, thực dân Pháp đưa thêm nhiều tư bản sang nước ta đặng kinh doanh thêm và vơ vét thêm tài sản nước ta, bóc lột thêm sức lao động của nhân dân ta. Đồng thời, cách mạng Nga thành công, cách mạng Trung Quốc sôi nổi, đã có ảnh hưởng rất sâu rộng. Do đó mà giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành, đã bắt đầu giác ngộ, bắt đầu đấu tranh và cần có một đội tiên phong, một bộ tham mưu để lãnh đạo.
Ngày 6-1-1930 1), Đảng ta ra đời.
Sau ngày Cách mạng Tháng Mười (Nga) thành công, Lênin lãnh đạo việc xây dựng Quốc tế Cộng sản. Từ đó, vô sản thế giới, cách mạng thế giới thành một đại gia đình, mà Đảng ta là một trong những con út của đại gia đình ấy.
Đảng ta ra đời trong một hoàn cảnh rất khó khăn, vì chính sách khủng bố dã man của thực dân Pháp. Tuy vậy, vừa ra đời Đảng ta đã lãnh đạo ngay cuộc đấu tranh kịch liệt chống thực dân Pháp. Cuộc đấu tranh đó cao đến tột bực trong những ngày Xô viết Nghệ An.
Đó là lần đầu tiên nhân dân ta nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi hành những chính sách dân chủ, tuy mới làm được trong một phạm vi nhỏ hẹp.
Xô viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn. Tinh thần anh dũng của nó luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng, và nó đã mở đường cho thắng lợi về sau.
Từ 1931 đến 1945, phong trào cách mạng ở Việt Nam luôn luôn do Đảng ta lãnh đạo, khi lên khi xuống, xuống rồi lại lên, 15 năm ấy có thể chia làm 3 thời kỳ:
1) Thời kỳ 1931-1935.
2) Thời kỳ 1936-1939.
3) Thời kỳ 1939-1945.
3. Thời Kỳ 1931-1935
Từ năm 1931 đến năm 1933, thực dân Pháp khủng bố tợn. Cán bộ và quần chúng bị bắt và hy sinh rất nhiều. Các tổ chức của Đảng và của quần chúng tan rã hầu hết. Vì vậy mà phong trào cách mạng tạm sụt xuống.
Nhờ lòng trung thành và sự tận tuỵ của những đồng chí còn lại, nhờ sự kiên quyết của Trung ương, nhờ sự giúp đỡ của các đảng bạn, từ 1933, phong trào cách mạng lại lên dần.
Hồi đó, một mặt Đảng ta lo củng cố lại những tổ chức bí mật, một mặt lo phối hợp công tác bí mật với hoạt động công khai, với việc tuyên truyền, cổ động trên các báo chí và trong các hội đồng thành phố, hội đồng quản hạt, v.v..
Năm 1935, Đảng họp Đại hội lần thứ I ở Ma Cao. Đại hội đã nhận định tình hình trong nước và tình hình thế giới, kiểm thảo lại công tác đã qua và ấn định chương trình cho công tác sắp tới.
Nhưng chính sách Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ (như định chia ruộng đất cho công nhân nông nghiệp, chưa nhận rõ nhiệm vụ chống phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xít, v.v.).
4. THỜI KỲ 1936-1939
Năm 1936, trong cuộc Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất20 của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập sửa chữa những sai lầm ấy và định lại chính sách mới, dựa theo những nghị quyết của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII21 (lập Mặt trận dân chủ, Đảng hoạt động nửa bí mật, nửa công khai...).
Hồi đó, Mặt trận bình dân ở Pháp cầm chính quyền, Đảng bèn mở cuộc vận động dân chủ và lập Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Phong trào Mặt trận dân chủ lúc đó khá mạnh mẽ, rộng khắp; nhân dân đấu tranh công khai. Đó là ưu điểm. Nhưng khuyết điểm là: Đảng lãnh đạo không thật sát, cho nên nhiều nơi cán bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận mà xao lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng. Đảng không giải thích rõ lập trường của mình về vấn đề độc lập dân tộc. Một số đồng chí hợp tác vô nguyên tắc với bọn tơrốtxkít. Đến khi Mặt trận Bình dân bên Pháp thất bại, Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, thì phong trào Mặt trận dân chủ ở nước ta cũng bị thực dân đàn áp, và Đảng cũng bối rối một hồi.
Song phong trào đó cũng để lại cho Đảng ta và Mặt trận dân tộc ngày nay những kinh nghiệm quý báu. Nó dạy cho chúng ta rằng: việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần chúng. Nó cũng dạy chúng ta rằng: phải hết sức tránh những bệnh chủ quan, hẹp hòi, v.v..
5. THỜI KỲ 1939-1945
Những việc biến đổi to lớn trong nước và trên thế giới trong thời kỳ này chỉ cách đây mười năm. Nhiều người biết, nhiều người còn nhớ. Ở đây tôi chỉ nhắc qua mấy việc chính.
Trên thế giới
Năm 1939, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai nổ bùng.
Đầu tiên, nó là một cuộc chiến tranh đế quốc: bọn đế quốc phát xít Đức - Ý - Nhật đánh nhau với bọn đế quốc Anh - Pháp - Mỹ.
Đến tháng 6 năm 1941, phát xít Đức tấn công thành trì cách mạng thế giới là Liên Xô, Liên Xô bất đắc dĩ phải đánh lại, và liên minh với Anh - Mỹ để chống phe phát xít. Từ đó, cuộc chiến tranh trở nên chiến tranh giữa phe dân chủ và phe phát xít.
Nhờ lực lượng to lớn của Hồng quân và nhân dân Liên Xô, cùng chiến lược rất đúng của đồng chí Xtalin, tháng 5-1945, Đức thất bại, tháng 8- 1945, Nhật đầu hàng. Phe dân chủ hoàn toàn thắng lợi.
Trong thắng lợi đó, Liên Xô thắng to nhất về quân sự cũng như về chính trị và tinh thần.
Nhờ Liên Xô thắng lợi mà các nước Đông Âu - trước đây là căn cứ của Đức phát xít hoặc là một bộ phận của Đức phát xít - đã trở nên những nước dân chủ mới.
Nhờ Liên Xô thắng lợi mà những nước nửa thuộc địa - như Trung Quốc và những nước thuộc địa như Triều Tiên, Việt Nam đã đánh đuổi hoặc đang đánh đuổi bọn đế quốc xâm lăng, tranh lại tự do, độc lập.
Nhờ Liên Xô thắng lợi mà phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa khác đang lên cao.
Mỹ thì thắng lợi về tiền tài. Trong khi các nước đang dốc hết lực lượng vào chiến tranh và bị chiến tranh tàn phá, thì Mỹ được dịp phát tài to.
Sau chiến tranh, phát xít Đức - Ý - Nhật bị tiêu diệt. Các đế quốc Anh - Pháp bị sa sút. Liên Xô khôi phục và phát triển công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội rất mau chóng. Còn Mỹ, theo vết chân Đức - Ý - Nhật, trở nên trùm đế quốc phát xít hiện nay.
Ở nước ta
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Trung ương họp Hội nghị tháng 11-1939, quyết định chính sách của Đảng là: lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và chống chiến tranh đế quốc, chuẩn bị khởi nghĩa. Không đề ra khẩu hiệu "tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày" để kéo tầng lớp địa chủ vào Mặt trận dân tộc.
Pháp đầu hàng phát xít Đức, thì Nhật đến lấn Pháp ở Đông Dương và dùng thực dân Pháp làm tay sai để đàn áp cách mạng nước ta.
Trong thời kỳ đó, dân ta có ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương.
Tháng 5-1941, Trung ương họp Hội nghị lần thứ tám25. Vấn đề chính là nhận định cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất.
Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân. Thêm vào đó, chương trình giản đơn, thiết thực mà đầy đủ của Mặt trận gồm có 10 điểm như bài ca tuyên truyền đã kể:
Có mười chính sách bày ra,
Một là ích quốc, hai là lợi dân 2).
Mười điểm ấy, gồm những điểm chung cho toàn thể dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân dân.
Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh. Vì mặt trận phát triển mạnh, mà Đảng phát triển cũng khá. Đảng lại giúp những anh em trí thức tiến bộ thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam để thu hút những thanh niên trí thức và công chức Việt Nam, và làm mau tan rã hàng ngũ bọn Đại Việt thân Nhật.
Ở ngoài thì Liên Xô và Đồng minh liên tiếp thắng trận. Trong nước thì Nhật và Pháp xung đột nhau. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh đã khá mạnh. Nhân tình hình ấy, tháng 3-1945, Thường vụ Trung ương họp cuộc hội nghị mở rộng26. Nghị quyết chính là: Đẩy mạnh phong trào chống Nhật và chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Lúc đó, chính quyền của thực dân Pháp đã bị phát xít Nhật cướp giật.
Tháng 5-1945, Đức đầu hàng. Tháng 8, Nhật đầu hàng. Liên Xô và Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.
Đầu tháng 8, Đảng họp Hội nghị toàn quốc lần thứ hai ở Tân Trào để quyết định chương trình hành động và tham gia Quốc dân đại hội27 do Việt Minh triệu tập, Đại hội này cũng họp ở Tân Trào trong tháng đó.
Quốc dân đại hội thông qua Chương trình của Việt Minh, thông qua Lệnh tổng khởi nghĩa và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng trung ương, ban này về sau trở nên Chính phủ lâm thời của nước ta.
Vì chính sách của Đảng đúng, và thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã thành công.
6. TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN NAY
Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi.
Các đồng chí,
Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.
Về phần chúng ta, chúng ta phải nhớ rằng được như thế là nhờ sự thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô đã đánh bại phát xít Nhật, nhờ sự thân ái nâng đỡ của tinh thần quốc tế, nhờ sự đoàn kết chặt chẽ của toàn dân, nhờ sự dũng cảm hy sinh của các tiên liệt cách mạng.
Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay.
Tất cả chúng ta phải noi theo các gương anh dũng, gương chí công vô tư ấy, mới xứng đáng là người cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới.
Cách mạng Tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập.
Ngày 2-9-1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, đã tuyên bố trước thế giới quyền độc lập của Việt Nam, và thực hiện những quyền tự do dân chủ ở trong nước. Ở đây, nên nêu ngay một điểm là: khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Uỷ ban trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học.
7. NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ
Chính quyền nhân dân ra đời, thì liền gặp những việc hết sức khó khăn.
Chính sách của Nhật và Pháp vơ vét nhân dân ta tận xương, tận tuỷ, chỉ trong vòng hơn nửa năm (cuối năm 1944 đầu năm 1945) hơn hai triệu đồng bào miền Bắc đã chết đói.
Nước ta độc lập chưa đầy một tháng, thì phía Nam, quân đội đế quốc Anh kéo đến. Chúng mượn tiếng là lột vũ trang của quân Nhật, nhưng sự thật chúng là đội viễn chinh giúp thực dân Pháp mưu cướp lại nước ta.
Phía Bắc thì quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa kéo sang. Chúng cũng mượn tiếng là lột vũ trang quân Nhật, nhưng kỳ thật chúng có ba mục đích hung ác:
- Tiêu diệt Đảng ta,
- Phá tan Việt Minh,
- Giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng.
Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.
Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế.
Hồi đó, một việc đã làm cho nhiều người thắc mắc nhất là việc Đảng tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào bí mật.
Và dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân.
Chúng ta nhận rằng việc Đảng tuyên bố giải tán (sự thật là vào bí mật) là đúng.
Mặc dầu nhiều khó khăn to lớn, Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân đưa nước ta qua những thác ghềnh nguy hiểm và đã thực hiện nhiều điểm của chương trình Mặt trận Việt Minh.
- Tổ chức Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội và lập Hiến pháp;
- Xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân;
- Tiêu diệt bọn phản động Việt Nam;
- Xây dựng và củng cố quân đội nhân dân, vũ trang nhân dân;
- Đặt luật lao động;
- Giảm tô, giảm tức;
- Xây dựng văn hoá nhân dân;
- Mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất (lập Liên - Việt).
Ở đây cũng cần nhắc lại Hiệp định 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, vì việc này cũng làm cho nhiều người thắc mắc và cho đó là chính sách quá hữu. Nhưng các đồng chí và đồng bào Nam Bộ thì lại cho là đúng. Mà đúng thật. Vì đồng bào và đồng chí ở Nam đã khéo lợi dụng dịp đó để xây dựng và phát triển lực lượng của mình.
Lênin có nói rằng: Nếu có lợi cho cách mạng thì dù phải thoả hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thoả hiệp 3).
Chúng ta cần hoà bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng để giữ hoà bình. Dù thực dân Pháp đã bội ước, đã gây chiến tranh, nhưng gần một năm tạm hoà bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản.
Khi Pháp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.
8. CUỘC TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN
Địch âm mưu đánh chớp nhoáng. Chúng muốn đánh mau, thắng mau, giải quyết mau, thì Đảng và Chính phủ ta nêu lên khẩu hiệu: Trường kỳ kháng chiến.
Địch âm mưu chia rẽ, thì ta nêu lên khẩu hiệu: Đoàn kết toàn dân.
Thế là ngay từ lúc đầu, chiến lược ta đã thắng chiến lược địch.
Kháng chiến trường kỳ, thì quân đội phải đủ súng đạn, quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc. Nước ta nghèo, kỹ thuật ta kém, những thành phố có chút công nghệ đều bị giặc chiếm. Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất. Đảng và Chính phủ bèn nêu ra khẩu hiệu Thi đua ái quốc. Thi đua mọi mặt, nhưng nhằm ba điểm chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.
Về thi đua, công nhân ta đã thi đua chế tạo vũ khí cho bộ đội. Bộ đội ta đã hăng hái luyện quân lập công và đã có kết quả tốt. Những cuộc thắng trận vừa qua đã chứng rõ điều đó. Nhân dân ta đã hăng hái thi đua và đã có kết quả khá: kinh tế nước ta lạc hậu, ta kháng chiến đã bốn, năm năm trường, nhưng vẫn chịu đựng được, không đến nỗi quá đói rách; đó là một chứng cớ. Đại đa số đồng bào thoát nạn mù chữ; đó là một kết quả vẻ vang mà thế giới đều khen ngợi. Tôi đề nghị Đại hội ta gửi lời thân ái cảm ơn và khen ngợi bộ đội và đồng bào ta.
Nhưng việc tổ chức, theo dõi, trao đổi và tổng kết kinh nghiệm thì còn kém. Đó là khuyết điểm của chúng ta. Từ nay chúng ta phải cố gắng sửa chữa những khuyết điểm ấy, thì thi đua chắc sẽ có kết quả nhiều hơn, tốt đẹp hơn nữa.
Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến.
Lúc bắt đầu kháng chiến, quân đội ta là một quân đội thơ ấu. Tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt.
Quân đội địch là một quân đội nổi tiếng trong thế giới. Chúng có hải quân, lục quân, không quân. Chúng lại có đế quốc Anh - Mỹ giúp, nhất là Mỹ.
Lực lượng ta và địch so le nhiều như thế, cho nên lúc đó có người cho rằng: cuộc kháng chiến của ta là "châu chấu đấu voi".
Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì như thế thật. Vì để chống máy bay và đại bác của địch, lúc đó ta phải dùng gậy tầm vông. Nhưng Đảng ta theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:
Nay tuy châu chấu đấu voi,
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra.
Sự thật đã chứng tỏ rằng "voi" thực dân đã bắt đầu lòi ruột, mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng.
Dù lúc đầu sức địch mạnh như vậy, sức ta yếu như vậy, mà ta vẫn gan góc kháng chiến, vẫn tranh được nhiều thắng lợi, và tin chắc ta sẽ tranh được thắng lợi cuối cùng. Đó là vì ta có chính nghĩa, vì quân ta dũng cảm, dân ta đoàn kết và quật cường, vì ta được nhân dân Pháp và phe dân chủ thế giới ủng hộ. Mà cũng chính vì chiến lược ta đúng.
Đảng và Chính phủ ta đã nhận cuộc kháng chiến có ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất, thì ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn này từ ngày 23-9-1945 đến hết chiến dịch Việt Bắc, Thu- Đông 1947.
- Giai đoạn thứ hai, thì ta tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Giai đoạn này từ sau chiến dịch Việt Bắc 1947 đến nay.
- Giai đoạn thứ ba, là tổng phản công.
Về điểm này, vì không hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên một số đồng chí có quan niệm sai lầm. Có người cho rằng khẩu hiệu chuẩn bị tổng phản công nêu ra sớm quá. Có người lại muốn biết ngày nào, giờ nào tổng phản công. Có người thì tưởng rằng năm 1950 nhất định tổng phản công, v.v..
Những quan niệm sai lầm ấy rất có hại cho công tác.
Trước hết, chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng: kháng chiến là trường kỳ và gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi.
Kháng chiến phải trường kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện, của toàn dân. Chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ rằng: giặc Pháp, so với ta, là một kẻ địch khá mạnh, chúng lại có Mỹ và Anh giúp.
Giặc Pháp là "vỏ quýt dày", ta phải có thời gian để mà mài "móng tay nhọn", rồi mới xé toang xác chúng ra.
Chúng ta lại phải hiểu rằng: giai đoạn này có dính líu với giai đoạn khác, nó kế tiếp giai đoạn trước và nó gây những mầm mống cho giai đoạn sau.
Có nhiều sự biến đổi mới sinh ra từ một giai đoạn này đến một giai đoạn khác. Trong một giai đoạn cũng có những sự biến đổi của nó.
Có thể xét tình hình chung mà định ra từng giai đoạn lớn, nhưng không thể tách hẳn từng giai đoạn một cách dứt khoát như người ta cắt cái bánh. Một giai đoạn dài hay ngắn phải tuỳ theo tình hình trong nước và thế giới, tuỳ theo sự biến đổi trong lực lượng địch và lực lượng ta.
Chúng ta phải hiểu rằng: trường kỳ kháng chiến có liên hệ mật thiết đến việc chuẩn bị tổng phản công. Kháng chiến trường kỳ nên chuẩn bị tổng phản công cũng phải trường kỳ. Một mặt tuỳ theo sự biến đổi của lực lượng địch và lực lượng ta, một mặt cũng tuỳ theo sự biến đổi của tình hình quốc tế, mà tổng phản công có thể đến mau hay chậm.
Vô luận thế nào, chuẩn bị càng cẩn thận, càng đầy đủ, thì tổng phản công càng chắc chắn, càng thuận lợi.
Khẩu hiệu: chuẩn bị để chuyển mạnh sang tổng phản công đề ra đầu năm 1950.
Trong một năm đó, chúng ta có chuẩn bị hay không?
Chúng ta có chuẩn bị. Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên, đã cổ động Thi đua ái quốc. Quân đội và nhân dân đang ra sức chuẩn bị và đã có kết quả tốt, như mọi người đều biết.
Trong năm 1950, ta có chuyển hay không?
Có. Ta có chuyển và ta đang chuyển. Cuộc thắng lợi to về ngoại giao đầu năm và cuộc thắng lợi to về quân sự cuối năm 1950, là chứng cớ rõ rệt.
Đã tổng phản công chưa?
Chúng ta vẫn đang chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công, chứ chưa phải đã thực hiện tổng phản công. Phải hiểu rõ chữ chuẩn bị chuyển mạnh sang...
Khi nào chuẩn bị thật đầy đủ thì sẽ tổng phản công. Chuẩn bị càng đầy đủ, thật đầy đủ, thì thời giờ tổng phản công càng mau chóng, tổng phản công càng thuận lợi.
Chúng ta không nên hấp tấp, vội vàng, không nên nóng nảy, sốt ruột.
Quân đội, nhân dân, cán bộ, tất cả mọi người, tất cả mọi ngành đều phải ra sức thi đua chuẩn bị cho đầy đủ. Bao giờ chuẩn bị đầy đủ thì chúng ta sẽ tổng phản công và lúc đó tổng phản công nhất định sẽ thắng lợi.
9. SỬA CHỮA NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM SAI LẦM
Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình để sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ.
Trước khi nêu những khuyết điểm chúng ta phải nhận rằng Đảng ta có những cán bộ - nhất là cán bộ trong vùng bị tạm chiếm- rất dũng cảm, tận tuỵ, bất kỳ gian nan nguy hiểm thế nào, vẫn cứ đi sát với dân, vẫn cứ bám lấy công việc, không nhút nhát, không than phiền, hy sinh cả tính mệnh cũng không tiếc.
Đó là những chiến sĩ kiểu mẫu của dân tộc, những người con xứng đáng của Đảng.
Điểm lại từ ngày thành lập đến nay, nói chung chính sách của Đảng ta đúng. Không đúng sao lập được những thành tích lớn lao như ngày nay? Nhưng có mấy khuyết điểm và nhược điểm lớn dưới đây:
Vì việc học tập chủ nghĩa còn kém, cho nên tư tưởng của nhiều cán bộ và đảng viên chưa thuần thục, trình độ lý luận còn non nớt. Do đó, trong khi thi hành chính sách của Đảng và của Chính phủ, đã xảy ra những khuynh hướng sai lầm hoặc "tả" hoặc "hữu" (như trong chính sách ruộng đất, mặt trận, dân tộc thiểu số, tôn giáo, chính quyền, v.v.).
Công tác tổ chức cũng còn kém, cho nên nhiều khi không đảm bảo được việc thi hành đúng chính sách của Đảng và của Chính phủ.
Vì vậy, học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức - là những việc cần kíp của Đảng.
Ngoài ra, ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối làm việc, về chủ trương và cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng. Ấy là những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần.
Bệnh chủ quan tỏ ra ở tư tưởng cho rằng trường kỳ kháng chiến có thể trở thành đoản kỳ kháng chiến.
Bệnh quan liêu tỏ ra ở chỗ thích giấy tờ, xa quần chúng, không điều tra nghiên cứu, không kiểm tra theo dõi việc thi hành, không học tập kinh nghiệm của quần chúng.
Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động.
Bệnh hẹp hòi tỏ ra ở chỗ đối với người ngoài Đảng nhiều khi quá khắt khe, hoặc phớt người ta đi, không chịu bàn bạc, hỏi han ý kiến.
Còn bệnh công thần thì tỏ ra như thế này:
- Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là "cứu tinh" của dân, "công thần" của Đảng. Rồi đòi địa vị, đòi danh vọng. Việc to không làm được, việc nhỏ không muốn làm. Bệnh công thần rất có hại cho đoàn kết ở trong Đảng cũng như ở ngoài Đảng.
- Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ.
Những đồng chí mắc bệnh ấy không hiểu rằng: mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng.
Trong Đảng có những bệnh ấy và bệnh khác. Trung ương cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Vì Trung ương chưa chú trọng việc kiểm tra. Sự huấn luyện về chủ nghĩa tuy có, nhưng chưa được khắp, chưa được đủ. Dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện rộng rãi. Phê bình và tự phê bình chưa thành nền nếp thường xuyên.
Tuy nhiên, những việc đó đang được chấn chỉnh phần nào. Những cuộc kiểm thảo và phong trào phê bình và tự phê bình gần đây đã mang lại kết quả tốt, mặc dầu còn có chỗ lệch lạc.
Đồng chí Xtalin có nói: đảng cách mạng cần phê bình và tự phê bình cũng như người ta cần không khí. Và: kiểm tra chặt chẽ thì có thể tránh được nhiều khuyết điểm nặng nề.
Từ nay, Đảng phải tìm cách giáo dục chủ nghĩa cho phổ biến, để nâng cao tư tưởng chính trị của đảng viên. Phải phát triển lối làm việc tập thể. Phải củng cố mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Phải đề cao tinh thần kỷ luật, tinh thần nguyên tắc, tinh thần Đảng của mỗi đảng viên. Phải mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên. Sau hết là Đảng phải có sự kiểm tra chặt chẽ.
Làm được như thế thì khuyết điểm sẽ bớt, và tiến bộ sẽ mau.
10. TÌNH HÌNH MỚI VÀ NHIỆM VỤ MỚI
A. Tình hình mới:
Mỗi người đều biết rằng ngày nay thế giới chia làm hai phe rõ rệt:
- Phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo, gồm nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ mới ở châu Âu và ở châu Á. Nó gồm cả các nước dân tộc bị áp bức đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, và các đoàn thể dân chủ cùng những nhân sĩ dân chủ ở các nước tư bản.
Phe dân chủ là một lực lượng rất mạnh và ngày càng mạnh thêm. Vài điểm dưới đây đủ chứng tỏ điều đó:
Thử xem địa đồ thế giới: nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ mới từ Đông Âu sang Đông Á liền thành một khối rộng lớn, gồm 800 triệu nhân dân; trong khối ấy các dân tộc đoàn kết, cùng chung một mục đích, không có chút gì mâu thuẫn. Nó đại biểu cho sự tiến bộ, cho tương lai tươi sáng của loài người. Đó là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ.
Trong Đại hội lần thứ hai của Mặt trận hoà bình29 họp ở Thủ đô nước Ba Lan hồi tháng 11-1950, các đại biểu của 500 triệu chiến sĩ hoà bình ở 81 nước đã thề kiên quyết giữ gìn hoà bình thế giới và chống đế quốc chiến tranh. Đó là Mặt trận thống nhất của thế giới hoà bình và dân chủ. Đó là một lực lượng rất mạnh và ngày càng thêm mạnh.
- Phe phản dân chủ do Mỹ cầm đầu. Ngay lúc Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, Mỹ đã trở nên trùm đế quốc, trùm phản động thế giới. Anh với Pháp là tay phải tay trái của Mỹ, các chính phủ phản động ở phương Đông và phương Tây là lâu la của Mỹ.
Với tham vọng làm chúa thế giới, Mỹ một tay thì cầm đồng đôla để lợi dụ thiên hạ, một tay thì cầm bom nguyên tử để uy hiếp thế giới. Nào chính sách Tơruman30, nào kế hoạch Mácsan31, nào Hiệp ước Đại Tây Dương32, nào chương trình Đông Nam Á. Tất cả những thủ đoạn ấy của Mỹ đều nhằm vào mục đích chuẩn bị chiến tranh thế giới lần thứ ba.
Những tham vọng của Mỹ gặp phải một sức ngăn trở to lớn: sức ấy tức là lực lượng vĩ đại của Liên Xô, phong trào dân chủ, hoà bình và phong trào dân tộc giải phóng đang sôi nổi khắp thế giới.
Chính sách Mỹ hiện nay là: ở châu Á thì giúp bọn phản động như Tưởng Giới Thạch, Lý Thừa Vãn, Bảo Đại, v.v.; giúp đế quốc Anh chống kháng chiến của Mã Lai, giúp thực dân Pháp chống kháng chiến của Việt Nam. Mỹ thì tự ra tay chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên và chiếm Đài Loan để hòng phá cách mạng Trung Quốc.
Ở châu Âu thì Mỹ do kế hoạch Mácsan và Hiệp ước Đại Tây Dương mà nắm quyền quân sự, chính trị, kinh tế của các nước ở Tây Âu, đồng thời ra sức vũ trang cho các nước ấy, bắt buộc các nước ấy phải cung cấp lính để làm bia đỡ đạn cho Mỹ, như kế hoạch lập ra 70 sư đoàn ở Tây Âu do một người Mỹ làm tổng tư lệnh.
Nhưng phe Mỹ có rất nhiều chỗ yếu:
Ngoài sức mạnh của phe dân chủ, phe Mỹ còn bị một lực lượng khác đe doạ - ấy là kinh tế khủng hoảng.
Nội bộ phe Mỹ có nhiều mâu thuẫn. Vài thí dụ: Mỹ muốn Tây Đức lập một quân đội gồm 10 sư đoàn, bị nhân dân Pháp phản đối. Anh thì ngấm ngầm chống Mỹ vì tranh nhau các mỏ dầu ở Cận Đông và tranh nhau ảnh hưởng ở Viễn Đông.
Nhân dân, nhất là các tầng lớp lao động các nước bị Mỹ "giúp", đều oán ghét Mỹ, vì Mỹ lấn quyền kinh tế của họ, đụng chạm đến quyền độc lập của nước họ.
Mỹ tham quá, muốn lập căn cứ địa khắp hoàn cầu; nhóm phản động nào, chính phủ phản động nào, Mỹ cũng giúp. Mặt trận của Mỹ quá dài, quá rộng, thành thử lực lượng của Mỹ ắt phải mỏng manh. Chứng cớ rõ rệt là Mỹ cùng 40 4) nước chư hầu của Mỹ đánh với một nước Triều Tiên mà cũng đang thất bại. Mỹ giúp phe phản động Trung Quốc là Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch làm trùm, nhưng họ Tưởng vẫn thất bại. Mỹ giúp thực dân Pháp ở Việt Nam, mà kháng chiến Việt Nam vẫn thắng.
Nói tóm lại: chúng ta có thể đoán chắc rằng phe đế quốc phản động nhất định sẽ thua, phe hoà bình và dân chủ nhất định sẽ thắng.
Việt Nam ta là một bộ phận của phe dân chủ thế giới. Hiện nay lại là một đồn luỹ chống đế quốc, chống phe phản dân chủ do Mỹ cầm đầu.
Từ ngày bắt đầu kháng chiến, Anh và Mỹ đã giúp thực dân Pháp. Nhưng từ 1950, Mỹ đã công khai can thiệp vào nước ta.
Cuối năm 1950, Anh cùng Pháp chuẩn bị lập một mặt trận "thống nhất" để cùng nhau hợp sức chống kháng chiến Mã Lai và kháng chiến Việt Nam.
Thế là tình hình thế giới dính dáng mật thiết với nước ta. Thắng lợi của phe dân chủ cũng là thắng lợi của ta, mà ta thắng lợi cũng là phe dân chủ thắng lợi. Vì vậy, khẩu hiệu chính của ta ngày nay là: Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới.
b. Nhiệm vụ mới
Các đồng chí Trung ương sẽ báo cáo rõ về những vấn đề quan trọng, như Chính cương, Điều lệ, quân sự, chính quyền, Mặt trận dân tộc thống nhất, kinh tế, v.v.. Báo cáo này chỉ nêu ra mấy nhiệm vụ chính trong những nhiệm vụ mới của chúng ta là:
1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam.
1- Chúng ta phải ra sức phát triển lực lượng của quân đội và của nhân dân để đánh thắng nữa, đánh thắng mãi, để tiến tới tổng phản công.
Nhiệm vụ này nhằm vào mấy điều chính:
- Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân.
Đồng thời, phải phát triển và củng cố dân quân du kích về mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó.
- Phát triển tinh thần yêu nước. Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.
Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v.. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.
Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ... Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.
Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến.
Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần "vị quốc" của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế. Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân Liên Xô đã đánh tan bọn phát xít Đức - Nhật và giữ vững Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, và do đó mà giúp đỡ giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chính vì do tinh thần yêu nước mà quân giải phóng và nhân dân Trung Quốc đã đánh tan bọn bán nước là Tưởng Giới Thạch và đuổi được bọn đế quốc Mỹ. Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân Triều Tiên cùng quân tình nguyện Trung Quốc đang đánh cho bọn đế quốc Mỹ và phe lũ chạy dài. Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới.
- Đẩy mạnh Thi đua ái quốc. Trước hết là bộ đội thi đua diệt giặc lập công; hai là nhân dân thi đua tăng gia sản xuất. Chúng ta phải đưa tất cả tinh thần và năng lực mà đẩy mạnh hai việc đó.
- Trong công việc to tát kháng chiến kiến quốc, Mặt trận Liên Việt - Việt Minh, công đoàn, nông hội và các đoàn thể quần chúng có một tác dụng rất to lớn. Chúng ta phải giúp cho các đoàn thể ấy phát triển, củng cố và hoạt động thực sự.
- Về chính sách ruộng đất, ở những vùng tự do, phải triệt để thi hành giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian tạm cấp cho dân cày nghèo và gia đình các chiến sĩ, để cải thiện đời sống cho dân cày và nâng cao tinh thần cùng lực lượng kháng chiến của họ.
- Về kinh tế tài chính, phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch. Thuế khoá phải công bằng hợp lý. Việc thu và chi của tài chính phải tiến đến thăng bằng, để đảm bảo sự cung cấp cho bộ đội và nhân dân.
- Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng.
Chúng ta thắng trận, thì những vùng bị tạm chiếm sẽ được lần lượt giải phóng. Vì vậy, chúng ta phải ra sức chuẩn bị sẵn sàng để củng cố những vùng mới được giải phóng về mọi mặt.
- Tính mệnh và tài sản của kiều dân nước ngoài tuân theo pháp luật Việt Nam, phải được bảo hộ. Đối với Hoa kiều, thì nên khuyến khích họ tham gia kháng chiến Việt Nam. Nếu họ tình nguyện, thì sẽ được hưởng mọi quyền lợi và làm mọi nghĩa vụ như công dân Việt Nam.
Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào.
- Chúng ta kháng chiến thắng lợi, một phần là nhờ sự đồng tình của các nước bạn và nhân dân thế giới. Vì vậy, chúng ta phải củng cố tình thân thiện giữa nước ta và các nước bạn, giữa dân ta và nhân dân các nước trên thế giới.
2- Để thực hiện những điểm ấy, chúng ta phải có một Đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước, để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi, Đảng đó lấy tên Đảng Lao động Việt Nam.
Về thành phần, Đảng Lao động Việt Nam sẽ kết nạp những công nhân, nông dân, lao động trí óc, thật hăng hái, thật giác ngộ cách mạng.
Về lý luận, Đảng Lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung.
Về kỷ luật, Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt, đồng thời là kỷ luật tự giác.
Về luật phát triển, Đảng Lao động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng.
Về mục đích trước mắt, Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội.
Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để.
Đảng Lao động Việt Nam phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam, để đoàn kết và lãnh đạo dân tộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, để thực hiện dân chủ mới.
Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam.
Nhiệm vụ thứ nhất, nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi. Các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó.
Công việc của chúng ta rất to lớn. Tiền đồ của chúng ta rất vẻ vang. Song chúng ta còn phải kinh qua nhiều khó khăn. Kháng chiến có những khó khăn của kháng chiến. Thắng lợi cũng có những khó khăn của thắng lợi. Thí dụ:
- Tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đủ thành thục để đối phó với mọi cuộc biến đổi mới trong nước và ngoài thế giới.
- Đế quốc Mỹ có thể giúp giặc Pháp nhiều hơn nữa, do đó mà giặc Pháp có thể ngông cuồng hơn nữa.
- Công việc ngày càng nhiều, mà ta còn thiếu cán bộ, cán bộ còn thiếu năng lực và kinh nghiệm.
- Giải quyết vấn đề kinh tế và tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân, v.v..
Chúng ta không sợ khó khăn, nhưng chúng ta phải trông thấy trước và trông thấy rõ, phải chuẩn bị sẵn sàng để giải quyết những khó khăn ấy.
Với sự đoàn kết nhất trí và lòng cương quyết quật cường của Đảng, của Chính phủ và của toàn dân, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn để đi đến hoàn toàn thắng lợi.
Cách mạng Tháng Mười thành công. Cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô thành công. Cách mạng Trung Quốc thành công. Những thành công vĩ đại ấy đã mở đường cho sự thành công của cách mạng nước ta và nhiều nước khác trên thế giới.
Ta có một Đảng to lớn, mạnh mẽ. To lớn mạnh mẽ là vì có chủ nghĩa Mác Lênin, vì sự cố gắng không ngừng của toàn thể đảng viên, vì được toàn quân và toàn dân thương yêu, tin cậy, ủng hộ.
Vì vậy, tôi chắc rằng: chúng ta sẽ làm trọn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang là:
- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
- Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn,
- Xây dựng Việt Nam dân chủ mới,
- Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 153-176.
_____________
1) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã ra nghị quyết xác định ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là 3-2-1930.
2) Xem toàn văn bài ca này trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.205.
3) Xem V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.41, tr.24.
4) Theo tài liệu chính thức là Mỹ cùng 14 nước chư hầu.
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
THƯ GỬI NÔNG DÂN THI ĐUA CANH TÁC
Cùng đồng bào nông dân toàn quốc,
Từ ngày phát động phong trào toàn dân canh tác, mọi người đều nỗ lực thi đua cày cấy trồng trọt. Nhờ đó mà năm ngoái, mặc dầu thiên tai (lụt, hạn) nhân hoạ (giặc phá hoại), nhưng kết quả lương thực vẫn đủ nuôi nhân dân cùng bộ đội ta và bộ đội ta đã thắng lợi to.
Năm nay, kháng chiến tiến mạnh hơn nữa. Chúng ta phải chuẩn bị lương thực đầy đủ hơn nữa.
Muốn đánh thắng thì quân và dân ta phải ăn no. Muốn ăn no thì phải có nhiều lương thực. Muốn nhiều lương thực thì phải cày cấy nhiều. Phải chịu khó bón phân, làm cỏ.
“Thực túc thì binh cường!”
Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.
Ruộng rẫy là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương.
Thí dụ: Mùa năm ngoái được 10 tạ, mùa năm nay ta phải làm cho được 12, 13 tạ. Mùa năm nay phải là một mùa thắng lợi.
Khi thi đua thì đồng bào nhà nông phải giúp đỡ nhau bằng mọi cách để cùng nhau tiến bộ. Cán bộ chính quyền và các đoàn thể trước hết là Nông hội, cần phải đi sát với dân, đôn đốc và giúp đỡ dân về mọi mặt.
Tôi hứa rằng Chính phủ sẽ khen thưởng xứng đáng những đồng bào thi đua có kết quả trội nhất.
Thế là thi đua tăng gia sản xuất là đã ích cho nước lại lợi cho mình.
Tôi chắc rằng: với lòng nồng nàn yêu nước và chí kiên quyết của đồng bào, mùa này nhất định là một mùa thắng lợi.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng Giêng Tân Mão
tức tháng 2 năm 1951
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 178-179.
BÀI NÓI TẠI BUỔI KHAI MẠC ĐẠI HỘI THỐNG NHẤT VIỆT MINH - LIÊN VIỆT
Tôi rất sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc của Đại hội Liên Việt - Việt Minh thống nhất.
Lòng sung sướng ấy là chung của cả toàn dân, của cả Đại hội, nhưng riêng cho tôi là một sự sung sướng không thể tả. Một người đã cùng các vị tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết toàn dân. Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai "trường xuân bất lão". Vì vậy cho nên lòng tôi sung sướng vô cùng.
Tôi sung sướng hơn nữa vì từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn kết. Tin mừng đại đoàn kết của hai dân tộc anh em ấy do các vị đại biểu Miên, Lào thân hành mang đến cho chúng ta.
Thế là dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây, chúng ta nhất định đi đến Việt - Miên- Lào đại đoàn kết.
Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự.
Về Chính cương, Điều lệ của Mặt trận Liên Việt sẽ do các vị thảo luận kỹ càng và quyết định sáng suốt trong cuộc Đại hội này. Đây tôi chỉ xin nêu ra vài điểm để giúp Đại hội nghiên cứu:
1. Mặt trận cần có một kỷ luật tự giác mà mỗi hội viên, đoàn thể và cá nhân đều tuân theo.
2. Mặt trận phải tiến dần dần đến thật dân chủ, nghĩa là những cơ quan chỉ đạo sẽ do quần chúng trong Mặt trận cử ra.
3. Sự hoạt động của Mặt trận nên nhằm vào điểm chính để tránh khỏi việc gì cũng làm, nhưng ít việc làm chu đáo. Điểm chính ấy là đẩy mạnh thi đua ái quốc.
4. Các đảng phái, đoàn thể và nhân sĩ trong Mặt trận cần phải đoàn kết chặt chẽ, thân ái giúp đỡ lẫn nhau, thật thà học tập những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng nhau tiến bộ.
Trong Đại hội này, chúng ta có đại biểu đủ các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc, già có, trẻ có, nam có, nữ có, thật là một gia đình tương thân tương ái. Chắc rằng sau cuộc Đại hội, mối đoàn kết thân ái sẽ phát triển và củng cố khắp toàn dân. Với lực lượng đoàn kết ấy, chúng ta sẽ vượt qua hết thảy mọi khó khăn, gian khổ, chúng ta sẽ đánh tan tất cả mọi kẻ thù đế quốc thực dân.
Khối đại đoàn kết ấy phát triển đến thành đại đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình dân chủ toàn thế giới. Lực lượng vô cùng vĩ đại ấy chẳng những giúp chúng ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, mà chúng ta lại góp sức vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới.
Toàn dân đại đoàn kết muôn năm!
Mặt trận Liên - Việt muôn năm!
Việt - Miên - Lào đại đoàn kết muôn năm!
Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Phe dân chủ hoà bình nhất định thắng lợi!
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 181-182.
LỜI KẾT THÚC BUỔI RA MẮT CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Thưa các vị,
Sau khi nghe đồng chí Trường Chinh báo cáo về việc Đảng Lao động Việt Nam thành lập, các vị đều tỏ ý hoan nghênh. Các vị là những người đại biểu cho Mặt trận dân tộc thống nhất, tức là đại biểu cho toàn dân. Ý kiến của các vị tức là ý kiến chung của toàn dân. Vì vậy, các vị đã hoan nghênh, yêu chuộng Đảng Lao động Việt Nam, thì chúng tôi chắc rằng đối với Đảng Lao động Việt Nam, toàn thể nhân dân đều sẽ hoan nghênh, yêu chuộng.
Về chính sách, Đảng cương, tổ chức, v.v. của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí Trường Chinh đã trình bày tường tận. Đây tôi chỉ thay mặt Đảng Lao động Việt Nam mà trân trọng cảm ơn các vị, và tóm tắt lại vài điểm sau này:
- Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là:
ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC
- Nhiệm vụ của Đảng Lao động Việt Nam là kiên quyết lãnh đạo toàn dân đi đến:
KHÁNG CHIẾN THẮNG LỢI, KIẾN QUỐC THÀNH CÔNG
Chính sách quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, v.v. của Đảng Lao động Việt Nam đã nói rõ trong bản Tuyên ngôn và Chính cương. Chính sách ấy có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta:
ĐỘC LẬP - THỐNG NHẤT - DÂN CHỦ - PHÚ CƯỜNG
Chúng tôi xin nói thêm hai điểm, nói rõ để tránh mọi sự có thể hiểu lầm:
Một là về vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người.
Hai là đối với các đảng phái, các đoàn thể bạn trong Mặt trận dân tộc, thì Đảng Lao động Việt Nam chủ trương:
Đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài, cùng nhau tiến bộ.
Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:
- Giàu sang không thể quyến rũ,
- Nghèo khó không thể chuyển lay,
- Uy lực không thể khuất phục.
Nói về người cách mạng và đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:
"Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ,
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu".
Xin tạm dịch là:
"Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng".
"Nghìn lực sĩ" có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.
"Các nhi đồng" nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.
Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.
Tuy vậy Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi.
Sau hết, chúng tôi xin hứa rằng Đảng Lao động Việt Nam quyết làm tròn nhiệm vụ của mình là đưa toàn dân đến: Kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 183-185.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ NÔNG DÂN CỨU QUỐC TOÀN QUỐC LẦN THỨ HAI
Tiếc vì bận công việc Bác không tới dự Hội nghị được. Vậy thân ái gửi lời chúc các cô, các chú mạnh khoẻ và hăng hái làm việc. Sau đây là mấy ý kiến giúp cho Hội nghị thảo luận:
1. Hiện nay toàn dân đang thi đua chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Nhiệm vụ chính của nông dân là thi đua tăng gia sản xuất nhiều lương thực để quân và dân no ấm đánh giặc. Vì vậy phải giải thích cho mọi nông dân hiểu rõ nhiệm vụ chính của mình, thực hiện chính sách ruộng đất đúng mức và tổ chức dân công hợp lý để tăng gia sản xuất được nhiều kết quả, cố làm cho vụ mùa năm nay thật là mùa thắng lợi. Muốn được như vậy cán bộ nông hội cùng cán bộ chuyên môn phải đi sát với nông dân để tuyên truyền giải thích đôn đốc giúp đỡ họ.
2. Đa số dân ta là nông dân. Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng. Hội nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào Hội làm cho Hội đông thêm, mạnh thêm, hăng hái thêm. Đồng thời phải giáo dục hội viên, lấy việc thực tế hằng ngày mà dạy cho nông dân, làm cho Hội nông dân cứu quốc thành một lực lượng mạnh mẽ để thi hành mọi chính sách của Chính phủ và của Liên - Việt.
3. Ra sức đoàn kết chặt chẽ với mọi tầng lớp nhân dân nhất là công nhân và lao động trí óc, để cùng nhau kháng chiến kiến quốc.
Kháng chiến càng gần thắng lợi thì chúng ta càng gặp nhiều khó khăn. Nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ và sự đoàn kết của toàn dân, chúng ta quyết vượt mọi khó khăn, quyết đánh thắng giặc.
Chúc Hội nghị thành công.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 năm 1951
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 191-192.
ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỚI LAO ĐỘNG TRÍ ÓC
Tuyên ngôn của Đảng nói:
"Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mạng nhất". Và: "Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài năng".
Hai câu ấy đủ đập tan những lời bịa đặt đê hèn của bọn đế quốc và lũ phản động. Chúng thường vu rằng: những đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin xem khinh trí thức.
Thật ra, chính bọn chúng lợi dụng trí thức, nô dịch trí thức và áp bức trí thức. Những người đại trí thức, thí dụ như ông Quyri (Curie) bị Chính phủ Mỹ "tẩy chay", bị Chính phủ Pháp cất chức. Đó là chứng cớ rõ ràng.
Chỉ có giai cấp công nhân mới thật yêu chuộng trí thức. Những người lao động trí óc được đặc biệt trọng đãi ở Liên Xô và ở các nước dân chủ mới. Đó cũng là chứng cớ rõ ràng.
Lao động trí óc là ai? Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy, v.v..
Nhiệm vụ của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam hiện nay là kháng chiến và kiến quốc.
Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, ngoài việc quân sự ắt phải phát triển kinh tế. Cho nên cần có những người chuyên môn thông thạo về công nghệ và nông nghiệp.
Cần phát triển giao thông vận tải, cho nên cần có những kỹ sư thông thạo về việc đắp đường, bắc cầu.
Cần giữ gìn sức khoẻ của dân, cho nên cần có thầy thuốc.
Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành hoạt động, cho nên cần có thầy giáo, v.v..
Do đó, lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội.
Ở đây, cũng nên nêu một điểm: Chúng ta có quyền tự hào rằng: Những người lao động trí óc ở Việt Nam đều đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khác hẳn với Pháp trong thời kỳ bị Đức xâm chiếm: Trong số 32.026 Pháp gian bị xử án, một bộ phận lớn là trí thức. (Hiện nay trong tầng lớp trí thức Pháp, nhiều người đã giác ngộ, đứng vào hàng ngũ dân chủ và nhân dân. Họ tỏ thái độ rất trung thành, kiên quyết đấu tranh cho hoà bình và độc lập của nước Pháp).
Ngày nay, chúng ta phải làm hai việc nhằm một mục đích:
Một là đào tạo những trí thức mới trong công nông.
Hai là cải tạo những trí thức hiện có.
Dùng hai chữ "cải tạo" thì không khỏi mếch lòng những bạn trí thức quá giàu lòng tự ái. Nhưng chúng ta phải thật thà nhận rằng: về chuyên môn và trong mức nào đó, thì anh chị em trí thức khá. Song vì ngày trước, anh chị em đã bị giáo dục trong đường lối và khuôn khổ thực dân và phong kiến, cho nên tư tưởng và lề lối làm việc của anh chị em không khỏi ảnh hưởng của thực dân và phong kiến. Điều đó không phải lỗi tại anh chị em. Dù sao, thoát khỏi cái xiềng xích của ảnh hưởng ấy thì tài năng của trí thức ta sẽ tiến bộ vượt bực, sẽ rất ích lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì nó sẽ hợp với nhiệm vụ mới, tinh thần mới, xã hội mới của nước ta.
Muốn đạt mục đích ấy, trí thức ta cần cải tạo tư tưởng, sửa đổi lề lối làm việc.
Đào tạo trí thức mới.
Cải tạo trí thức cũ.
Công nông trí thức hoá.
Trí thức công nông hoá.
Nghĩa là công nông cần học tập văn hoá để nâng cao trình độ tri thức của mình, trí thức cần gần gụi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công nông.
Đó là nhiệm vụ chung và cần kíp, mà chúng ta phải cùng nhau cố gắng làm cho kỳ được.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 202-204.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ KIỂM THẢO CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG SỐ 18
Các chú,
Các chú khai hội. Các chú đã nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Ngày mai các chú còn khai hội nữa. Bác nêu thêm mấy nhận xét để các chú tự phê bình và phê bình một cách thành thực hơn nữa, để hội nghị có kết quả nhiều.
1. Các chú ai cũng có cái khăn mặt. Có chú phong lưu hơn lại có thêm miếng xà phòng. Khăn mặt và xà phòng dùng để tắm rửa cho sạch. Về tinh thần và tư tưởng, cũng cần phải có khăn mặt và xà phòng để rửa cho sạch, nghĩa là phải phê bình và tự phê bình. Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính, phê bình người là phụ. Có đề cao tự phê bình và triệt để tự phê bình mới tẩy rửa được tinh thần và tư tưởng cho thật sạch. Tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng. Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.
2. Tất cả mọi người phải có tinh thần phụ trách, thành tâm phụ trách, dũng cảm phụ trách. Trước khi làm phải có thảo luận cho kỹ để chủ trương cho đúng và đặt kế hoạch cho sát. Nhưng khi đã quyết định rồi, có mệnh lệnh rồi thì phải tuyệt đối phục tùng, phải vững lòng tin tưởng, phải quyết tâm thực hiện không một chút do dự. Dù khó đến mấy cũng phải tìm đủ mọi cách để cho quyết định chung được thực hiện, để cho mệnh lệnh cấp trên được thực hiện. Sách quân sự có câu "Tĩnh như núi, động như biển" là như vậy. Có tinh thần phụ trách là có tinh thần phục vụ nhân dân, là có tinh thần quyết chiến quyết thắng. Có tinh thần phụ trách nhất định đánh thắng giặc.
3. Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng, thì không làm gì được. Bởi vậy cần phải thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng.
4. Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú doạ nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc.
Ngày mai, các chú họp, phải tự phê bình thật nghiêm khắc về các khuyết điểm, rồi ra sức sửa chữa cho bằng được. Về đơn vị các chú phải hướng dẫn bộ đội tự phê bình, chỉ trích về các khuyết điểm và đặt kế hoạch cho đơn vị mình sửa chữa cho bằng được. Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí giúp cho quân đội ta trở nên quân đội tất thắng.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 206-207.
THỰC HÀNH SINH RA HIỂU BIẾT HIỂU BIẾT TIẾN LÊN LÝ LUẬN LÝ LUẬN LÃNH ĐẠO THỰC HÀNH
Trong tháng 7-1937, đồng chí Mao Trạch Đông viết tập "Thực tiễn luận", bàn về lý luận và thực hành, biết và làm.
Sau đây là tóm tắt nội dung tập "Thực tiễn luận" nói theo cách Việt Nam cho dễ hiểu.
Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác Lênin, để loè người ta.
Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng.
Hai khuynh hướng ấy đều sai lầm. Sai lầm nhất là khuynh hướng giáo điều, vì nó mượn những lời của Mác, Lênin, dễ làm cho người ta lầm lẫn.
Chủ nghĩa Mác chỉ rằng: hoạt động sản xuất là nền tảng của thực hành, nó quyết định tất cả các hoạt động khác.
Do sự sản xuất vật chất mà người ta hiểu biết dần dần các hiện tượng, các tính chất, các quy luật và mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên. Lại do hoạt động sản xuất mà dần dần hiểu rõ mối quan hệ giữa người này với người khác.
Đời xưa, khi chưa có giai cấp, thì mỗi người lấy tư cách một phần tử trong xã hội mà góp sức với những người khác, gây thành một thứ quan hệ sản xuất để giải quyết vấn đề sinh hoạt của loài người.
Khi xã hội đã có giai cấp, thì các giai cấp ấy lại gây thành một thứ quan hệ sản xuất khác để giải quyết vấn đề sinh hoạt của loài người.
Hoạt động sản xuất là nguồn gốc của sự phát triển hiểu biết của loài người.
Ngoài hoạt động sản xuất, sự thực hành của người ta còn có: giai cấp đấu tranh, sinh hoạt chính trị, hoạt động khoa học và nghệ thuật, v.v.. Tóm lại, tất cả mọi ngành hoạt động trong xã hội đều do người của xã hội tham gia. Vì vậy, ngoài sinh hoạt vật chất, người ta còn do sinh hoạt chính trị, văn hoá (dính dáng khăng khít với sinh hoạt vật chất) mà hiểu biết các thứ quan hệ giữa người với người.
Giai cấp đấu tranh ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự hiểu biết của người. Trong xã hội có giai cấp, mỗi người đều sinh hoạt trong một giai cấp nhất định, và các thứ tư tưởng đều có tính chất giai cấp.
Hoạt động sản xuất của xã hội phát triển từng bước, từ thấp đến cao. Vì vậy, sự hiểu biết của người ta (về giới tự nhiên, cũng như về xã hội) cũng phát triển từng bước, từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu, từ một mặt đến toàn diện.
Trước kia, người ta chỉ hiểu một mặt của lịch sử. Đó là vì giai cấp bóc lột thường làm sai lịch sử của xã hội. Lại vì sản xuất hãy còn trong khuôn khổ nhỏ hẹp, nên nó hạn chế tầm con mắt người ta. Chỉ đến khi có công nghiệp to, sản xuất lớn, có giai cấp vô sản, sự hiểu biết lịch sử mới phát triển đến toàn diện, sự hiểu biết xã hội mới thành một khoa học. Đó là duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác.
Chỉ có thực hành mới là mực thước đúng nhất cho sự hiểu biết của người về thế giới. Chỉ do quá trình thực hành (quá trình sản xuất vật chất, giai cấp đấu tranh, khoa học thực nghiệm), người ta mới đạt được kết quả đã dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được chứng thực. Muốn như thế, tư tưởng nhất định phải hợp với quy luật khách quan. Không hợp thì trong lúc thực hành sẽ bị thất bại. Trải qua thất bại, người ta học được kinh nghiệm, để sửa đổi tư tưởng cho hợp quy luật khách quan, rồi đổi thất bại ra thành công, "đứt tay, hay thuốc" là như vậy.
Duy vật biện chứng đã đặt thực hành lên trên hết. Sự hiểu biết không thể rời thực hành. Lênin nói rằng: "Thực hành cao hơn sự hiểu biết (lý luận), vì nó đã có tính chất phổ biến, lại có tính chất thực tế cụ thể".
Duy vật biện chứng của Mác có hai đặc điểm:
Một là tính chất giai cấp, nói rõ duy vật biện chứng là để phụng sự giai cấp vô sản.
Hai là tính chất thực hành. Nói rõ thực hành là nền tảng của lý luận và lý luận lại phụng sự thực hành. Chỉ có thực hành mới là tiêu chuẩn của sự thật.
Quan điểm thực hành là quan điểm chính của duy vật biện chứng.
Thế nào là thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết trở lại phụng sự thực hành ?
Trong quá trình thực hành, ban đầu người ta chỉ thấy hiện tượng và thấy mối quan hệ bên ngoài của mỗi việc. Thí dụ: có người đến thăm vùng tự do. Mấy hôm đầu, họ thấy núi sông, đường sá, nhà cửa. Họ gặp các hạng người. Họ xem các tài liệu. Họ dự các cuộc mít tinh. Họ nghe người này nói chuyện này, người khác nói chuyện khác. Họ thấy hiện tượng và quan hệ bên ngoài của vùng tự do. Đó là giai đoạn cảm giác và ấn tượng của sự hiểu biết. Trong giai đoạn thứ nhất ấy, họ chưa có một khái niệm sâu sắc, chưa có một kết luận hợp với lý luận.
Nếu họ cứ tiếp tục thực hành xem xét, ấn tượng và cảm giác của họ lặp đi lập lại nhiều lần, thì trong quá trình hiểu biết của họ có một sự đột biến, do đó họ có một khái niệm. Khái niệm không phải là hiện tượng lẻ tẻ, là quan hệ bên ngoài nữa. Khái niệm là đã nắm được cái bản chất, cái toàn diện, và quan hệ bên trong của mọi việc.
Cứ như thế mà tiến mãi, dùng cách xem xét và phán đoán, thì sẽ tìm được một kết luận hợp với lý luận. "Đi mãi thì đến, tìm mãi thì gặp" là thế. Đó là giai đoạn thứ hai.
Khi đã có đủ các tài liệu, đã suy xét, họ sẽ phán đoán rằng: Chính sách toàn dân đoàn kết, trường kỳ kháng chiến là đúng. Nếu họ thật thà muốn đoàn kết cứu nước, thì họ sẽ tiến lên một bước nữa mà kết luận rằng: Mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ thì trường kỳ kháng chiến nhất định thành công.
Giai đoạn khái niệm, phán đoán và lý luận là giai đoạn hiểu biết bằng lý trí. Nó rất quan trọng trong quá trình hiểu biết.
Từ cảm giác tiến đến tư tưởng, đến sự hiểu biết những mâu thuẫn nội bộ của mọi sự vật, hiểu biết quy luật của nó, hiểu biết quan hệ bên trong của quá trình này với quá trình kia, nghĩa là hiểu biết tiến dần thành lý luận, đó là nhiệm vụ của hiểu biết.
Trước kia, chưa ai biết rõ rằng lý luận duy vật biện chứng, lý luận hiểu biết, dựa vào thực hành, từ thấp tiến đến cao. Đến Mác mới giải quyết được vấn đề ấy.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nêu rõ hai đặc điểm của hai giai đoạn trong quá trình hiểu biết. Đặc điểm trong giai đoạn thấp là cảm giác. Đặc điểm trong giai đoạn cao là lý luận. Hai giai đoạn ấy tuy khác nhau, nhưng không tách rời nhau. Nó thống nhất trên nền tảng thực hành.
Cái gì ta mới cảm giác, ta vẫn chưa hiểu biết nó một cách sâu sắc: Chỉ khi nào ta hiểu biết nó, ta mới cảm giác nó một cách sâu sắc. Cảm giác chỉ giải quyết vấn đề hiện tượng. Lý luận mới giải quyết vấn đề bản chất. Nếu không thực hành thì không thể nào giải quyết được những vấn đề thiết thực ấy. Muốn hiểu biết việc gì, phải thiết thực tiếp xúc với việc ấy. Trong xã hội phong kiến, không thể nào hiểu biết được quy luật tư bản, vì hồi đó chưa có tư bản. Lý luận Mác chỉ có thể sinh ra trong xã hội tư bản. Mác lại không thể đoán trước một cách đầy đủ quy luật của chủ nghĩa đế quốc, vì hồi đó chủ nghĩa tư bản chưa đến giai đoạn đế quốc. Chỉ có Lênin và Xtalin mới vạch rõ được quy luật của chủ nghĩa đế quốc chẳng những vì Lênin và Xtalin có thiên tài, mà trước hết là vì hai ông đã thực hành việc lãnh đạo giai cấp đấu tranh và thực nghiệm khoa học. Nếu không thực hành thì dù tài giỏi mấy cũng không thành công được.
Muốn hiểu biết một việc gì, một vật gì, thì phải tham gia vào cuộc đấu tranh và biến đổi của việc ấy, vật ấy. Có như thế mới thấy được hiện tượng của nó, và tiến tới hiểu biết bản chất của nó. Đó là con đường thực tế, ai muốn hiểu biết cũng phải trải qua.
Có người chỉ nghe lỏm, chỉ biết đôi chút mà đã vênh váo, tự cho mình là hiểu biết nhất trong thiên hạ. Thế là dại. Hiểu biết là một vấn đề khoa học, không có gì đáng kiêu ngạo. Trái lại, càng hiểu biết, thì càng phải khiêm tốn.
Muốn biết mùi quả cam, phải bổ quả cam mà nếm. Muốn biết tính chất quả cam thế nào thì phải dùng vật lý học và hoá học mà xét, rồi mới có thể thay đổi tính chất của quả cam. Muốn hiểu biết lý luận và phương pháp cách mạng, phải thực hành tham gia cách mạng.
Tất cả mọi hiểu biết, đều do kinh nghiệm trực tiếp hoặc kinh nghiệm gián tiếp mà có. Kinh nghiệm gián tiếp là kinh nghiệm người xưa để lại và kinh nghiệm các nước ngoài. Nếu những hiểu biết, những kinh nghiệm ấy hợp với điều kiện khách quan thì nó đúng và có thể tin. Nếu không, thì không thể tin. Vì vậy, sự hiểu biết của mỗi người có hai bộ phận: kinh nghiệm trực tiếp và kinh nghiệm gián tiếp. Và kinh nghiệm gián tiếp của ta tức là kinh nghiệm trực tiếp của người. Cho nên, nói chung, sự hiểu biết nào cũng không thể tách rời kinh nghiệm trực tiếp. "Không vào hang, không bắt được cọp". Câu tục ngữ ấy là một sự thật cho thực hành, cũng là một sự thật cho hiểu biết. Không thực hành thì nhất định không thể hiểu biết.
Do thực hành mà hiểu biết, là hiểu biết theo duy vật biện chứng. Thí dụ:
Ở giai đoạn đầu tiên, giai đoạn vô sản tự động đấu tranh, phá hoại máy móc, thì vô sản mới hiểu biết chủ nghĩa tư bản bằng cảm giác, họ mới thấy một phía của hiện tượng, và mối quan hệ bên ngoài của chủ nghĩa tư bản. Lúc đó vô sản chỉ là "giai cấp tự nhiên".
Đến giai đoạn thứ hai, vô sản đấu tranh về kinh tế, chính trị một cách có ý thức, có tổ chức, nhờ có kinh nghiệm thực hành; khi Mác và Ăngghen đã dùng phương pháp khoa học tổng kết những kinh nghiệm ấy lại mà đúc thành lý luận Mác, thì vô sản mới hiểu biết bản chất của chủ nghĩa tư bản, hiểu biết quan hệ giai cấp bóc lột, hiểu biết nhiệm vụ của mình. Lúc đó, vô sản trở nên "giai cấp vì mình".
Cách thức nhân dân Việt Nam hiểu biết thực dân Pháp cũng như thế. Giai đoạn đầu chỉ hiểu biết bằng cảm giác. Nó biểu hiện ra ở các cuộc khởi nghĩa của những nhóm Cần Vương, và những nhóm tiểu tư sản cách mạng. Giai đoạn thứ hai mới là hiểu biết theo lý trí. Ta thấy rõ những mâu thuẫn bên trong và bên ngoài của đế quốc Pháp, ta thấy rõ chúng dùng bọn phong kiến phản động Việt Nam để áp bức nhân dân ta. Giai đoạn ấy bắt đầu từ năm 1925-1930 (Thời kỳ Thanh niên cách mạng đồng chí hội bắt đầu tuyên truyền và tổ chức nhân dân).
Về chiến tranh cũng thế. Một người chỉ huy chưa có kinh nghiệm quân sự, chưa hiểu quy luật chiến tranh, lúc đầu ắt bị thất bại nhiều trận. Nhờ những kinh nghiệm (kinh nghiệm thắng trận, nhất là kinh nghiệm thua trận), người chỉ huy hiểu rõ quy luật của chiến tranh, nắm vững chiến lược và chiến thuật. Lúc đó thì họ sẽ lãnh đạo một cách chắc chắn.
Có đôi đồng chí sợ phụ trách công việc. Họ nói: "Tôi nắm không vững". Tại sao nắm không vững? Vì họ chưa hề thực hành những công việc ấy, họ chưa hiểu quy luật bên trong và hoàn cảnh bên ngoài của những việc ấy.
Khi đã phân tách rõ ràng tình hình và hoàn cảnh của công việc ấy cho họ hiểu thì họ dần dần nắm vững và dám làm. Trải qua một thời kỳ học tập kinh nghiệm nếu họ là những người thật thà cầu tiến, thì họ sẽ tiến bộ mau.
Những người mắc bệnh chủ quan, không xem xét hoàn cảnh thực tế, không xem xét toàn thể công việc, không nghiên cứu bản chất của công việc, không xét rõ quan hệ của việc này với việc khác, mà chỉ biết dùng mệnh lệnh, thì nhất định sẽ thất bại.
Có hai điểm rất quan trọng cần nhắc lại một lần nữa:
Một là sự hiểu biết bằng lý trí phải dựa vào sự hiểu biết bằng cảm giác. Nếu không có cảm giác, thì lý trí như một dòng nước không có nguồn, một chòm cây không có rễ; mà như thế là chủ quan. Kinh nghiệm cảm giác là bước đầu tiên trong quá trình hiểu biết. Chỉ do thực hành, người ta mới hiểu biết; chỉ do tiếp xúc với sự vật khách quan, người ta mới có kinh nghiệm, cảm giác. Nếu nhắm mắt, bịt tai, không nghe, không thấy sự vật khách quan bên ngoài thì làm gì có hiểu biết. Kinh nghiệm là bước đầu tiên của hiểu biết. Đó là hiểu biết theo chủ nghĩa duy vật.
Hai là hiểu biết phải tiến hoá sâu sắc, từ giai đoạn cảm giác đến giai đoạn lý trí. Đó là hiểu biết theo phương pháp biện chứng.
Chỉ cảm giác thôi không đủ. Muốn hiểu biết toàn bộ một sự vật, hiểu biết bản chất và quy luật nội bộ của nó, thì phải suy xét kỹ lưỡng, gom góp những cảm giác phong phú lại, rồi chọn lọc cái nào thật, cái nào giả, cái nào đúng, cái nào sai, từ ngoài đến trong, để tạo thành một hệ thống khái niệm lý luận. Đó là hiểu biết do thực hành mà có và được cải tạo trong thực hành . Hiểu biết ấy sâu sắc hơn, đúng hơn, phản ảnh sự vật một cách hoàn toàn hơn.
Những người chỉ trọng kinh nghiệm mà khinh lý luận thì không hiểu rõ toàn bộ quá trình khách quan, thiếu phương châm vững chắc, chỉ biết một mà không biết mười. Nếu những người ấy lãnh đạo cách mạng thì sẽ thất bại.
Đối với một công tác cũng như đối với một xã hội hay một cuộc cách mạng, sự hiểu biết đều phải do cảm giác tiến đến lý trí (lý luận).
Nhưng hiểu biết như thế chỉ mới là hiểu một nửa. Vì theo chủ nghĩa Mác thì chẳng những cần hiểu biết quy luật thế giới để giải thích thế giới, mà còn phải dùng sự hiểu biết ấy để cải tạo thế giới.
Lý luận rất quan trọng. Lênin nói: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có vận động cách mạng". Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động. Nếu đưa một lý luận rất đúng ra nói, rồi xếp nó lại một xó, không đưa ra thực hành, thì lý luận ấy thành lý luận suông.
Hiểu biết do thực hành mà ra. Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận. Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành. Sự tiến tới của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà cốt nhất là từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng. Đã nắm được quy luật thế giới, thì phải dùng nó vào thực hành cải tạo thế giới, thực hành tăng gia sản xuất, thực hành giai cấp đấu tranh, dân tộc đấu tranh. Đó là quá trình liên tiếp của hiểu biết.
Muốn biết lý luận đúng hay không, thì phải dùng nó vào thực hành, xem nó có đạt được mục đích đã định hay không. Chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là vì nó được chứng minh là đúng trong thực hành cách mạng giai cấp và cách mạng dân tộc. Duy vật biện chứng là đúng, vì sự thực hành nào cũng không thể thoát ra khỏi phạm vi của nó.
Nếu có lý luận không đầy đủ hoặc sai lầm thì cần phải trải qua thực hành mà sửa chữa, làm cho nó đầy đủ hơn, đúng hơn. Cho nên, có thể nói "thực hành là kích thước của sự thật, là nền tảng của hiểu biết".
Đồng chí Xtalin nói: "Lý luận tách rời thực hành là lý luận suông. Thực hành tách rời lý luận là thực hành mù quáng".
Từ cảm giác tiến đến lý luận, từ lý luận tiến đến hành động có kết quả, quá trình hiểu biết đến đó có thể gọi là hoàn thành. Song, vì quá trình hiểu biết cứ tiến mãi, nên nói chung vẫn là chưa hoàn thành.
Bất kỳ trong giới tự nhiên hay trong xã hội, mâu thuẫn và đấu tranh nội bộ cứ tiến mãi, phát triển mãi. Sự hiểu biết cũng phải tiến tới mãi, phát triển mãi.
Cho nên người lãnh đạo cách mạng phải khéo sửa đổi khi có những sai lầm trong tư tưởng, lý luận, kế hoạch và nghị quyết của mình. Đồng thời, khi giai đoạn này phát triển lên giai đoạn khác, thì sự hiểu biết của người lãnh đạo và chiến sĩ cách mạng cũng phải tiến theo. Nghĩa là phải đề ra nhiệm vụ mới và phương pháp mới hợp với tình hình mới của cách mạng.
Trong thời kỳ cách mạng, tình hình biến đổi rất mau. Nếu sự hiểu biết không theo kịp thì khó mà đưa cách mạng đến thắng lợi.
Thường có khi tư tưởng không theo kịp thực tế. Đó là vì sự hiểu biết của người ta bị điều kiện xã hội hạn chế.
Phải phản đối những người khuynh hữu. Tư tưởng của họ không theo kịp sự biến đổi của tình hình khách quan. Tình hình đã tiến lên, mà sự hiểu biết của họ cứ ở chỗ cũ, vì tư tưởng của họ xa rời thực hành. Họ cũng như những người không đi trước xe để hướng dẫn, lại chạy sau xe và trách xe chạy mau quá. Họ muốn gò xe lại, làm cho xe thụt lùi.
Lại cần phản đối những người khuynh tả. Họ chỉ biết nói cho sướng miệng. Tư tưởng của họ nhảy qua những giai đoạn phát triển nhất định. Họ cho ảo tưởng là sự thật. Họ xa rời thực hành của đại đa số nhân dân. Họ không thiết thực. Họ hành động một cách liều mạng.
Những bệnh duy tâm, máy móc, mạo hiểm, chủ quan, v.v. đều vì tách rời điều kiện khách quan với chủ quan, tách rời lý luận với thực hành mà có. Chủ nghĩa Mác - Lênin kiên quyết chống những sai lầm ấy.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhận rằng: trong cả tổng quá trình phát triển tuyệt đối của toàn thể vũ trụ thì những quá trình phát triển cụ thể chỉ là tương đối. Do đó, những sự hiểu biết của người ta trong từng giai đoạn nhất định chỉ là những sự thật tương đối trong cái sự thật tuyệt đối to lớn. Vô số sự thật tương đối họp lại thành sự thật tuyệt đối.
Sự phát triển của quá trình khách quan chứa đầy mâu thuẫn và đấu tranh. Sự phát triển của hiểu biết cũng đầy mâu thuẫn và đấu tranh. Công việc xã hội phát sinh, phát triển và tiêu diệt là vô cùng. Sự hiểu biết phát sinh, phát triển cũng là vô cùng. Cứ tiến lên mãi, thì sự hiểu biết cũng sâu sắc thêm mãi. Sự biến đổi trong thế giới không bao giờ hết, cho nên sự hiểu biết trong thực hành cũng không bao giờ hết, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn mở rộng đường hiểu biết sự thật trong thực hành, chứ không hạn chế nó.
Chủ quan và khách quan, lý luận và thực hành, biết và làm, là thống nhất.
Chúng ta chống sai lầm tả khuynh và hữu khuynh, vì nó trái với điều kiện lịch sử.
Giai cấp vô sản và Đảng của vô sản phải gánh cái trách nhiệm hiểu biết thế giới và cải tạo thế giới.
Ở Việt Nam cũng như trong thế giới, sự thực hành cải tạo thế giới đã đi đến một thời kỳ mới mẻ và lớn lao, tức là biến đổi Việt Nam và thế giới đen tối thành Việt Nam và thế giới quang vinh.
Trong cuộc đấu tranh để cải tạo Việt Nam và thế giới, giai cấp vô sản và nhân dân cách mạng phải cải tạo thế giới khách quan, đồng thời phải cải tạo thế giới chủ quan của mình, cải tạo tư tưởng, tình hình và sự hiểu biết của mình. Cải tạo mối quan hệ giữa thế giới chủ quan và thế giới khách quan.
Một phần sáu địa cầu đã thực hành cải tạo như thế. Đó là Liên Xô. Liên Xô đang đẩy mạnh quá trình cải tạo ấy. Nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới cũng đang đi vào con đường cải tạo ấy, hoặc ít hoặc nhiều.
Trong thế giới khách quan đang được cải tạo, có cả những người chống lại việc cải tạo ấy. Họ phải trải qua giai đoạn bị bắt buộc, sau họ mới tiến đến giai đoạn tự giác. Đến lúc mọi người đều tự giác cải tạo mình và cải tạo thế giới, thì thế giới sẽ là thế giới cộng sản.
Do thực hành mà tìm ra sự thật. Lại do thực hành mà chứng thực sự thật và phát triển sự thật. Từ hiểu biết bằng cảm giác tiến lên hiểu biết bằng lý trí. Lại từ hiểu biết bằng lý trí tiến lên thực hành lãnh đạo cách mạng, cải tạo thế giới.
Thực hành, hiểu biết, lại thực hành, lại hiểu biết nữa. Cứ đi vòng như thế mãi, không bao giờ ngừng. Và nội dung của thực hành và hiểu biết lần sau cao hơn lần trước. Đó là nội dung vấn đề hiểu biết trong duy vật biện chứng.
Đó là quan điểm biết và làm thống nhất của duy vật biện chứng.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 247-257.
THƯ GỬI ĐẠI HỘI GIÁO DỤC TOÀN QUỐC
Tôi thân ái gửi lời chúc các đại biểu mạnh khoẻ và cố gắng làm việc. Sau đây là vài ý kiến để giúp phần vào việc thảo luận của các vị.
Đại hội nên kiểm thảo kỹ công tác "cải cách" về chương trình, chủ trương và cách thi hành, để tìm thấy những khuyết điểm mà sửa đổi, những ưu điểm mà phát triển thêm.
Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợp việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân.
Cán bộ giáo dục của chúng ta nói chung đều rất cố gắng, nhất là nam nữ cán bộ bình dân học vụ và tiểu học. Tôi rất vui lòng nhờ Đại hội chuyển lời khen ngợi và khuyến khích các chiến sĩ ấy.
Xin chúc Hội nghị có kết quả tốt đẹp.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 năm 1951
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 266.
LỜI KÊU GỌI NHÂN DỊP CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ NGÀY ĐỘC LẬP
Cùng đồng bào toàn quốc và kiều bào ở nước ngoài,
Cùng các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,
Năm nay, chúc mừng Ngày Độc lập, chúng ta phải nhớ ơn những chiến sĩ đã hy sinh cho cách mạng để tranh lại độc lập, đang kháng chiến anh dũng để giữ gìn độc lập.
Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ và thân ái gửi lời an ủi các thương binh, cựu binh cùng gia đình các liệt sĩ.
Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi và cảm ơn:
- Toàn thể quân đội đang anh dũng thi đua giết giặc lập công, giữ làng giữ nước;
- Đồng bào công nhân, nông dân, trí thức, tư sản, địa chủ yêu nước và tiến bộ đang thi đua tăng gia sản xuất, hăng hái kháng chiến;
- Các cán bộ chính quyền và đoàn thể không quản gian khổ thi đua làm trọn nhiệm vụ;
- Các cụ phụ lão và các cháu nhi đồng không quản tuổi già và sức yếu, đang cố gắng giúp những công việc ích nước lợi dân.
Nước ta là một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Nhân dân các nước bạn nhiệt liệt ủng hộ ta. Nhân dân nước Pháp
và nhân sĩ dân chủ thế giới cũng ủng hộ ta. Vì vậy, tôi thay mặt đồng bào, quân đội và Chính phủ tỏ lòng biết ơn.
Càng nồng nàn yêu Tổ quốc và biết ơn bạn hữu, chúng ta càng căm giận kẻ thù chung là thực dân cướp nước và bù nhìn phản nước.
Chúng ta quên sao được sự hung ác dã man của chúng!
Chúng đang tàn sát cha mẹ, vợ con, anh em ta, đốt phá mùa màng ta, triệt hạ làng mạc ta. Chúng đang gây ra biết bao tang tóc, khốn khổ cho nhân dân ta.
Chúng dùng chính sách lừa bịp, độc lập giả hiệu, để chia rẽ đồng bào ta, để dùng người Việt chống người Việt.
Chúng mưu cướp nước ta lần nữa, bắt đồng bào ta làm nô lệ lần nữa.
Đứng sau lưng thực dân và bù nhìn và làm thầy cho chúng là bọn can thiệp Mỹ.
Đối với kẻ thù không đội trời chung ấy, chúng ta phải kiên quyết kháng chiến, kháng chiến mạnh hơn nữa, mạnh hơn mãi, kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn.
So sánh tình trạng ngày bắt đầu kháng chiến với tình trạng ngày nay, mọi người đều nhận thấy rằng lực lượng ta tiến bộ rất nhiều. Chúng ta tiến bộ nhiều về mọi mặt: nội chính, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hoá.
Có tiến bộ ấy là nhờ lòng yêu nước, nhờ sự hy sinh cố gắng của toàn dân.
Chiến sĩ trước mặt trận đã có lần nhịn đói mà cố bám lấy giặc, để tiêu diệt giặc.
Đồng bào đi dân công, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên, đã hăng hái tạm gác công ăn việc làm, xông pha mưa bom gió đạn, để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc.
Toàn dân, người nghèo cũng như người giàu, đều xung phong góp của, góp công vào công cuộc kháng chiến.
Lực lượng kháng chiến phát triển rất mạnh là nhờ đồng bào ta hy sinh rất nhiều.
Nhưng thế chưa đủ. Ta nên nhớ rằng: cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ và gian khổ, và càng gần thắng lợi càng nhiều khó khăn.
Giặc Pháp cướp nước ta, bù nhìn bán nước ta gần 100 năm. Hoạ thực dân cũng như một chứng bệnh trầm trọng. Muốn chữa bệnh ấy, ta phải thật gan dạ để chịu đau đớn khi mổ xẻ, phải có đủ thời giờ để bồi dưỡng lại sức, kết quả nhất định tẩy trừ được bệnh ấy. Công cuộc kháng chiến cũng như vậy.
Chiến sĩ ta vui vẻ hy sinh xương máu, đồng bào ta vui vẻ hy sinh mồ hôi nước mắt, vì ai cũng biết đó là hy sinh cho quyền lợi tối cao của Tổ quốc, của nhân dân, hy sinh cho hạnh phúc tương lai của con cháu, giống nòi.
Để kháng chiến lâu dài, đồng thời làm cho sự đóng góp của nhân dân được công bằng, để bồi dưỡng sức lực của nhân dân, Chính phủ đã thi hành những chính sách mới.
- Thống nhất quản lý kinh tế tài chính.
- Đặt một thứ thuế duy nhất cho nông dân là thuế nông nghiệp.
- Thu thuế công nghiệp, thương nghiệp để các nhà công, thương chia một phần đóng góp với nông gia.
- Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân, và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất.
Những chính sách ấy đều nhằm vào ích lợi của nhân dân, ích lợi của kháng chiến, kiến quốc.
Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông và súng hoả mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch. Riêng ở Bắc Bộ và chỉ trong 8 tháng, từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 6 năm nay, ta đã thắng luôn mấy trận ở biên giới, ở trung du, ở sát lòng địch gần Hải Phòng và ở Ninh Bình, Phủ Lý, Hà Đông.
Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước ta, và lấy lại thống nhất và độc lập thật sự.
Nhưng tôi xin nhắc lại rằng: địch càng gần ngày bị tiêu diệt thì chúng càng liều mạng, càng hung ác, càng quỷ quyệt.
Vì vậy quân và dân ta quyết không được chủ quan, khinh địch, quyết không nên: khi không thắng thì nản, khi thắng lợi thì kiêu.
Trái lại, chúng ta phải càng thêm đề phòng cẩn thận, càng thêm kiên quyết, càng thêm chuẩn bị tinh thần và lực lượng để vượt mọi khó khăn và đối phó kịp thời với mọi hoàn cảnh. Mọi người, mọi ngành đều phải cố gắng thi đua, trước nhất là đồng bào nông gia phải thi đua làm cho mùa thắng lợi thật thắng lợi để giúp bộ đội ăn no đánh giặc. Bộ đội phải ra sức thi đua giết giặc lập công để làm cho đồng bào nông gia càng hăng hái thi đua tăng gia sản xuất.
Ăn no đánh mạnh, ta nhất định thắng.
Ta nhất định thắng vì cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa.
Ta nhất định thắng vì ta đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm nhất trí, kiên quyết kháng chiến.
Ta nhất định thắng vì dân chủ toàn thế giới ủng hộ ta.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 279-282.
CẦN TẨY SẠCH BỆNH QUAN LIÊU MỆNH LỆNH
Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ.
Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?
Nguyên nhân bệnh ấy là:
Xa nhân dân : do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.
Khinh nhân dân: cho là "dân ngu khu đen", bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.
Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.
Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.
Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.
Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân!
Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.
Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 292-293.
THƯ TRUNG THU GỬI CÁC CHÁU NHI ĐỒNG
Các cháu yêu quý,
Trung thu trăng sáng như gương,
Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng.
Sau đây Bác viết mấy dòng,
Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ nhung.
Trước hết, Bác nói cho các cháu biết rằng: Bác thường nhận được thư nhi đồng ở vùng tạm bị chiếm, mách với Bác, thực dân và bù nhìn hung ác thế nào, các cháu ấy khổ sở thế nào và đấu tranh oanh liệt thế nào.
Những thư ấy làm cho Bác đau đớn, vì các cháu ấy bị đày đoạ. Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng căm ghét bọn thực dân và bù nhìn.
Bác cũng thường nhận được thư nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua.
Những thư ấy làm cho Bác rất vui vẻ.
Mồng 1-6 vừa rồi, cũng là ngày Tết của các cháu. Đó là một ngày Tết mới, chắc các cháu chưa hiểu nguyên do. Bác giải thích cho các cháu nghe nhé:
Ba năm trước (1949), Hội liên hiệp phụ nữ quốc tế định mỗi năm lấy ngày 1-6 làm ngày Tết cho nhi đồng thế giới. Muốn cho nhi đồng sung sướng, thì phải chống đế quốc chiến tranh. Vì vậy, Hội ấy đã đưa ra khẩu hiệu: "Đấu tranh để giữ gìn hoà bình thế giới, để bảo vệ hạnh phúc cho nhi đồng".
Như thế thì ai thương con, cháu đều phải chống chiến tranh đế quốc, phải giữ gìn hoà bình.
Tháng 2 năm nay (1951), Hội ấy lại quyết định đẩy mạnh phong trào bảo vệ nhi đồng.
Hiện nay, Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên nước ta đương lo tổ chức Ủy ban bảo vệ nhi đồng Việt Nam.
Thế là các chú, các anh trong bộ đội thì thi đua giết giặc, để bảo vệ các cháu.
Các chú, các anh, các chị ở hậu phương, thì thi đua tăng gia sản xuất để các cháu được ấm no.
Các cô, các thím, các anh ở Liên Xô, Trung Hoa, các nước bạn và các nước khác cũng lo nghĩ đến các cháu.
Vậy các cháu nên thế nào?
Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.
Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.
Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.
Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.
Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.
Các cháu phải thi đua, tuỳ theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.
Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn.
Thư Trung thu này, Bác nói chữ nhiều, và nói dài quá rồi. Cháu nào không hiểu thì hỏi các anh, các chị cắt nghĩa cho mà nghe.
Bác chúc các cháu vui khoẻ và cố gắng.
Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.
BÁC HỒ
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 299-301.
BÀI NÓI CHUYỆN TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TRUNG CẤP QUÂN ĐỘI
Hôm nay Bác đến thăm, thấy các chú khoẻ mạnh, học tập có kết quả, Bác mừng. Bác nói chuyện với các chú bảy điểm:
I. CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA TA TRƯỜNG KỲ GIAN KHỔ NHƯNG NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI
1. Ngày xưa tổ tiên ta đã phải kháng chiến trường kỳ mới thắng được ngoại xâm.
Đời Trần phải kháng chiến ba lần mới đuổi được quân Nguyên. Đời Lê kháng chiến một lần nhưng phải mười năm mới đuổi được quân Minh.
Gần đây các nước bạn chúng ta cũng phải kháng chiến trường kỳ mới thắng được ngoại xâm. Liên Xô phải kháng chiến từ năm 1917 đến năm 1922 mới đuổi được bọn đế quốc ra ngoài. Xong rồi còn phải tranh đấu chống bọn Tơrốtxki. Phải có mấy kế hoạch 5 năm liền để xây dựng đất nước. Trong Đại chiến thứ hai, phải đánh nhau với phát xít Đức năm năm mới giành được thắng lợi. Trung Quốc phải kháng chiến ba mươi năm mới diệt được bọn phản động trong nước và đuổi được bọn đế quốc xâm lược bên ngoài.
Cuộc kháng chiến của ta là tiếp tục cuộc Cách mạng Tháng Tám. Cũng như cuộc kháng chiến của Liên Xô và Trung Quốc, cuộc kháng chiến của ta phải trường kỳ mới giành được thắng lợi.
2. Cuộc kháng chiến của ta hết sức gian khổ.
Địch càng thất bại lại càng hung ác. Địch như con thú dữ sắp chết sẽ lồng lên cắn xé ta hơn trước. Nên càng gần thắng lợi lại càng gian khổ.
Trên thế giới lúc này, phe phản dân chủ đang chống lại cách mạng dân chủ. Đế quốc Mỹ và Anh đang ra sức giúp thực dân Pháp. Vì vậy, chúng ta càng khó khăn gian khổ hơn. Cũng như cuộc kháng chiến của Liên Xô và Trung Quốc, cuộc kháng chiến của ta hết sức gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.
3. Cuộc kháng chiến của ta nhất định thắng lợi.
Hiện nay phe đế quốc ngày càng xuống dốc, lực lượng dân chủ ngày càng lớn mạnh. Sau Đại chiến thứ hai, Mỹ đưa bom nguyên tử ra doạ thế giới. Vừa rồi Liên Xô tuyên bố cũng có bom nguyên tử, nhưng bao giờ cũng bằng lòng huỷ bỏ bom nguyên tử và cấm dùng bom nguyên tử. Cách mạng Trung Quốc thành công làm lực lượng dân chủ mạnh hơn lực lượng đế quốc.
Từ chiến dịch Biên giới, địch thất bại nhiều trận lớn, ta thắng nhiều trận lớn. Rồi đây ta còn gặp nhiều khó khăn hơn trước nhưng nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng.
Tổ tiên ta đã thắng lợi, Liên Xô, Trung Quốc đã thắng lợi, dân chủ mới trên thế giới thắng lợi, nhất định ta sẽ thắng lợi.
Cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Các chú phải thấm nhuần và làm cho toàn thể bộ đội, đồng bào thấm nhuần như vậy. Có như thế mới tin tưởng mà vượt mọi khó khăn để giành thắng lợi cuối cùng.
II. CÁN BỘ TA CÒN KHUYẾT ĐIỂM
Từ khi bắt đầu kháng chiến đến nay, nhân dân ta tiến bộ, quân đội ta tiến bộ. Cũng do tiến bộ đó ta mới thấy lộ ra nhiều khuyết điểm. Những khuyết điểm đó là khuyết điểm trong lúc trưởng thành. Nhưng vẫn là những khuyết điểm cần sửa chữa.
Cán bộ ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mấy hôm nay các chú tự phê bình kiểm thảo đã tìm ra nhiều khuyết điểm khá lớn. Khuyết điểm nào cũng có hại. Chỉ lấy một bệnh cá nhân mà nói cũng rõ tai hại của nó.
Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra tham ô hủ hoá. Đó là chỉ biết mình, không biết đến quần chúng. Là chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở.
Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra vô kỷ luật, thiếu kiên quyết chấp hành mệnh lệnh. Do đó mà đáng lẽ thắng to thì chỉ giành được thắng nhỏ và thắng rồi không phát triển được. Quân đội ta là quân đội dân chủ, nhưng dân chủ không phải là không có mệnh lệnh. Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng và kiên quyết chấp hành, nhất là lúc tác chiến.
Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra thiếu tin tưởng, không quyết tâm khắc phục khó khăn. Mọi việc đều khó khăn. Đánh giặc lại càng khó khăn hơn. Nếu dễ thì ai làm cũng được. Không phải chờ đến các chú. Vì vậy gặp khó khăn phải cố vượt cho bằng được thì nhất định thắng lợi.
Các chú đã tự phê bình kiểm thảo thấy được khuyết điểm trên. Thấy được khuyết điểm là một bước tiến bộ. Nhưng mới chỉ là bước đầu. Thấy rồi phải lo sửa. Đang sửa thì phải sửa cho hết. Đã sửa rồi thì phải giữ mình đừng để mắc phải nữa.
III. HỌC TẬP CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN SỰ
Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự.
Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng.
Đại đa số đội viên ở nông dân mà ra. Nông dân cho ta ăn mặc, nông dân đắp đường cho ta đi, nông dân chuyên chở lương thực, súng đạn ra mặt trận cho ta giết giặc. Thế mà không biết chính sách nông dân của Đảng là quên gốc. Anh em thì ở bộ đội nhưng gia đình thì ở nông thôn. Quyền lợi gia đình của anh em, anh em phải hỏi mình, mình tịt thì cũng rầy. Vì vậy phải học chính sách nông thôn của Đảng và của Chính phủ. Ngay bây giờ phải học chủ trương về thuế nông nghiệp, không học là một khuyết điểm to.
Học tập chính cương, chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chính cương và chính sách của Đảng đối với công việc kháng chiến và kiến quốc là áp dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh của cách mạng ta.
Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng. Cho nên các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu, v.v.. Tóm lại là học để nâng cao trình độ của người chỉ huy.
IV. HỌC TẬP KINH NGHIỆM CÁCH MẠNG CỦA CÁC NƯỚC ANH EM
Cách mạng của nước ta cũng như ở Liên Xô, Trung Quốc, muốn thành công phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Cho nên phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để hiểu mà áp dụng.
Chúng ta may mắn ở gần Trung Quốc, cách mạng Trung Quốc có nhiều điểm giống cách mạng ta. Đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Mao Chủ tịch thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, đã áp dụng rất tài tình vào hoàn cảnh Trung Quốc, đã làm cho cách mạng Trung Quốc thành công vĩ đại.
Nhân dân giải phóng quân Trung Quốc được Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Chủ tịch trực tiếp xây dựng, đã đánh thắng Tưởng Giới Thạch, đuổi được đế quốc ra ngoài, đang cùng Quân đội nhân dân Triều Tiên tiêu diệt được nhiều quân của đế quốc Mỹ và bè lũ bù nhìn Lý Thừa Vãn.
Cách mạng ta phải học kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, quân đội ta phải học kinh nghiệm Nhân dân giải phóng quân Trung Quốc. Học kinh nghiệm nước bạn, quân đội bạn là đem tinh thần quốc tế hoà vào tinh thần yêu nước chân chính. Có học tập kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, quân đội Trung Quốc, mới làm cho cách mạng ta dễ thành công, mới chóng đánh thắng được giặc.
V. CÁN BỘ PHẢI THƯƠNG YÊU CHIẾN SĨ
Các chú dù là đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, hay tiểu đoàn trưởng, cũng chỉ là những người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận. Lúc ra trận, việc đặt mìn, phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm. Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khoẻ mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được.
Vì vậy, cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân như tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc.
Ngoài ra, còn phải dạy cho đội viên biết cách dân vận. Cái gì cũng phải nhờ dân. Không có dân thì không có bộ đội. Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế. Tuyên truyền phải miệng nói tay làm, phải tuỳ hoàn cảnh mà tổ chức giúp đỡ nhân dân thực sự, không phải chỉ dân vận bằng diễn thuyết. Muốn vậy cán bộ phải làm gương mẫu.
VI. ĐẠO ĐỨC CŨ VÀ ĐẠO ĐỨC MỚI
Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.
Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân.
Nói về cần, kiệm, liêm, chính của ta cho đầy đủ thì phải nói dài. Hôm nay không có thì giờ, Bác chỉ nói vắn tắt:
Nếu cả ngày các chú chỉ hùng hục làm việc của mình, không dạy cho bộ đội chăm chỉ học tập chính trị, quân sự để giết được nhiều giặc, không khuyến khích và giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, phục vụ tiền tuyến thì cũng chưa thực hiện được chữ Cần.
Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm. Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của công, thì mới thật là Kiệm.
Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi phẩm làm của riêng mới thật là Liêm.
Phải quý trọng tất cả mọi công việc và của cải của Chính phủ. Thí dụ: đi đường thấy cột dây thép đổ mà dựng lên là Chính, không dựng lên là không Chính, không chấp hành mệnh lệnh cũng là không Chính.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng. Các chú phải thực hiện đạo đức đó.
VII. PHÊ BÌNH VÀ TỰ PHÊ BÌNH PHẢI THẾ NÀO?
Mục đích phê bình và tự phê bình là để cho mình tiến bộ, quân đội và nhân dân tiến bộ, để tăng thêm tình đoàn kết giữa cán bộ với cán bộ, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa quân đội với nhân dân.
Tự phê bình phải thật thà. Tự phê bình cũng ví như người ốm yếu nói rõ chứng bệnh của mình với thầy thuốc. Nếu giấu bệnh thì thầy thuốc không biết bệnh mà cho thuốc. Cho nên có gì phải nói cho hết, giấu giếm là khuyết điểm.
Người có bệnh nói thật thà, người nghe không giúp đỡ người ta sửa chữa, lại có thành kiến cũng là sai.
Thấy mình có nhiều bệnh, sợ không sửa chữa được, sinh ra bi quan tiêu cực cũng không đúng. Mình không biết cách sửa chữa thì còn có đồng chí, có bộ đội, có nhân dân bày cách cho mà sửa chữa. Chỉ cần mình quyết tâm sửa chữa là được.
Phê bình và tự phê bình như uống thuốc xổ. Xổ rồi thì phải uống thuốc bổ. Tháo xe đạp ra chùi cho sạch bụi, lúc lắp vào phải cho dầu mỡ, xe mới chạy được. Phê bình xong phải biết cách sửa chữa. Nếu phê bình rồi mà không biết cách sửa chữa là một khuyết điểm to.
Người ta ai cũng có khuyết điểm, nhưng ai cũng có ưu điểm. Nếu không có ưu điểm, thì làm cách mạng thế nào được. Nói cái xấu phải nói cả cái tốt. Nếu chỉ chuyên nói cái xấu là lệch.
Cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Trong một năm nay ta đã tiến bộ nhiều, đã thu được nhiều thắng lợi về quân sự và chính trị. Đánh bốn chiến dịch lớn thắng lợi, phá được vòng vây ở biên giới, liên lạc được với các nước anh em, đã có đại sứ ở Trung Quốc. Thanh niên ta đi dự Hội nghị liên hoan Bá Linh. Đó là thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị. Những thắng lợi chính trị đó sẽ làm cho ta thắng lợi về quân sự to lớn hơn.
Nhưng ta còn có nhiều khuyết điểm. Ta phải học tập chính trị quân sự, phê bình và tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, trau dồi đạo đức cho chóng tiến bộ thì sẽ thu được nhiều thắng lợi hơn và sẽ làm cho cuộc kháng chiến của ta nhất định thắng lợi.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 368-369.
THƯ GỬI CÁC HỌA SĨ NHÂN DỊP TRIỂN LÃM HỘI HỌA 1951
Gửi anh chị em họa sĩ,
Biến tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo.
Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận.
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.
Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.
Để làm trọn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng. Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.
Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy. Kháng chiến tiến bộ mạnh. Quân và dân ta tiến bộ mạnh. Nghệ thuật cũng cần tiến bộ mạnh, muốn tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi, thì anh chị em nghệ thuật cần phải dùng phương pháp tự phê bình và phê bình.
Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị.
Đúng lắm. Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đúng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.
Tiền đồ dân tộc ta rất vẻ vang, tiền đồ nghệ thuật ta rất rộng rãi. Chúc anh chị em mạnh khỏe, tiến bộ, thành công.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 368-369.
Năm 1952 Năm 1952 (*)
BÀI NÓI CHUYỆN NHÂN DỊP TẾT NĂM NHÂM THÌN (1952)
Cùng đồng bào và bộ đội,
Hôm nay nhân ngày Tết, tôi vui mừng nói chuyện với đồng bào và bộ đội.
Trước hết, tôi thay mặt Chính phủ và Đoàn thể, chúc đồng bào trong nước, vùng tự do, vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, và kiều bào ở nước ngoài,
Cán bộ và chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,
Anh em thương binh, gia đình liệt sĩ, và các bà mẹ chiến sĩ,
Chúc cán bộ đoàn thể, chính quyền và chuyên môn,
Các cụ phụ lão và các vị thân sĩ,
Các chiến sĩ và anh hùng lao động,
Các cháu thanh niên và nhi đồng,
Năm mới mạnh khoẻ vui vẻ, và cố gắng thi đua về mọi mặt với tinh thần mới để tranh nhiều thắng lợi mới.
*
* *
Bây giờ, tôi nói tóm tắt tình hình thế giới gần đây cho bà con nghe.
Phe đế quốc hung hăng, nhưng nội bộ chúng rất nhiều mâu thuẫn. Thí dụ: vừa rồi, Thủ tướng Anh sang thương thuyết với Tổng thống Mỹ, kết quả chẳng có gì. Đại tướng Gioăng thay mặt đế quốc Pháp sang xin xỏ Mỹ cũng chẳng được gì.
Vì có mâu thuẫn mà Anh với Pháp phải bàn bạc và cầu cạnh Mỹ. Vì bàn bạc cầu cạnh không được gì, cho nên mâu thuẫn càng sâu sắc thêm. Tuy vậy, để xâm lược nước khác và chuẩn bị chiến tranh thế giới, chúng vẫn hùa theo đế quốc Mỹ.
Vì thất bại ở Triều Tiên mà uy tín Mỹ càng kém sút. Trong Đại hội Liên hợp quốc, đã có nhiều nước trước kia phục tùng Mỹ, mà nay đã tỏ ý không theo Mỹ. Báo chí phản động Mỹ cũng phải nhận rằng chính sách Mỹ đã thất bại. Còn Chính phủ Pháp thì liên tiếp đổ nhào. Nguyên nhân chính là vì cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam đã làm cho Pháp chết rất nhiều người, tốn mất nhiều của. Các thuộc địa Pháp ở châu Phi cũng nổi lên đòi độc lập. Nhân dân Pháp thì hăng hái chống vũ trang Tây Đức và chống chiến tranh ở Việt Nam. Do đó mà tình hình Pháp ngày càng rắc rối. Nói tóm lại, lực lượng phe đế quốc ngày càng chia rẽ và kém sút.
Lực lượng phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo ngày càng mạnh thêm. Các phái đoàn của ta đi thăm Trung Quốc và Triều Tiên, đi dự Hội nghị công đoàn, Hội nghị hoà bình thế giới và Đại hội liên hoan thanh niên, lần lượt báo cáo cho đồng bào và bộ đội biết những thành tích to lớn của Liên Xô và các nước dân chủ mới. Đây tôi chỉ nói tóm tắt rằng: báo chí phản động các nước cũng phải nhận kinh tế Liên Xô và các nước dân chủ mới năm ngoái đã tiến bộ vượt bậc.
Ở Triều Tiên, Quân đội nhân dân Triều Tiên và quân tình nguyện Trung Quốc đã đánh quỵ quân đội 18 nước do Mỹ cầm đầu. Nhân dân Trung Quốc chỉ trong 6 tháng đã do tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà quyên cho Chính phủ hơn 3 nghìn chiếc máy bay.
Các nước ở Cận Đông và Trung Đông cũng nổi lên chống đế quốc chủ nghĩa.
Toàn thế giới đã có 600 triệu chiến sĩ ký tên, quyết tâm giữ gìn hoà bình.
Nói tóm lại, lực lượng dân chủ và hoà bình ngày càng lớn mạnh. Lực lượng dân chủ hoà bình lớn mạnh tức là lực lượng ta lớn mạnh.
*
* *
Tình hình nước ta trong năm vừa qua cũng tiến bộ khá.
Về kinh tế, ta đã lập Ngân hàng quốc gia, ta đã thống nhất quản lý kinh tế tài chính, ta đã thi đua tăng gia sản xuất có kết quả tốt. Ta đã định ra và thi hành thuế nông nghiệp. Nói đến đây, tôi cần nhắc cán bộ và đồng bào phải cố gắng hoàn thành kịp thời thuế nông nghiệp, để kịp thời sắp đặt và thi hành kế hoạch kinh tế năm 1952 của ta.
Về quân sự, sau cuộc thắng trận ở Biên giới tháng 10 năm 1950, bộ đội ta liên tiếp thắng lợi trong 5 chiến dịch, và đã tiêu diệt hơn 38.000 tên địch. Những thắng lợi đó là do sự dũng cảm của bộ đội ta và do đồng bào ta hết sức ủng hộ bộ đội.
Về các mặt khác, như văn hoá xã hội, v.v., chúng ta cũng có tiến bộ. Nhưng chúng ta cần tiến bộ hơn nữa, thắng lợi hơn nữa, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công.
*
* *
Chúng ta cần làm gì để tiến bộ nữa và để thắng lợi nhiều hơn nữa.
Để đạt mục đích ấy, chúng ta phải làm những việc sau này:
1) Chúng ta đã đoàn kết, nay phải đoàn kết chặt chẽ, thật thà và rộng rãi hơn nữa. Đoàn kết toàn dân. Đoàn kết với anh em Miên, Lào. Đoàn kết với các nước bạn. Đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh đòi độc lập tự do và hoà bình.
2) Toàn thể đồng bào phải thi đua tăng gia sản xuất để đủ ăn đủ mặc, tức là mọi người, mọi gia đình, mỗi làng, mỗi huyện, mỗi tỉnh cho đến cả nước đủ ăn đủ mặc, nhân dân và bộ đội đủ ăn đủ mặc để kháng chiến lâu dài. Tăng gia sản xuất phải có kế hoạch thiết thực, từ Chính phủ trung ương đến mỗi một gia đình đều phải có kế hoạch. Kế hoạch riêng từng địa phương phải ăn khớp với kế hoạch chung của toàn quốc. Tôi khuyên đồng bào và cán bộ nghiên cứu kỹ lưỡng kế hoạch của Chính phủ, và đặt kế hoạch địa phương và gia đình cho thiết thực, để làm cho kinh tế tài chính năm nay thành công.
Tăng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm. Phải tiết kiệm sức lao động, phải tiết kiệm thì giờ, phải tiết kiệm tiền của, để tăng gia. Tiết kiệm giúp cho tăng gia và tăng gia giúp cho tiết kiệm, để đi đến kết quả tốt.
3) Bộ đội phải thi đua diệt giặc lập công. Phong trào du kích phải được đẩy mạnh lên khắp nơi. Hễ lúc nào giặc hở là ta đánh. Giặc mò ra đâu, ta đánh ở đó. Ta làm cho chúng hao mòn sứt mẻ, ta cộng thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to. Ta đánh cho chúng không kịp thở, cho đến lúc ta hoàn toàn tiêu diệt chúng.
Quân đội và nhân dân ta phải tìm đủ cách chống địch bắt lính và vận động những người lầm đường đi lính cho giặc quay về với Tổ quốc. Phải làm cho họ hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ và của nhân dân ta. Đối với đồng bào và thanh niên đang hăng hái chống giặc bắt lính, chúng ta phải ủng hộ. Đó cũng là một cách đánh phá địch.
4) Toàn thể quân đội và nhân dân ta phải phá tan âm mưu địch "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
Chúng ta phải làm trọn những nhiệm vụ nói trên. Mà muốn làm trọn nhiệm vụ (nhất là nhiệm vụ kinh tế tài chính) thì chúng ta phải chống những cái gì trở ngại ta.
- Một là chống bệnh quan liêu. Bệnh quan liêu là bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và của Đoàn thể.
- Hai là chống nạn tham ô. Tham ô là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là không tôn trọng của công. Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra.
- Ba là chống nạn lãng phí. Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và Chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô.
Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay, toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội có tội đã đành; người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội. Vì vậy bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên, toàn dân đều hăng hái tham gia, để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho những thắng lợi mới.
Những công việc nói trên sẽ có những chỉ thị rõ ràng của Chính phủ và của Đoàn thể, đây tôi chỉ tóm tắt nêu những điểm chính. Khi nhận được những chỉ thị ấy, tôi mong rằng bộ đội, đồng bào và cán bộ nghiên cứu kỹ càng, đặt kế hoạch thiết thực để thực hiện, và hứa với tôi kiên quyết thực hiện cho kỳ được. Như thế thì năm Nhâm Thìn, chúng ta nhất định tranh được nhiều thắng lợi to lớn và vẻ vang hơn nữa.
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 391-395.
__________________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
THƯ GỬI HỘI NGHỊ CÁN BỘ TÀI CHÍNH
Nhân dịp Hội nghị, tôi thân ái gửi lời chúc anh em cán bộ vui vẻ, mạnh khoẻ, và cố gắng làm việc cho Hội nghị có kết quả tốt.
Sau đây tôi giúp vài ý kiến để anh em thảo luận:
Năm ngoái, Chính phủ đã nâng cao công tác kinh tế tài chính, đã nhấn mạnh 3 điểm quan trọng là:
- Tăng thu giảm chi, thống nhất quản lý tài chính,
- Xây dựng ngân hàng và quản lý tiền tệ,
- Phát triển mậu dịch.
Công tác tài chính là then chốt, mà trọng điểm của nó là thuế nông nghiệp.
Chấn chỉnh 3 công tác ấy là để chuẩn bị điều kiện thiết thực cho kế hoạch sản xuất và tiết kiệm năm nay, tức là để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Trong Hội nghị này, các cán bộ nên thật thà kiểm thảo:
- Mọi người đã nắm vững chính sách và phương châm của Chính phủ chưa?
- Trong khi thi hành chính sách và phương châm ấy, đã đi đúng đường lối quần chúng chưa? Cách tổ chức và lề lối làm việc đã hợp lý chưa?
Cán bộ tài chính - Nên tìm rõ những nguyên nhân vì sao chưa nắm vững và chưa thực hiện chính sách về thu và chi của Chính phủ? Trong công tác thuế nông nghiệp, những khuyết điểm gì đã ngăn cản một số địa phương thực hiện đúng mức Chính phủ đã định? Cần phải sửa chữa thế nào, để công tác thuế nông nghiệp năm nay có kết quả tốt hơn?
Cán bộ mậu dịch - Phải làm thế nào để ổn định giá cả, và để đạt mục đích: Xuất nhiều hơn nhập?
Cán bộ ngân hàng - Làm thế nào để nắm vững việc quản lý thu phát của chế độ kho bạc mới, để giúp ngành tài chính thực hiện thống nhất quản lý chi thu, để giúp ngân hàng nắm vững việc phát hành?
Cán bộ tín dụng - Phải kiểm điểm lại: Đã làm những gì và còn phải làm những gì để giúp ích nhân dân, để đẩy mạnh sản xuất?
Trong khi kiểm điểm công tác ngành mình, các cán bộ nên nhìn vào toàn bộ chính sách kinh tế tài chính của Chính phủ. Nên mạnh dạn phát biểu ý kiến, thật thà trao đổi kinh nghiệm - để kiện toàn ngành mình và phối hợp chặt chẽ với ngành khác, nhằm mục đích thực hiện đầy đủ kế hoạch sản xuất và tiết kiệm của Chính phủ năm nay.
Một điểm nữa: Cán bộ kinh tế tài chính phụ trách nhiều tiền của, mà chưa hoàn toàn thông thạo việc quản lý tiền của ấy. Cho nên chúng ta cần phải ra sức học tập quản lý tài sản quốc gia mà ngành mình phụ trách. Đồng thời phải trau dồi đạo đức cách mệnh: chí công vô tư, cần kiệm liêm chính. Một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự kháng chiến. Dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô lãng phí và bệnh quan liêu, để cùng nhau tiến bộ.
Chiến sĩ ta liên tiếp thắng giặc ngoài mặt trận. Tôi mong rằng: Các chú là chiến sĩ kinh tế tài chính ở hậu phương, cũng cố gắng thi đua sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, vượt mọi khó khăn, làm cho mặt trận kinh tế - tài chính của ta cũng thắng lợi như mặt trận quân sự.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 2 năm 1952
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 415-416.
LÒNG TIN TƯỞNG
Trong hơn 80 năm thống trị nước ta, thực dân và bù nhìn có cả một bộ máy để đàn áp cách mạng: quân đội, cảnh sát, mật thám, toà án, nhà giam, máy chém, cơ quan tuyên truyền, v.v.. Chúng như một bức tường có điện, chẳng những khó trèo qua, mà đụng đến là chết. Cách mạng thì chỉ có mấy nhóm, gồm một số ít người. Họ ăn khổ, mặc khổ, ở khổ. Xa gia đình, lìa quê quán. Nếu không may bị giặc bắt, thì bị tra tấn dã man, chết đi sống lại. Tiếp theo đó là bị tù đày hàng chục năm, hoặc bị giặc bắn, chém. Song họ vẫn trơ như đá, vững như đồng. Một người bị, thì trăm nghìn người nổi lên. Do đó, cách mạng vẫn tiến lên, tiến lên mãi. Càng gặp khó khăn nguy hiểm, càng tiến mạnh.
Đó là vì lòng tin tưởng.
Ngày bắt đầu kháng chiến, thế địch mạnh; chúng lại có phản động Anh, Mỹ, và Trung Quốc giúp sức. Lúc đó, thế ta còn yếu. Bên ngoài, Liên Xô tuy thắng lợi nhưng vết thương đầy mình (Liên Xô hy sinh mất 17 triệu người cả quân và dân) 1). Các nước dân chủ mới chưa vững. Cách mạng Trung Quốc chưa thành công. Bên trong, chính quyền ta mới thành lập, còn non nớt. Bộ đội ta mới tổ chức, thiếu thốn mọi bề. Nhân dân ta mới thoát ách nô lệ, còn thiếu kin` nghiệm, thử thách. So sánh lực lượng địch và ta lúc đó, những kẻ nhút nhát đã thốt ra: "Kháng chiến là lấy trứng chọi với đá". Nhưng nhân dân ta, quân đội ta và Chính phủ ta vẫn kiên quyết kháng chiến, mà kháng chiến ngày càng mạnh, càng thắng.
Đó là vì lòng tin tưởng.
Ngày nay, hoàn cảnh vùng tạm bị chiếm cũng khó khăn không kém hoàn cảnh trong hồi thuộc Pháp. Nhưng cán bộ vẫn bám chặt nhân dân, ra sức đấu tranh, làm trọn nhiệm vụ.
Đó là vì lòng tin tưởng.
Các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương, dân quân du kích xông pha bom đạn, ăn gió nằm sương, không sợ khổ, không sợ chết, quyết chí hy sinh để giữ gìn Tổ quốc.
Đó là vì lòng tin tưởng.
Những đồng bào đi dân công, hoặc sửa chữa đường sá, hoặc giúp đỡ vận tải, hoặc phục vụ chiến dịch, dầm mưa dãi nắng, lội suối trèo đèo, có khi ngày thì gánh nặng đi xa, đêm thì ngồi ngoài đồng ruộng dựa lưng nhau mà nghỉ. Nhưng họ không quản vất vả, không hề than phiền, sáng dậy vẫn vui vẻ làm công việc. Đồng bào nông dân tích cực tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp. Đồng bào Mán làm rẫy được Chính phủ miễn thuế, song ở nhiều nơi cũng tự nguyện xung phong đóng góp.
Đó là vì lòng tin tưởng.
Tin tưởng vào gì? Tin tưởng vào ai?
Tin tưởng vào tương lai của dân tộc.
Tin tưởng vào lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta. Tin tưởng vào lực lượng cách mạng của nhân dân thế giới. Lực lượng to lớn của nhân dân ta phải được tổ chức và lãnh đạo; Đảng và Chính phủ ta phụ trách tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta, nên ta tin tưởng vào Đảng và Chính phủ ta. Để đoàn kết và lãnh đạo nhân dân, Đảng và Chính phủ có chủ trương, chính sách đúng dựa trên lý luận đúng nhất, lý luận Mác - Lênin; nhờ đó, Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến của ta ngày một mạnh; vì vậy, ta tin tưởng vào lý luận ấy. Lý luận đó do những lão đồng chí lãnh đạo có kinh nghiệm cách mạng quốc tế và trong nước, hoạt động đấu tranh lâu ngày trong quần chúng, trải qua nhiều lần thử thách, phụ trách truyền lại cho đồng chí ta, và nhân dân ta. Vì vậy ta tin tưởng vào những lãnh tụ của ta.
Nhờ sự giáo dục của Đảng, của quần chúng, mà lòng tin tưởng của cán bộ, của nhân dân ngày càng vững, ngày càng sâu. Họ tin tưởng rằng sự cố gắng của cá nhân mình nhất định có thể góp một phần vào lực lượng chung (góp gió thành bão) để tiêu diệt quân thù, đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, giữ gìn dân chủ và hoà bình thế giới.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 420-422.
___________
1) Theo tài liệu công bố sau chiến tranh.
THƯ GỬI PHỤ NỮ NHÂN DỊP KỶ NIỆM HAI BÀ TRƯNG
VÀ NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ
Thân ái gửi chị em trong nước và chị em kiều bào ở ngoài nước,
Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến. Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là một lực lượng trong Quốc tế phụ nữ.
Nhân dịp 8-3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, như cô Nguyễn Thị Cúc và nhiều người khác. Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ.
Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng.
Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu.
Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em giúp thương binh đã hoà lẫn lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành một mối yêu thương không bờ bến, mà giúp đỡ chiến sĩ và săn sóc thương binh như con em ruột thịt của mình.
Nói chung là phụ nữ ở vùng tạm bị chiếm, nói riêng là các nữ du kích, không quản khó nhọc nguy hiểm, ra sức giúp đỡ chiến sĩ và cán bộ, hăng hái đấu tranh chống quân thù.
Hàng vạn phụ nữ Kinh, Thổ, Nùng, Mán, Mèo xung phong tham gia dân công, không quản trèo đèo lội suối, ăn gió nằm sương.
Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan hăng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém đàn ông.
Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm một phần lớn trong số người dạy cũng như trong số người học.
Nhiều chị em tiểu tư sản, trước kia quen đời sống phong lưu, nay cũng chịu khó làm lụng, tăng gia sản xuất. Đó là một sự cải tạo lớn, một tiến bộ lớn về tư tưởng và tinh thần.
Tôi rất vui lòng thấy rằng trong mọi ngành hoạt động, các cháu nữ thanh niên đều xung phong, đều có thành tích khá.
Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.
Các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn, thì phong trào phụ nữ chắc rộng hơn, mạnh hơn nữa.
Nhiệm vụ chính của phụ nữ ta ngày nay là:
- Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới.
- Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.
- Hăng hái tham gia chính quyền.
- Giúp đỡ bộ đội.
- Bảo vệ nhi đồng.
Phụ nữ trong vùng tạm bị chiếm thì ra sức chống địch bắt chồng con, anh em đi lính, phá mưu mô địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.
- Chị em kiều bào ở nước ngoài thì ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào trong nước về mọi mặt.
Chúc toàn thể phụ nữ tiến bộ và thành công nhiều.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 8 tháng 3 năm 1952
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 431-432.
BÀI NÓI TẠI BUỔI PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO SẢN XUẤT VÀ TIẾT KIỆM
Năm nay chúng ta cũng có một cuộc Hội nghị cán bộ chính quyền, nhưng năm nay Hội nghị có một ý nghĩa đặc biệt. Trước kia chúng ta đã cố gắng làm công tác sản xuất và tiết kiệm một cách có kế hoạch nhưng còn thiếu sót. Năm nay chúng ta có một kế hoạch sản xuất và tiết kiệm đầy đủ hợp lý hơn.
I- Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm
Vì ý nghĩa đặc biệt ấy nên có Quốc hội, Mặt trận, Chính phủ trung ương, có cán bộ từ Nam chí Bắc tham dự Hội nghị này. Do ý nghĩa đặc biệt ấy với sự giúp đỡ của Quốc hội, của Mặt trận, với sự cố gắng của Chính phủ, với sự thi đua thực hiện của bộ đội và nhân dân, kế hoạch sản xuất và tiết kiệm sẽ thành công.
Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương căn cứ theo kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương mình, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung.
Vì vậy từ khu đến tỉnh, huyện, cho đến xã phải làm thế nào cho kế hoạch đó thiết thực và nhất định phải làm cho kỳ được. Làm kế hoạch một cách dân chủ như vậy, chúng ta nhất định thành công.
Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm muốn thành công cần ba điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hoà, và nhân hoà là chính.
Nhân hoà gồm có 3 lực lượng:
- Đoàn thể và Chính phủ,
- Bộ đội và nhân dân,
- Cán bộ.
Kinh nghiệm đã tỏ rằng chính sách, phương châm của Chính phủ và Đoàn thể là đúng. Kinh nghiệm cũng đã tỏ rằng bộ đội và nhân dân bao giờ cũng sẵn sàng chịu đựng hy sinh, bất kỳ trong mọi việc lớn nhỏ.
Kinh nghiệm cũng tỏ rằng chúng ta có 2 hạng cán bộ:
Hạng thứ nhất là những cán bộ nắm vững chính sách, phương châm của Chính phủ và Đoàn thể, học tập kỹ càng và cố gắng làm cho đúng chính sách đó. Vì vậy họ thành công. Thành công vì cán bộ quân dân chính đã đoàn kết nhất trí, phân công rạch ròi, hợp tác chặt chẽ, đi đúng đường lối nhân dân, học hỏi nhân dân, bàn bạc mọi việc với nhân dân và cùng nhân dân quyết định.
Trái lại có hạng cán bộ không chịu khó học tập chính sách, phương châm của Chính phủ, của Đoàn thể, có khi tự tiện thay đổi châm chước chính sách và phương châm ấy. Vì quân, dân, chính không đoàn kết chặt chẽ, vì thiếu phối hợp công tác, vì không đi đúng đường lối nhân dân, không cùng nhân dân bàn bạc, quan liêu, mệnh lệnh đối với nhân dân, hoặc theo đuôi nhân dân. Hạng cán bộ này thất bại.
Vậy những cán bộ đã làm đúng thì cố gắng mà tiến tới mãi và cán bộ nào chưa làm đúng thì cố sửa chữa làm cho đúng.
II- Chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
Bây giờ Chính phủ, Đoàn thể, nhân dân, bộ đội đang ra sức thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng như đang vun trồng một rừng cây. Rừng cây thì chắc chắn nở hoa sinh quả; nhưng cũng có những con sâu mọt rút lá, cắn hoa, khoét quả. Chúng ta phải tiêu diệt các con sâu mọt ấy: Ấy là bệnh quan liêu, nạn tham ô lãng phí. Cho nên Chính phủ, Đoàn thể đề ra việc chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu và kêu gọi các cơ quan, các ngành, các địa phương tiến hành công tác này.
Nói đến tham ô, có người chỉ nghĩ đến ăn cắp của công làm của tư mà không thấy thứ tham ô gián tiếp. Thí dụ một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hàng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân.
Có người lại nói tham ô mới có tội, còn lãng phí thì không có tội. Thực ra việc khác nhau nhưng kết quả vẫn hao tổn của công, của Chính phủ, của nhân dân. Tham ô có hại; nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến: lãng phí của cải, thì giờ, lực lượng của nhân dân, của Chính phủ. Thí dụ: lãng phí trong việc huy động dân công phục vụ chiến dịch, lãng phí trong việc tiêu dùng đạn dược, vật liệu, tiền bạc, của cải. Thí dụ ở xã Đại Đồng (Liên khu IV) ăn mừng kết quả thu thuế nông nghiệp, người ta đã thịt 102 1) con bò. Ở Liên Xô lúc lập các nông trường tập thể, nhân dân phải tranh đấu chống bọn phản động giết trâu bò. Ở Trung Hoa cũng vậy. Thế mà ở ta có cán bộ bảo nhân dân giết trâu bò. Tuy đó chỉ là một nơi và giết để ăn mừng, nhưng cũng là lãng phí. Tôi rất đau lòng cho của cải của nhân dân, cho sự khờ dại của cán bộ.
Vì đâu mà có lãng phí và tham ô ?
Vì cán bộ phụ trách lãnh đạo các cấp, các ngành quan liêu không đi sát công việc, cán bộ, quần chúng nhân dân. Có thể nói bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô lãng phí nảy nở được.
Vì thế muốn chống tham ô, lãng phí, phải chống bệnh quan liêu. Nhưng tiến hành phải có chuẩn bị, có kế hoạch, có lãnh đạo, có trọng tâm. Vậy bất kỳ ngành nào, địa phương nào cũng phải giáo dục cho cán bộ, nhân dân, chiến sĩ gớm ghét nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu.
Đối với nơi nào, ngành nào mà 3 bệnh ấy đặc biệt nghiêm trọng thì Chính phủ, Đoàn thể sẽ có chỉ thị giúp nơi ấy, ngành ấy tiến công trước. Nếu tiến công lu bù thì sẽ thất bại. Công, của là của nhân dân thì nhân dân, bộ đội có quyền phê bình cán bộ nếu cán bộ làm sai. Chính quyền, Đoàn thể và các cấp chỉ huy quân đội phải cố gắng giáo dục hướng dẫn nhân dân và chiến sĩ làm việc ấy.
III- Thi đua ái quốc
Bây giờ nói đến thi đua ái quốc.
Chúng ta đã có kinh nghiệm thi đua ái quốc mấy năm. Bộ đội, nhân dân rất cố gắng và có nhiều thành tích. Năm nay việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm là nội dung của thi đua ái quốc. Muốn thành công, cán bộ cần giải thích, tuyên truyền, cổ động theo dõi rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm, thúc đẩy giúp đỡ người lạc hậu, khen thưởng người có công. Điểm ấy cán bộ các nơi còn thiếu sót nhiều.
Thí dụ việc khen thưởng, Chính phủ, Đoàn thể và chính tôi nhắc nhở luôn, nhưng các địa phương quên. Có những ông bà cụ già ngoài bảy tám mươi tuổi, những em bé 14, 15 tuổi thi đua rất đắc lực (như ở Cao Bằng tôi có đi đến nơi hỏi ra mới biết). Tôi nhắc tỉnh nào cũng có những người xuất sắc như vậy nhưng các nơi không có báo cáo. Có những gia đình 4 con ở bộ đội, cha mẹ là chiến sĩ lao động, mà địa phương không biết. Lại có những cán bộ anh hùng mà các địa phương cũng không biết. Thí dụ một cô bé 19 tuổi làm giao thông trong vùng địch bị địch bắt 4 lần, bị tra tấn dã man, sau đã thoát được và đã biên thư cho tôi, kể "mỗi khi bị tra tấn thì cháu nhất định không nói, vì nói ra thì làm hỏng việc kháng chiến; mỗi khi đau thì cháu nhớ cháu là một đảng viên".
Vì vậy, lần nữa tôi yêu cầu cán bộ địa phương phải nhớ và chú ý thúc đẩy người lạc hậu, khen thưởng người đắc lực. Xã, tỉnh, khu tuỳ thành tích mà khen thưởng, thành tích đặc biệt thì báo cáo lên Chính phủ. Chúng ta phải học kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc trong việc khen thưởng, vì khen thưởng khuyến khích rất nhiều, vì khen thưởng là tổng kết và phổ biến kinh nghiệm ra cho mọi ngành hoạt động (thí dụ có người lao động Liên Xô trồng thuốc lá được 3 lần thưởng anh hùng lao động).
Về ý nghĩa thi đua thì cán bộ chưa hiểu thật sâu rộng:
1. Các nước tư bản chủ nghĩa không có tài gì thi đua; chỉ có xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân mới thi đua được. Ta thắng bọn đế quốc ở chỗ đó.
2. Nhờ thi đua mà nhân tài càng phát triển, của cải càng dồi dào, nhân dân càng sung sướng.
Nay ta kháng chiến để xây dựng một nước dân chủ mới, chỉ có thi đua mới giúp ta tiến bộ trên con đường ấy.
Vậy từ đây về sau cán bộ phải làm cho mọi người khác hiểu ý nghĩa ấy của thi đua ái quốc.
IV- Kết luận
Tóm lại ta có hai việc phải làm và ba điều phải chống.
Hai việc phải làm là:
1. Thi đua giết giặc lập công.
2. Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
Ba điều phải chống là:
1. Nạn tham ô.
2. Nạn lãng phí.
3. Bệnh quan liêu.
Chúng ta nhất định làm được. Những cán bộ già còn nhớ thời kỳ bí mật, chúng ta không có tiền, không có nhà ở, không có cơm ăn mà còn làm cách mạng thành công. Nay chúng ta có chính quyền, có mặt trận, có bộ đội, có đoàn thể nhân dân hưởng ứng, hơn nữa, có các nước bạn giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất, thì nhất định chúng ta sẽ thành công trong hai công tác và ba điều chống nói trên.
Vì vậy, trước khi ra về, các cán bộ phải hứa với Chính phủ, với Đoàn thể, với chiến sĩ và nhân dân quyết thực hiện cho kỳ được kế hoạch sản xuất và tiết kiệm.
Kết luận: Liên Xô kiểu mẫu trước
Việt Nam bắt chước sau
Tăng gia và tiết kiệm
Ta cố gắng làm mau
Thế là:
Kháng chiến thắng lợi, dân giàu nước sang.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 434-439.
_____________
1) Theo bản đánh máy lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.
TÌNH HÌNH VÀ NHIỆM VỤ
(Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá II)
I - TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
- Phe hoà bình dân chủ mạnh hơn và sẽ thắng phe đế quốc gây chiến, song phải đấu tranh trường kỳ và gian khổ.
- Nguy cơ thế giới chiến tranh thứ ba vẫn nghiêm trọng, nhưng không nghiêm trọng hơn mấy năm trước.
- Ta ra sức kháng chiến tức là góp phần giữ gìn hoà bình thế giới.
Trong thời kỳ vừa qua, sự thật chứng tỏ rằng: phe hoà bình dân chủ do Liên Xô lãnh đạo ngày càng mạnh, phe đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu ngày càng yếu.
Chúng ta không khinh địch, không nên đánh giá quá thấp lực lượng phe đế quốc. Nhưng chúng ta phải nhận rõ chỗ yếu của chúng.
Phe đế quốc có những điểm nhất trí, như âm mưu gây chiến, như mưu đi cướp nước người ta. Nhưng nội bộ chúng thì đầy những mâu thuẫn sâu sắc:
Chúng tranh quyền đoạt lợi lẫn nhau.
Tư bản trong mỗi nước cũng mâu thuẫn với nhau, như tư bản các ngành công nghệ khác thì mâu thuẫn với tư bản độc quyền chế tạo vũ khí. Điều này rõ rệt nhất ở Mỹ.
Chúng dốc hết sức kinh tế vào kinh tế chiến tranh. Tranh thủ thuế khoá thêm nặng, nhân dân thêm khó, số người thất nghiệp thêm nhiều. Do đó mà khủng hoảng kinh tế, mâu thuẫn xã hội và chính trị thêm trầm trọng.
Ở các nước đế quốc và các nước thuộc địa, có hàng trăm triệu người chán ghét chiến tranh, ủng hộ hoà bình, đấu tranh cho hoà bình, đồng thời đấu tranh cho quyền lợi kinh tế và chính trị của họ. Đặc biệt cuộc đấu tranh vũ trang của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc xâm lược ngày càng lớn mạnh.
Đó là những mâu thuẫn, nó làm cho phe đế quốc ngày càng yếu và càng lâm vào tình trạng khủng hoảng.
Phe hoà bình, dân chủ đã mạnh, mà ngày càng thêm mạnh.
Vì nền tảng của nó là Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ mới ngày càng vững chắc, vì nó bao gồm toàn thể nhân dân yêu chuộng hoà bình và dân chủ khắp thế giới dưới sự lãnh đạo của Liên Xô.
Vì phe hoà bình dân chủ đoàn kết nhất trí.
Phe hoà bình dân chủ thắng phe đế quốc nhiều cuộc như: phe Mỹ buộc phải đàm phán ở Triều Tiên. Phe Mỹ không dám dùng bom nguyên tử ở Triều Tiên, vì Mỹ không giữ độc quyền bom nguyên tử, và vì sợ nhân dân thế giới phản đối; phe Mỹ gặp nhiều trở ngại trong việc thực hiện Hiệp ước Đại Tây Dương, vũ trang lại Tây Đức và Nhật Bản; phe Mỹ thất bại trong hội nghị Liên hợp quốc và buộc phải bàn vấn đề giảm binh bị, phải bàn hoà ước của Đức.
Phe Mỹ càng ngày càng bị cô lập.
Sự hoạt động của phe hoà bình dân chủ ngày càng mở rộng, càng tích cực: chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, như Hội nghị kinh tế ở Moscou có 500 đại biểu ở 48 nước đến dự. Nó đã lôi cuốn được cả những nhóm tư bản các nước đang bị kinh tế chiến tranh và tư bản độc quyền Mỹ uy hiếp và áp bức. Nó sẽ phá chính sách phong toả của phe Mỹ. Nó càng chứng tỏ cái thuyết "chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa có thể cùng sống với nhau" của đồng chí Xtalin là đúng. Và do đó, mặt trận hoà bình lại thêm rộng, thêm mạnh.
Hội nghị hoà bình châu Á và Thái Bình Dương sẽ thêm lực lượng mới cho phe hoà bình dân chủ thế giới.
Tuy vậy, nguy cơ chiến tranh vẫn trầm trọng, vì phe đế quốc do Mỹ cầm đầu vẫn chuẩn bị chiến tranh toàn diện: quân sự, chính trị, kinh tế, khắp phương Tây và phương Đông. Chúng bắt đầu chiến tranh vi trùng ở Triều Tiên và ở Đông Bắc Trung Quốc. Chúng vẫn lăm le đánh Liên Xô và Trung Quốc. Chúng vẫn mong dùng chiến tranh để làm chủ thế giới và để cứu chúng khỏi khủng hoảng.
Từ phương Tây đến Cận Đông, chúng có khối Bắc Đại Tây Dương với những âm mưu và kế hoạch của nó.
Ở phương Đông, chúng xâm lược Triều Tiên, ra sức biến nước Nhật thành căn cứ quân sự mạnh của chúng, chiếm đóng Đài Loan và giúp bọn Tưởng Giới Thạch, ráo riết hoạt động ở Đông Nam Á, vũ trang cho bọn phản động Thái, Phi Luật Tân, Diến Điện xâm lược Việt, Miên, Lào và Mã Lai.
Việt Nam là bộ phận trong phe hoà bình và dân chủ thế giới chống bọn đế quốc gây chiến. Cuộc kháng chiến Việt Nam và cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới đều có ảnh hưởng lẫn nhau.
- Cuộc đàm phán ở Triều Tiên sẽ ảnh hưởng đến kháng chiến Việt Nam thế nào?
Nói chung, thì nếu cuộc đàm phán ấy đi đến kết quả đình chiến, thế là phe hoà bình dân chủ thắng lợi. Phe hoà bình dân chủ thắng lợi, tức là ta thắng lợi, vì ta là một bộ phận trong phe hoà bình dân chủ thế giới.
Nhưng chúng ta cần phải hiểu rõ: vô luận cuộc kháng chiến Triều Tiên sẽ phát triển thế nào, kết quả thế nào, chúng ta vẫn phải ra sức chuẩn bị lực lượng của ta cho đầy đủ, lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động.
- Tình hình Pháp và Bắc Phi ảnh hưởng đến kháng chiến ta thế nào?
Nhân dân Pháp, nhân dân Bắc Phi và nhân dân ta sát cánh đấu tranh chống đế quốc Pháp, Mỹ. Cho nên mỗi cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp và Bắc Phi đều giúp một phần vào kháng chiến của ta. Mà mỗi một thắng lợi của ta cũng giúp sức cho cuộc đấu tranh của nhân dân Bắc Phi và Pháp.
Nhân dân Pháp cũng phải đấu tranh trường kỳ và gian khổ. Vì ngoài những khó khăn khác, nước Pháp đang bị kẹp vào trong gọng kìm thế lực Mỹ: một bên là phản động Tây Đức, một bên là phát xít Tây Ban Nha, trong nước Pháp thì đầy rẫy những căn cứ quân sự của Mỹ.
Nói tóm lại, các cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc, bất kỳ gần hay xa, to hay nhỏ, đều có quan hệ với nhau. Nhưng không thể ỷ lại nhau.
- Quan hệ giữa ta và Miên, Lào thế nào ?
Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn.
Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta.
Xét tình hình thế giới, thì chúng ta thấy rằng: phe đế quốc cũng như bầy thú dữ, càng gần đường cùng, thì chúng càng độc ác, hung hăng.
Song lực lượng đoàn kết của 800 triệu nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới khác, và của 600 triệu chiến sĩ hoà bình khắp thế giới đã ký tên đòi 5 cường quốc ký công ước hoà bình là một sức mạnh mà phe đế quốc phải dè chừng. Thời giờ càng thêm dài thì mâu thuẫn của chúng càng thêm nhiều, lực lượng của chúng càng kém sút. Đồng thời, lực lượng phe hoà bình dân chủ càng thêm mạnh.
Mặt trận hoà bình, dân chủ là Mặt trận thống nhất của tất cả nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình, đấu tranh cho hoà bình. Trước mặt, nó là phe đế quốc gây chiến, một kẻ thù hung ác dữ tợn. Cho nên phe hoà bình dân chủ nhất định sẽ thắng lợi, nhưng phải đấu tranh trường kỳ và gian khổ.
Chúng ta ra sức trường kỳ kháng chiến, tức là góp một phần thiết thực vào cuộc chống đế quốc gây chiến và gìn giữ hoà bình thế giới.
Đồng chí Xtalin dạy chúng ta: nếu nhân dân khắp nơi kiên quyết đấu tranh để gìn giữ hoà bình, thì chắc giữ vững được và củng cố được hoà bình.
Vừa rồi, đồng chí Xtalin nói: nguy cơ thế giới chiến tranh hiện nay không nghiêm trọng hơn mấy năm trước. Lời ấy lại chứng tỏ thêm rằng lực lượng hoà bình, dân chủ đã ngăn cản được bước tiến của phe đế quốc gây chiến và bảo vệ hoà bình thế giới một cách có hiệu quả.
Tuy vậy, nguy cơ chiến tranh vẫn trầm trọng và nhiệm vụ trung tâm của nhân dân thế giới là phải tỉnh táo và mạnh mẽ đấu tranh để bảo vệ hoà bình.
II - TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
- Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ, phải tự lực cánh sinh.
- So với năm ngoái, thì hiện nay thế địch yếu đi, ta mạnh lên.
- Giai đoạn cầm cự tức là giai đoạn ta chuẩn bị đầy đủ để chuyển sang tổng phản công.
Bên địch:
Ở Pháp cũng như ở Việt Nam, đế quốc Pháp đã thành tay sai của đế quốc Mỹ.
Vì theo Mỹ, mà nước Pháp gặp nhiều khó khăn về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính. Chính phủ Pháp thì trúc đổ liên tiếp như sung rụng.
Ở Việt Nam, cũng như ở Pháp, Mỹ một mặt thì giúp Pháp, một mặt thì lấn Pháp, và cần thiết càng ngày càng tích cực can thiệp vào Việt, Miên, Lào.
Mỹ nắm Pháp, dùng Pháp, giúp Pháp để duy trì cuộc chiến tranh xâm lược Việt, Miên, Lào hòng biến Việt, Miên, Lào thành căn cứ chiến lược chuẩn bị đánh Trung Quốc.
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt, Miên, Lào đã làm Pháp thiệt hại nặng nề và đương gặp nhiều khó khăn.
Từ ngày bắt đầu chiến tranh đến sau chiến dịch Hoà Bình, Pháp đã mất ngót 20 vạn binh sĩ chết, bị thương và bị bắt.
Và cho đến nay, Pháp đã hao tổn hơn 1.247.610 triệu quan.
Chết nhiều người, tốn nhiều của như thế, mà hoàn toàn không có hy vọng thắng lợi, cho nên tinh thần quân đội Pháp càng kém sút, dư luận Pháp càng xôn xao, nhân dân Pháp càng chống chiến tranh ở Việt Nam.
Thêm vào đó, lại có mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ, nhưng chẳng qua là mâu thuẫn giữa chủ và tớ.
Nói tóm lại: thế địch càng ngày càng yếu, chúng đang bị động trên chiến trường Bắc Bộ.
Tuy vậy, lực lượng địch vẫn còn mạnh, chúng cố giữ đồng bằng Bắc Bộ và tiếp tục củng cố vùng tạm bị chiếm ở Trung Bộ và Nam Bộ. Chúng vẫn còn âm mưu đánh ra vùng tự do. Địch tích cực xây dựng và lợi dụng nguỵ quyền, nguỵ quân, thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Chúng được Mỹ giúp nhiều tiền bạc và vũ khí.
Trong bè lũ bù nhìn có bọn thân Mỹ, có bọn thân Pháp, nội bộ chúng có mâu thuẫn. Nhưng vô luận mâu thuẫn giữa chúng thế nào chúng vẫn là bù nhìn, vẫn là phản nước, phản dân.
Tuy bù nhìn không có uy tín gì trong nhân dân, nhưng do chính sách xảo quyệt của đế quốc Pháp, Mỹ, lại vì trong vùng tạm bị chiếm, công tác tuyên truyền của ta chưa được phát triển, cho nên nhân dân ở những vùng đó không khỏi bị lừa bịp và chịu ảnh hưởng của chúng hoặc ít hoặc nhiều.
Vì vậy, chúng ta phải ra sức tuyên truyền chính sách của ta và vạch rõ chính sách chia rẽ của địch.
Đế quốc Pháp, Mỹ đã đạt được một phần kết quả trong kế hoạch tổ chức nguỵ quân để dùng người Việt đánh người Việt. Do đó mà chúng có thể bổ sung quân số thiếu hụt để tiếp tục chiến tranh xâm lược.
Vì vậy, cần phải thiết thực thi hành chính sách của Chính phủ đối với nguỵ quân, phải ra sức vận động nguỵ quân, ra sức làm cho chúng tan rã.
Trong nguỵ quyền, nguỵ quân có những đứa đại gian ác, song cũng có những phần tử bị ép buộc hoặc vì tinh thần lung lay mà theo giặc.
Chúng ta phải xét rõ những phần tử khác nhau đó, và dùng chính sách khác nhau mà đối phó. Đối với bọn đại gian đại ác thì phải trừng trị theo pháp luật. Đối với bọn sau, thì cho "cải tà quy chính", lập công chuộc tội.
Gần đây, vì địch gặp khó khăn, chúng phao tin đồn về đàm phán. Mục đích để đánh lừa dư luận Pháp, để Mỹ giúp thêm, và làm cho ta nảy ra tinh thần cầu an, sơ hở.
Quân và dân ta phải ghi nhớ điều này: bọn đế quốc Pháp, Mỹ sẽ bám Việt, Miên, Lào đến cùng, ta chỉ có một chính sách ra sức kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn. Thế là rõ.
Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hoà bình và ủng hộ hoà bình. Song hoà bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy, phải do kháng chiến thắng lợi mà tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng, không ngồi chờ nó đến. Chúng ta càng cố gắng, lực lượng càng to, thắng lợi ta càng lớn, thì việc thực hiện hoà bình chân chính ở Việt Nam càng chắc chắn.
Bên ta:
Hơn một năm nay, ta có tiến bộ về mọi mặt, song tiến bộ ấy chưa đủ với nhu cầu của kháng chiến, vì kháng chiến càng ngày càng gay go, càng phát triển.
Quân sự: Từ thắng lợi ở biên giới năm 1950, tình hình tiến dần có lợi cho ta. Hiện nay, ta đang ở trong giai đoạn cầm cự, giai đoạn gay go nhất của cuộc kháng chiến. Giai đoạn cầm cự tức là giai đoạn ta chuẩn bị đầy đủ để chuyển sang tổng phản công, đó là giai đoạn quyết định kết quả của cuộc kháng chiến. Cho nên, ta phải cố gắng nhiều trong giai đoạn này.
Về tổ chức, trang bị và chính trị, quân đội ta đã lớn mạnh hơn trước nhiều. Những thắng lợi trong năm 1951 và đầu năm 1952 ở trước mặt địch và sau lưng địch đã chứng tỏ điều đó. Đó là do ta cố gắng, do các nước bạn giúp đỡ, do kết quả những cuộc chỉnh huấn của ta.
Cuộc thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình đã phá tan kế hoạch Thu- Đông của địch, đã đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở Bắc Bộ, đã có tiếng vang dội trong nước và ngoài nước.
Bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng tiến bộ. Việc phối hợp với quân đội chủ lực ở các nơi, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, việc mở rộng vùng du kích, việc phá tề và vận động nguỵ binh... đều có thành tích khá.
Tuy vậy, thắng lợi trong vùng sau lưng địch ở Bắc Bộ chưa được củng cố; vùng tạm bị chiếm và vùng du kích ở miền Nam còn gặp nhiều khó khăn.
Quân đội ta đã tiến bộ nhiều, nhưng còn nhiều nhược điểm: trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn kém, nhất là trình độ chính trị chưa được nâng cao, lập trường giai cấp chưa vững, cán bộ công nông chưa được cất nhắc đúng mức.
Cho nên Đảng và Chính phủ đặt việc chỉnh quân là một công việc chính hiện nay.
Kinh tế tài chính: Trước đây, chúng ta không chú trọng đầy đủ đến công tác kinh tế, tài chính, chúng ta thiếu quyết tâm ổn định nền tài chính, kinh tế để gây cơ sở phát triển sản xuất một cách thuận lợi và để bồi dưỡng lực lượng cho nhân dân, cho kháng chiến.
Nhưng gần đây, chúng ta đã cố gắng nhiều về mặt này: một mặt tiến hành mấy công tác tài chính, ngân hàng, mậu dịch, một mặt đề ra kế hoạch sản xuất và tiết kiệm.
Công tác kinh tế tài chính cùng công tác sản xuất và tiết kiệm quan hệ khăng khít với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên cần phải ăn khớp với nhau.
Tài chính, mậu dịch, ngân hàng, làm việc thuận lợi, thì mới thúc đẩy mạnh kế hoạch sản xuất và tiết kiệm.
Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm thực hiện đầy đủ, thì sẽ giúp tài chính, mậu dịch, ngân hàng phát triển.
Năm ngoái, thu thuế nông nghiệp có kết quả khá. Nhưng trong lúc thi hành có nhiều nơi (thí dụ Liên khu IV) chưa nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, chưa đi đúng đường lối nhân dân, cho nên kết quả không đầy đủ. Năm nay, cần phải sửa chữa kịp thời những khuyết điểm đó.
Chúng ta đã bước đầu trong việc đặt nền tảng tài chính, mậu dịch, ngân hàng, nhưng cán bộ chưa nắm vững chính sách, chưa thông thạo chuyên môn, chưa chấp hành kỷ luật tài chính một cách nghiêm khắc.
Chính trị: Trải qua mấy năm kháng chiến, chúng ta đã cố gắng và tiến bộ về mặt chính trị.
Gần đây, tình hình và công tác của chúng ta có sự phát triển mới:
Đảng công khai hoạt động, Việt Minh và Liên Việt thống nhất, Ủy ban liên lạc Việt - Miên - Lào thành lập, ta có đại sứ ở Liên Xô và Trung Quốc, chính sách ruộng đất, chính sách thuế nông nghiệp, các chính sách mới về kinh tế tài chính, chính sách sản xuất và tiết kiệm đã được thi hành và ngày càng được thi hành đầy đủ hơn. Những thắng lợi to lớn trong chiến dịch Hoà Bình, cuộc đấu tranh sau lưng địch đương giữ vững và phát triển. Những việc đó làm cho quân và dân ta thêm hăng hái, làm cho uy tín của Đảng và Chính phủ thêm sâu rộng.
Phong trào thi đua ái quốc dần dần có nền nếp. Bộ đội thi đua giết giặc lập công, nhân dân thi đua tăng gia sản xuất, cán bộ thi đua sửa đổi lề lối làm việc, nói chung đều có kết quả.
Phong trào thi đua đã giúp nâng cao trình độ giác ngộ và củng cố thêm mối đoàn kết của nhân dân.
Cuộc Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc trong tháng 5 là một dịp tốt cho Đảng và Chính phủ động viên toàn quân và toàn dân thực hiện các nhiệm vụ và công tác kháng chiến.
Về chính quyền: Chúng ta có tiến bộ nhiều, nhưng vì chúng ta quan niệm chưa đúng tính chất và sự quan trọng của chính quyền nhân dân nên chưa thật sự kiện toàn chính quyền về mặt công tác, tổ chức, cán bộ.
Nền tảng mọi công tác là cấp xã, mà cấp xã nhiều mơi còn xộc xệch lắm, nhiều Ủy ban kháng chiến hành chính xã do kỳ hào cũ, hoặc địa chủ, phú nông nắm, công tác sinh hoạt Hội đồng nhân dân không đều, số cán bộ thoát ly sản xuất quá nhiều, bộ máy cồng kềnh, nhiều giấy tờ, hình thức...
Từ cấp trên xuống cấp dưới, công việc chậm trễ, nhiều khi không ăn khớp.
Chúng ta phải sửa chữa các khuyết điểm kể trên, coi trọng và thật sự kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân về các mặt công tác, tổ chức, cán bộ.
Nói đến chính trị, chúng ta phải xét thái độ của các giai cấp và tầng lớp xã hội Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến, để định phương châm, chính sách cho đúng.
Giai cấp công nhân: Trải mấy năm kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, giai cấp công nhân đã đoàn kết toàn dân, lãnh đạo toàn dân kháng chiến cứu nước. Các tầng lớp nhân dân bắt đầu nhận rằng: chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Giai cấp nông dân: Nông dân là tối đại đa số trong nhân dân nước ta, là bộ phận chủ chốt trong đội ngũ cách mạng, là giai cấp đóng góp nhiều nhất trong kháng chiến. Nông dân nói chung ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như: giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian, chia công điền, thu thuế nông nghiệp. Chính sách ấy đã đem lại lợi ích thiết thực cho quần chúng nông dân. Nhưng trong lúc thi hành, cán bộ chưa nắm vững chính sách, chưa theo đúng đường lối quần chúng, nên chưa phát huy được tính tích cực của quần chúng, chưa cải thiện đời sống nông thôn nhiều hơn, chưa biết tổ chức chặt chẽ và rộng khắp lực lượng to lớn của quần chúng nông dân.
Bần nông và cố nông là bán vô sản và vô sản trong nông thôn, là quần chúng chủ lực của cách mạng, là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân. Bần cố nông đã góp phần lớn lao nhất vào cuộc kháng chiến, sung vào bộ đội, đi dân công, đóng thuế nông nghiệp.
Trung nông chẳng những kiên quyết tham gia kháng chiến, tham gia phản đế phản phong, mà còn có thể tham gia cách mạng xã hội chủ nghĩa. Họ là đồng minh vững chắc của giai cấp công nhân. Trải qua mấy năm kháng chiến, trung nông đã đông đảo thêm và địa vị của họ ở thôn quê ngày càng quan trọng.
Phú nông cũng ở trong giai cấp nông dân, họ là tư sản trong nông thôn. Họ có thể đi với giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc và dân chủ.
Chúng ta không thể coi phú nông như địa chủ, cũng không thể coi phú nông như trung, bần, cố nông, không để họ giữ quyền lãnh đạo trong chính quyền và đoàn thể quần chúng ở nông thôn.
Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi.
Cho nên giai cấp công nhân ắt phải chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh.
Giai cấp địa chủ là giai cấp áp bức bóc lột nông dân theo lối phong kiến.
Một số đại địa chủ phản động đã theo địch, làm Việt gian bù nhìn. Chúng là kẻ thù của nhân dân, chúng phản bội Tổ quốc. Chúng ta phải đánh đổ chúng.
Một bộ phận đại địa chủ thì có thái độ lừng chừng. Chúng ta phải kéo họ về phe kháng chiến, đồng thời phải đấu tranh để họ thi hành chính sách của Đảng và Chính phủ.
Còn trung địa chủ và tiểu địa chủ thì hoặc là họ giữ thái độ trung lập, hoặc là tham gia kháng chiến. Một số trí thức xuất thân trung, tiểu địa chủ, và những thân sĩ tiến bộ thì hăng hái tham gia kháng chiến. Cho nên chúng ta đoàn kết với họ để kháng chiến.
Cũng có một số trung, tiểu địa chủ, vì trọng lợi ích riêng của họ hơn lợi ích chung của kháng chiến, của dân tộc mà có thái độ ngoan cố, như không bằng lòng chính sách giảm tô, giảm tức, thuế nông nghiệp. Đối với họ, chúng ta phải thuyết phục, phải đấu tranh để thực hiện những cải cách dân chủ.
Đối với những tầng lớp khác nhau và những phần tử khác nhau trong giai cấp địa chủ, chúng ta phải có những chính sách khác nhau.
- Giai cấp tiểu tư sản: Giai cấp này là một trong những động lực cách mạng, là bạn đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân. Nói chung thì họ thừa nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Họ hăng hái kháng chiến cứu nước.
Trải qua mấy năm kháng chiến, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn, chưa được thiết thực cải thiện.
Trong tư tưởng và hành động, họ thường lung lay. Chúng ta phải cố gắng giúp đỡ họ cải thiện đời sống, cải tạo tư tưởng, rèn luyện chí khí và giữ vững lập trường phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến.
- Giai cấp tư sản: Bọn tư sản mại bản, có quyền lợi dính liền với đế quốc Pháp, Mỹ, là bọn phản động, phản quốc. Chúng ta phải đánh đổ chúng.
Tư sản dân tộc thì ủng hộ cách mạng dân tộc và dân chủ, ủng hộ kháng chiến, tán thành chính sách của Đảng và Chính phủ (như chính sách lợi cả chủ và thợ, cả công và tư). Nhưng hoàn cảnh kháng chiến hạn chế hoạt động kinh doanh của họ. Phần nhiều, họ có thái độ "chờ thời".
Dân tộc thiểu số: Nói chung, đồng bào thiểu số rất hăng hái tham gia kháng chiến, nhờ đó chúng ta đã phá được chính sách chia rẽ dân tộc của địch. Nhưng có nơi thì một phần vì ta chưa có chính sách rõ rệt, một phần do cán bộ địa phương kém, cho nên ở đó có một số đồng bào thiểu số bị địch lợi dụng, chống lại ta.
Tôn giáo: Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến, như công giáo ở nhiều nơi, như Cao Đài kháng chiến, v.v.. Một phần thì bị địch lợi dụng như nguỵ quân Cao Đài, Hoà Hảo, công giáo ở Nam Bộ. Một số đồng bào công giáo tuy bản chất thì tốt, nhưng bị bọn cầm đầu phản động lung lạc, nên họ hoài nghi chính sách của Đảng và Chính phủ.
Đó là vì, địch dùng chính sách chia rẽ, song một phần cũng vì ta chưa có phương pháp thích hợp để vận động đồng bào tôn giáo. Đồng thời vì cán bộ ta kém, có nơi đã có những hành động lố lăng, phạm đến tín ngưỡng và quyền lợi của đồng bào tôn giáo.
Nói tóm lại, tối đại đa số nhân dân ta là tốt, yêu nước, căm thù giặc, ủng hộ kháng chiến. Nhưng vẫn còn một số vì họ đặt lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp của họ lên trên lợi ích dân tộc, hoặc vì họ bị địch lừa phỉnh, mua chuộc mà có thái độ lừng chừng, hoặc ngoan cố, thậm chí phản động.
Càng ngày địch càng dùng thủ đoạn quỷ quyệt và thâm độc hơn chia rẽ nhân dân ta, hòng phá khối đoàn kết toàn dân của ta.
Chúng ta phải thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ đối với các giai cấp, tầng lớp, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, để mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, phá âm mưu của địch: dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.
Về Mặt trận Liên - Việt: Việc thi hành chính sách Mặt trận, cũng như tổ chức và công tác Mặt trận có bề rộng nhưng kém bề sâu, kém củng cố cơ sở của Mặt trận là công nông liên minh, vẫn thiên về đoàn kết một chiều, kém đấu tranh, giúp đỡ, phê bình, giáo dục.
Các ban lãnh đạo Mặt trận sinh hoạt không đều, công tác bị động. Các cấp uỷ đối với Mặt trận thì hoặc khoán trắng, hoặc bao biện. Ta chưa phát huy hết khả năng của Mặt trận.
Khuyết điểm ấy là do chúng ta còn coi nhẹ chính sách và công tác Mặt trận. Cán bộ và đảng viên ta phải hiểu: Mặt trận mạnh thì kháng chiến càng mạnh. Mặt trận hoạt động sôi nổi thì công việc kháng chiến càng thuận lợi.
Chúng ta phải thi hành đúng chính sách Mặt trận của Đảng, giúp Mặt trận hoạt động mạnh hơn, sâu hơn, thiết thực hơn.
Về Đảng: Đảng ta có cơ sở khắp cả nước, Đảng đã thu hút những người cách mạng nhất, ưu tú nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng có chính cương, đường lối đúng. Đảng lãnh đạo toàn dân đoàn kết kháng chiến, tranh được nhiều thắng lợi. Đó là thành tích vẻ vang của Đảng ta.
Những khuyết điểm của Đảng là: giáo dục và tổ chức kém, cho nên số đảng viên đông (hơn 70 vạn) nhưng chất lượng kém.
Nhiều đảng viên và cán bộ ta rất hy sinh tận tuỵ, làm gương mẫu trong mọi việc, được quần chúng kính phục và yêu mến. Nhưng số đông cán bộ và đảng viên ta chưa được rèn luyện trong đấu tranh, chưa được cải tạo tư tưởng, lập trường giai cấp vô sản không vững, (nhất là đảng viên thành phần tiểu tư sản và đảng viên mới), cho nên đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng như:
- Không phân biệt rõ bạn và thù.
- Kém ý thức trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.
- Không nắm vững, không thi hành đúng chính sách đại đoàn kết của Đảng, khi thì quá "tả", khi thì quá hữu (thường là quá hữu).
- Kém ý thức dân chủ và kỷ luật trong Đảng. Tự phê bình và phê bình không thật thà, không rộng khắp.
- Bệnh quan liêu, hủ hoá, tham ô, lãng phí khá nặng.
Về tổ chức thì các chi bộ, nhất là các chi bộ xã, quá kềnh càng, lỏng lẻo, thành thử ít có sinh hoạt chi bộ, hoặc chỉ có hình thức.
Để phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm trên, Trung ương quyết định việc chỉnh Đảng là công tác chính phải làm ngay trong năm nay.
III - NHIỆM VỤ VÀ CÔNG TÁC TRƯỚC MẮT
Để thiết thực chuẩn bị tổng phản công, Trung ương đề ra 3 nhiệm vụ lớn. Để thi hành những nhiệm vụ đó, Trung ương đề ra 4 công tác chính cho năm nay.
Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Cho nên chỉnh Đảng là việc chính, phải đặc biệt chú trọng.
Xét tình hình thế giới và tình hình trong nước, Trung ương định ra 3 nhiệm vụ lớn và 4 công tác chính như sau:
Ba nhiệm vụ lớn:
- Tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích.
- Phá chính sách của địch: dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.
- Bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, của kháng chiến. Hai nhiệm vụ trên: Đánh địch về mặt quân sự và về mặt chính trị là để tiêu hao lực lượng địch. Tiêu hao lực lượng địch, bồi dưỡng lực lượng ta, hai việc ấy phải đi đôi với nhau. Tăng gia sản xuất và tiết kiệm là để bồi dưỡng lực lượng ta, đặng tiêu hao lực lượng địch. Tiêu hao lực lượng địch là để bồi dưỡng lực lượng ta. Cho nên 3 nhiệm vụ ấy phải cùng tiến hành với nhau.
Để hoàn thành 3 nhiệm vụ ấy, chúng ta phải làm 4 công tác chính dưới đây:
1. Thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm:
Để cho dân hăng hái và có sẵn mà đóng góp cho kháng chiến, thì phải bồi dưỡng lực lượng của dân. Muốn bồi dưỡng lực lượng của dân, thì phải động viên, tổ chức, giúp đỡ, hướng dẫn dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Phải dùng lực lượng của dân bồi dưỡng lực lượng cho dân. Phải bồi dưỡng lực lượng cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp.
Đồng thời phải giáo dục nhân dân và cán bộ tiết kiệm và chống những bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, nếu không thì một phần khá to của dân đóng góp sẽ bị tiêu hao một cách vô ích.
2. Giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh sau lưng địch:
Trong giai đoạn cầm cự, cuộc đấu tranh sau lưng địch ngày càng quan trọng. Phải vượt mọi khó khăn để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở nhân dân trong vùng du kích và vùng tạm bị chiếm. Phải bám chặt lấy nhân dân, phải tổ chức và lãnh đạo nhân dân ở những vùng ấy đấu tranh bằng mọi cách để phá chính sách của địch: dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Phải giữ vững và phát triển chiến tranh du kích, tích cực chống càn quét, ra sức củng cố và mở rộng căn cứ du kích, đẩy mạnh toàn bộ cuộc đấu tranh dẻo dai sau lưng địch.
Đó là một công tác rất quan trọng trong việc chuẩn bị chuyển sang tổng phản công.
3. Chấn chỉnh quân đội:
Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Trong việc chỉnh huấn bộ đội, phải lấy chính trị làm gốc, phải khởi đầu từ cán bộ dần dần đến toàn thể nhân viên. Phải chú trọng bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ công nông. Phải làm cho quân đội ta trở nên thật là một quân đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch.
4. Chỉnh Đảng:
Đảng phải thật mạnh, thật trong sạch để thiết thực lãnh đạo những nhiệm vụ công tác nói trên. Muốn lãnh đạo vững thì trước hết cán bộ và đảng viên phải có tư tưởng và lập trường vững chắc để lãnh đạo, để xung phong làm gương mẫu. Vì vậy, chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay.
Chỉnh Đảng phải làm từng bước, phải có trọng tâm:
- Chỉnh huấn cán bộ trước rồi mới chỉnh đốn chi bộ.
- Chỉnh đốn tư tưởng trước rồi mới chỉnh đốn tổ chức.
- Chỉnh huấn cán bộ cao cấp phải do Trung ương trực tiếp lãnh đạo vì đó là mấu chốt của việc chỉnh đốn toàn Đảng.
- Chỉnh huấn nhằm vào: nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình.
Để làm cho quảng đại quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến, để tăng thêm lực lượng của nhân dân hơn nữa và để bảo đảm kháng chiến lâu dài và chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công, chúng ta cần phải phát động quần chúng mạnh mẽ hơn nữa. Cho nên chỉnh Đảng xong, thì phải chỉnh đốn công tác quần chúng.
Trong việc chỉnh đốn này, trước hết là chỉnh đốn công tác nông vận, vì tối đại đa số nhân dân ta là nông dân và nền tảng kinh tế của ta hiện nay là nông nghiệp.
Việc chỉnh đốn tổ chức và công tác của chi bộ và của Hội nông dân cứu quốc sẽ cùng làm trong cuộc phát động quần chúng này.
*
* *
Tình hình quốc tế lợi cho ta, phe hoà bình dân chủ của ta mạnh, Đảng anh em ra sức giúp ta. Nhân dân và bộ đội ta hăng hái. Cán bộ và đảng viên ta cố gắng. Đường lối của Đảng ta đúng. Chúng ta có đủ những điều kiện thắng lợi, vậy cán bộ và đảng viên ta phải có tư tưởng đúng, lập trường vững, quyết tâm nắm chắc và hoàn thành 3 nhiệm vụ và 4 công tác chính. Như thế là chúng ta làm đúng đường lối trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, thiết thực chuẩn bị tổng phản công để giành thắng lợi cuối cùng.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 449-466.
BÀI NÓI TẠI ĐẠI HỘI CÁC CHIẾN SĨ THI ĐUA VÀ CÁN BỘ GƯƠNG MẪU TOÀN QUỐC
MỤC ĐÍCH THI ĐUA
Do thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà Liên Xô đang xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Do thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà các nước dân chủ nhân dân Đông Âu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa dân chủ mới.
Nhân dân ta thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm để cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của quân và dân, cung cấp đầy đủ cho kháng chiến, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Quân đội ta thi đua diệt giặc lập công để tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công, để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, hoàn thành dân chủ mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
TÌNH HÌNH THI ĐUA MẤY NĂM VỪA QUA
Thi đua khởi đầu từ 1948.
- Bộ đội: Thi đua khá, đều khắp, nhất là sau những cuộc chỉnh huấn. Kết quả rõ trong những trận thắng lợi liên tiếp trước mặt và sau lưng địch.
- Công nghệ: Tinh thần, kỷ luật, tổ chức khá, sáng kiến nhiều, năng suất cao. Nhưng không đều, thiếu thường xuyên, liên tiếp. Ngành vận tải tiến chậm. Các xưởng tư thi đua kém.
- Nông nghiệp : Thi đua trong vụ mùa thắng lợi khá. Đã biết thi đua từng đợt, làm tập thể. Một vài nơi đã biết đặt kế hoạch từng gia đình, từng thôn xóm. Nhưng chưa đều, chưa khắp, thiếu liên tiếp.
- Lao động trí óc: Cán bộ chuyên môn thi đua khá. Nhưng còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Thi đua diệt giặc dốt khá. Nhưng nói chung thì ngành văn hoá giáo dục tiến chậm.
- Các cơ quan: Có chương trình, phương hướng, cố gắng. Nhưng chưa đều, chưa có nề nếp, thiếu liên tiếp.
- Thanh niên: Đã xung phong trong bộ đội, dân công và công nghệ (thí dụ những đội thanh niên xung phong lao động). Nhưng ở nông thôn, thanh niên chưa làm nổi bật vai trò xung phong.
- Về mặt lãnh đạo: Quân đội, công đoàn, nông hội khá. Nhưng còn phải cố gắng nhiều nữa. Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên chưa đi thật sát với quần chúng.
Nói tóm lại: Thi đua các ngành đều có tiến bộ hoặc ít hoặc nhiều. Nhưng ngoài bộ đội, thì khuyết điểm chung là thiếu liên tiếp, rộng khắp và chưa biết gắn liền với học tập chính trị.
Từ nay, phải phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm. Những ngành thi đua đã khá thì phải cố gắng thêm. Những ngành còn kém thì phải cố gắng theo cho kịp phong trào.
NỘI DUNG THI ĐUA
Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì:
- Tăng năng suất: làm mau, làm tốt, làm nhiều.
- Ra sức tiết kiệm: nguyên liệu, vật liệu, sức lao động, thì giờ.
Tiết kiệm để giúp tăng gia. Tăng gia để thực hiện tiết kiệm. Một thí dụ: Nguyễn Đăng Đại làm giây mìn, một tháng tiết kiệm được 50 lít xăng, 14 kilô cánh kiến, 140 thước vải, một số nhân công, mà năng suất vẫn cao hơn, chất lượng vẫn tốt hơn trước.
Thi đua diệt giặc lập công thì:
- Luyện tập giỏi,
- Diệt nhiều địch,
- Khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh, làm tròn nhiệm vụ.
Có người tưởng lầm bộ đội chỉ có nhiệm vụ diệt giặc lập công, không trực tiếp tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Nói thế không đúng. Bộ đội đánh thắng trận, quý trọng chiến lợi phẩm, thế là tăng gia sản xuất. Bộ đội quý trọng của công, quý trọng quân trang quân dụng, thế là tiết kiệm. Còn bộ đội ở hậu phương, các ngành quân nhu, quân giới, quân y, vận tải, v.v., càng phải thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Trong việc sử dụng dân công, càng phải tiết kiệm để đồng bào hậu phương đủ lực lượng và ngày giờ đặng thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
CÁCH THI ĐUA
- Trong bộ đội thì phát huy quân sự dân chủ.
- Các ngành thì nâng cao kỹ thuật.
- Gom góp sáng kiến. Rút kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm.
Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi. Đầu thì lan khắp một đơn vị, một nhà máy, một làng, v.v.. Dần dần lan khắp cả quân đội, cả ngành công nghệ, cả nước. Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc.
Việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm là phận sự của quân đội, cả đoàn thanh niên, công đoàn và nông hội. Chính quyền cũng phải săn sóc giúp đỡ việc này.
Các báo chí và văn nghệ: phải điều tra tuyên truyền, khen ngợi những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm trong việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm. Đó là một nhiệm vụ vẻ vang của báo chí và văn nghệ thiết thực góp phần vào phong trào thi đua ái quốc.
MỨC THI ĐUA
Mức thi đua phải tiến dần dần và tiến mãi mãi.
Những người và những nhóm hiện nay đã đạt được mức cao, thì phải làm cho chất lượng tốt hơn nữa và phải gắng tiến lên nữa. Giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo cho kịp mức cao hiện nay.
Trí khôn, sáng kiến, học hỏi, tiến bộ và tinh thần hy sinh của người ta không có hạn, nó cứ tiến mãi. Cho nên mức thi đua cũng không có hạn, nó cũng tiến lên mãi.
Ai thi đua với ai ? Thi đua giữa người này với người khác, đơn vị này với đơn vị khác, điều đó ai cũng hiểu. Một điều nên nhắc là: ngành này có thể và nên thi đua với những ngành khác. Thí dụ: một đơn vị nông thôn có thể thi đua với một đơn vị bộ đội và một đơn vị công nghệ. Xã A và nhà máy B ký giao ước với bộ đội C, sẽ tăng gia và tiết kiệm bao nhiêu. Bộ đội C ký giao ước diệt nhiều giặc, cướp nhiều súng. Thế là công nông binh thi đua với nhau, cùng nhau tiến bộ.
Ý NGHĨA THI ĐUA
- Thi đua là đoàn kết: Trong phong trào thi đua, chúng ta thấy đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường, v.v., đủ các tín ngưỡng, lương có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sĩ, đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào một mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công.
Trước kia anh em trí thức thì xa lao động chân tay. Công nông binh thì ai chỉ lo việc ấy. Giữa các hạng người, các tầng lớp, cảm tình chưa được thân mật. Nay phong trào thi đua đã làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân. Thí dụ: muốn bộ đội đủ ăn mặc, đủ vũ khí, đánh mạnh, thắng nhiều, thì trí thức thi đua phát minh sáng chế, nông dân thi đua làm nhiều lúa nhiều bông, công nhân thi đua sản xuất nhiều súng đạn. Trong lúc thi đua diệt giặc lập công, thì bộ đội luôn luôn nhớ đến đồng bào và khuyến khích lẫn nhau: diệt sạch giặc đi, để đồng bào được làm ăn yên ổn.
Thế là thi đua tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ.
Tôi muốn nhắc vài chuyện nho nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to: Bà cụ Năm (Cao Bằng), 83 tuổi, xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ, thì bà cụ nói: "Càng già càng phải giúp kháng chiến. Sửa đường để bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận ...". Cháu Nguyễn Thị Giao Tiên (ngành quân dược) khuyến khích chị em: "Chúng ta phải thi đua chuẩn bị thuốc men cho mau và cho cẩn thận, để anh em bộ đội yên tâm đánh giặc ...". Đó là những lời mộc mạc do lòng tương thân tương ái, do tinh thần đoàn kết từ đáy lòng thốt ra. Đó là những đoạn văn chương mới mẻ và tươi sáng do phong trào thi đua và cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta nảy nở ra.
- Thi đua là yêu nước: Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực. Các chiến sĩ thi đua đều tăng năng suất từ gấp rưỡi trở lên. Nếu ta cứ tính đổ đồng mỗi chiến sĩ đều tăng năng suất gấp đôi, nếu tất cả những người lao động nước ta - bộ đội, công, nông, lao động trí óc - đều thi đua và đều tăng năng suất gấp đôi, thì kết quả sẽ thế nào ?
Kết quả là lực lượng của ta về mọi mặt đều tăng gấp đôi. Ta sẽ diệt giặc gấp đôi, thắng lợi gấp đôi. Kết quả là kháng chiến sẽ thắng lợi gấp đôi, kiến quốc sẽ thành công gấp đôi. Kết quả là dân giàu nước mạnh.
Cho nên chúng ta nói: thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất.
- Thi đua là tinh thần quốc tế: Nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác cho chúng ta nhiều kinh nghiệm thi đua. Chúng ta học nhiều kinh nghiệm thi đua ở các nước bạn, và ta sẽ cố gắng thi đua với các nước bạn để cùng các nước bạn tiến bộ. Đó là tinh thần quốc tế.
Nhân dân và báo chí các nước bạn vui mừng khi họ nghe những thành tích của phong trào thi đua của ta. Cũng như ta vui mừng khi nghe những thắng lợi trong phong trào thi đua của các nước bạn. Đó là tinh thần quốc tế.
Tinh thần quốc tế chân chính ấy tỏ rõ trong những lời nói và việc làm của các chiến sĩ thi đua. Một thí dụ: Một nhóm chiến sĩ trồng bông Trung Quốc đến thăm các chiến sĩ thợ dệt ở một nhà máy vải, rồi họ vui vẻ nói: "Chúng tôi ra sức thi đua trồng cho nhiều bông, các đồng chí thi đua dệt cho nhiều vải. Rồi chúng ta tha hồ cung cấp cho đồng bào Trung Quốc, và tha hồ giúp cho anh em Triều Tiên và Việt Nam tự lực cánh sinh".
Lại như trong số chiến sĩ thi đua của ta, có những chiến sĩ Hoa kiều. Như đồng chí Voòng Dùng Hính là một lão chiến sĩ gương mẫu, luôn luôn hăng hái thi đua; hăng hái ủng hộ kháng chiến. Đó là tinh thần quốc tế.
Thi đua chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta, mà lại làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới.
- Thi đua là góp sức giữ gìn hoà bình và dân chủ thế giới. Ở các nước đế quốc, không bao giờ có và không thể có phong trào thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Vì nhân dân lao động các nước ấy không dại gì mà làm lợi cho những giai cấp bóc lột họ, áp bức họ. Không thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà các nước ấy đã có hàng triệu người bị thất nghiệp. Một nước tự xưng giàu có nhất thế giới như Mỹ, đã có hơn 12 triệu công nhân thất nghiệp. Nếu thi đua thì nhân dân lao động ở các nước ấy sẽ thất nghiệp nhiều hơn nữa.
- Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm chỉ có ở Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và các nước dân chủ mới khác. Thi đua diệt giặc lập công chỉ có trong các quân đội cách mạng. Vì ở nước ta và các nước bạn ta, vì trong quân đội cách mạng, nhân dân và quân đội thi đua là lợi ích cho mình, cho cả dân tộc mình. Do thi đua mà phe hoà bình và dân chủ kinh tế ngày càng thịnh vượng, lực lượng ngày càng to lớn, làm cho phe đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu phải nhụt lại.
Quân và dân ta thi đua để đẩy mạnh kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Ta tiêu diệt lực lượng đế quốc Pháp và Mỹ, tức là ta thiết thực góp phần vào công cuộc giữ gìn hoà bình và dân chủ thế giới. Đó chính là tinh thần quốc tế của thi đua.
- Thi đua cải tạo con người : Lao động sáng tạo xã hội. Thi đua thì cải tạo con người.
Ngoài những ý nghĩa nói ở trên, càng hăng hái thi đua thì người chiến sĩ càng phải ra sức tìm tòi, học hỏi, cầu tiến bộ. Do sáng kiến và kinh nghiệm trong thi đua mà lao động chân tay nâng cao trình độ kỹ thuật của mình. Do thi đua mà lao động trí óc gần gũi, giúp đỡ, cộng tác và học hỏi những người lao động chân tay, và trở nên những người trí thức hoàn toàn. Thế là phong trào thi đua đã làm cho công nông binh trí thức hoá, và trí thức thì lao động hoá.
Những chiến sĩ thi đua ắt phải là những người giàu tinh thần trách nhiệm. Thường có những người hay kể công lao, hay mặc cả với kháng chiến, với dân tộc. Họ hay suy nghĩ: "Ta đã làm được việc này việc nọ, nhưng kháng chiến và dân tộc đã bù đắp cho ta thế nào ?". Chiến sĩ thi đua thì không kể công, không mặc cả với kháng chiến, với dân tộc. Họ luôn luôn tự hỏi: "Ta đã tăng năng suất được bao nhiêu, đã làm lợi cho kháng chiến, cho dân tộc như thế nào?". Chiến sĩ thi đua lại có tinh thần vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Cho nên có thể nói: chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính, là những người tôi trung của nhân dân, con hiếu của Tổ quốc.
Để phát triển phong trào thi đua, chúng ta phải chống bệnh quan liêu, chống nạn tham ô, lãng phí. Vì bệnh quan liêu sẽ ngăn trở phong trào thi đua, làm nó chậm tiến, và nạn tham ô, lãng phí sẽ làm giảm bớt những kết quả của phong trào thi đua.
KẾT LUẬN
Phong trào thi đua là một trong những thắng lợi lớn của nhân dân ta trong mấy năm kháng chiến này. Nó sẽ làm đà cho những thắng lợi to hơn nữa, vẻ vang hơn nữa về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v..
Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ, của Mặt trận và các đoàn thể trong Mặt trận là phải đẩy mạnh phong trào thi đua lên cao hơn nữa và rộng khắp hơn nữa. Hiện nay, ta mới có hàng vạn chiến sĩ thi đua, từ nay chúng ta phải có hàng triệu chiến sĩ thi đua.
Nhiệm vụ của các chiến sĩ thi đua là phải cố gắng mãi, tiến bộ mãi. Phải khiêm tốn và gần gũi quần chúng, phải làm gương mẫu cho quần chúng. Phải học tập chính trị, phải gắn liền tinh thần thi đua với tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế. Tuyệt đối chớ tự kiêu tự mãn, chớ xa rời quần chúng. Phải luôn luôn nhớ rằng: thành tích là thành tích tập thể, anh hùng là anh hùng tập thể, chứ không phải là thành tích và anh hùng cá nhân. Đó là vinh dự chung của dân tộc, chứ không phải là vinh dự riêng của cá nhân.
Năm nay, Chính phủ và đoàn thể đã đặt kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm, về quân sự thì có kế hoạch chỉnh huấn và tác chiến.
Chính phủ, đoàn thể, toàn thể quân và dân ta, nhất là các chiến sĩ thi đua, phải quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để thực hiện cho bằng được kế hoạch ấy. Chúng ta phải cố gắng để trong Đại hội chiến sĩ năm sau, chúng ta sẽ có những thành tích to lớn và vẻ vang hơn nữa và nhiều anh hùng chiến đấu, nhiều anh hùng lao động hơn nữa. Thế là:
Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 469-476.
BÀI NÓI TẠI LỚP CHỈNH HUẤN ĐẦU TIÊN CỦA TRUNG ƯƠNG
Các đồng chí,
Tôi thay mặt Trung ương thân ái hoan nghênh các đồng chí về nghiên cứu học tập tại lớp chỉnh huấn đầu tiên này.
Lớp chỉnh huấn này mở đầu cho cuộc chỉnh Đảng.
VÌ SAO TA PHẢI CHỈNH ĐẢNG?
Đảng ta đã lãnh đạo giai cấp và nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, giải phóng dân ta khỏi ách thực dân và chế độ quân chủ, xây dựng chính quyền nhân dân.
Ngày nay nhiệm vụ của Đảng ta là đoàn kết và lãnh đạo giai cấp cùng nhân dân kháng chiến kiến quốc. Đó là một nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang, chỉ có Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - làm được.
Đảng ta có chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất. Có đường lối và chính sách đúng nhất. Có cơ sở khắp cả nước. Có những cán bộ và đảng viên tận tuỵ hy sinh vô cùng oanh liệt.
Nhưng vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hoá khá nặng, v.v..
Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu.
Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm trọn nhiệm vụ của Đảng.
Mục đích chỉnh Đảng là nâng cao tư tưởng và trình độ chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản.
Nếu chúng ta chỉnh Đảng thành công thì nó sẽ khuếch trương những thắng lợi về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v..
Do chỉnh Đảng mà Đảng rèn luyện chỉnh đốn và tăng cường đội ngũ của mình, để giữ vững trường kỳ kháng chiến đến thành công. Đó là ý nghĩa của việc chỉnh Đảng.
Chỉnh Đảng phải có trọng tâm: chỉnh đốn tư tưởng rồi mới chỉnh đốn tổ chức. Chỉnh huấn cán bộ rồi mới chỉnh huấn toàn thể đảng viên.
Vì vậy nhiệm vụ của các đồng chí dự lớp chỉnh huấn đầu tiên này là: thành khẩn học tập, thật thà tự phê bình và phê bình, hấp thụ thêm kinh nghiệm và đạo đức cách mạng. Sau khi chỉnh huấn xong thì thi đua giúp Trung ương chỉnh huấn toàn Đảng, toàn quân và chỉnh đốn công tác quần chúng.
Cán bộ quyết định mọi việc. Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí.
Trung ương rất mong rằng trong cuộc chỉnh huấn này, các đồng chí cố gắng thi đua học tập rèn luyện để trở nên những cán bộ gương mẫu, xứng đáng với lòng trông mong tin cậy của Đảng, của Chính phủ, của quân đội và của nhân dân, trở nên những chiến sĩ đắc lực nhất trong sự nghiệp xây dựng Đảng và giúp Đảng đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.
Chúng ta là những người cách mạng, chúng ta có quyết tâm, chúng ta lại có các Đảng bạn giúp đỡ, khó khăn mấy chúng ta cũng quyết tâm làm cho kỳ được. Mong các đồng chí cố gắng và thành công.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 479-481.
THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ,CHỐNG BỆNH QUAN LIÊU 1)
Các đồng chí,
Chương trình công tác của Chính phủ, của Đoàn thể ta năm nay vẫn gồm trong tám chữ "Trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh".
Để thực hiện đúng chương trình đó, Chính phủ và Đoàn thể nêu ra mấy điểm chính, là:
- Thi đua giết giặc, thi đua tăng gia, thi đua tiết kiệm, và
- Chống nạn tham ô,
- Chống nạn lãng phí,
- Chống bệnh quan liêu.
Về phong trào Thi đua giết giặc lập công, Bộ Tổng tư lệnh có kế hoạch đầy đủ đưa xuống tận các cán bộ và các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích để mọi người học tập, thấm nhuần và thực hiện.
Về phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thì Chính phủ có kế hoạch chung đầy đủ. Các ngành, các địa phương và mọi gia đình dựa theo đó mà đặt kế hoạch riêng cho thiết thực, cho ăn khớp với nhau, để thực hiện cho kỳ được.
Các đồng chí phụ trách sẽ nói chuyện rõ ràng về hai việc ấy.
Đây tôi chỉ nói về vấn đề thi đua tiết kiệm, và chống nạn tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu.
I - TIẾT KIỆM
Trước hết, chúng ta hãy đặt mấy câu hỏi:
- Tiết kiệm là gì?
- Vì sao phải tiết kiệm?
- Tiết kiệm những gì?
- Ai cần phải tiết kiệm?
1. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là "xem đồng tiền to bằng cái nống" 2), gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực.
2. Trong 80 năm, nước ta bị đế quốc Pháp rồi đến đế quốc Nhật vơ vét hết, vì vậy mà kinh tế của ta nghèo nàn, lạc hậu.
Nay chúng ta cần phải có một nền kinh tế khá, để kháng chiến và kiến quốc. Muốn xây dựng kinh tế, thì phải có tiền của để làm vốn. Muốn có vốn, thì các nước tư bản dùng 3 cách: vay mượn nước ngoài, ăn cướp của các thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân.
Những cách đó chúng ta đều không thể làm được.
Chúng ta chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta.
3. Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động. Thí dụ: việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được.
Chúng ta phải tiết kiệm thời giờ. Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày.
Chúng ta phải tiết kiệm tiền của. Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn 2 vạn đồng. Nay vì tiết kiệm được sức người và thời giờ, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn 1 vạn là đủ.
Nói tóm lại: chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để 1 người có thể làm việc như 2 người, 1 ngày có thể làm việc của 2 ngày, 1 đồng có thể dùng bằng 2 đồng.
4. Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp.
Có người nói: bộ đội chỉ lo thi đua giết giặc lập công, bộ đội không phải là cơ quan sản xuất, thì tiết kiệm thế nào?
Trong quân đội có quân nhu, quân giới, vận tải, v.v. là những cơ quan cần phải tiết kiệm đã đành. Các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và cũng có thể tiết kiệm. Thí dụ:
Trước kia tính đổ đồng mỗi chiến sĩ bắn 50 viên đạn mới hạ 1 tên địch. Nay vì tập luyện siêng năng, bắn khá, tính đổ đồng mỗi chiến sĩ chỉ bắn 10 viên đạn thì hạ được 1 tên địch. Thế là chiến sĩ tiết kiệm được 80 % đạn. Do đó mà quân giới tiết kiệm được nguyên liệu và nhân công đúc đạn, để chế tạo những vũ khí khác. Trước kia Cục vận tải phải chở 100 xe đạn, nay chỉ cần chở 20 xe, tiết kiệm được xe cộ và dầu mỡ. Xe chạy ít, thì đường sá phải chữa ít, thế là tiết kiệm được dân công, v.v..
Trong các chiến dịch thu được nhiều chiến lợi phẩm (thuốc, đạn, lương thực, súng ống, v.v.), bộ đội biết quý trọng nó, tiết kiệm nó để dùng nó mà đánh giặc. Như thế cũng là tăng gia sản xuất.
Có người nói: các cơ quan (thí dụ cơ quan tư pháp) ngoài việc tăng gia để tự túc, thì có gì mà tiết kiệm?
Cơ quan nào cũng cần và cũng có thể tiết kiệm. Một thí dụ: cơ quan nào cũng dùng phong bì, nếu mỗi cơ quan đều tiết kiệm, một chiếc phong bì dùng 2, 3 lần, thì mỗi năm Chính phủ có thể tiết kiệm được hàng chục tấn giấy.
Nếu cán bộ tư pháp nâng cao năng suất, làm việc mau chóng, thì sẽ giúp cho những đồng bào có việc đến tư pháp tiết kiệm được ngày giờ, để tăng gia sản xuất.
Nó tóm lại: Ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm.
5. Kết quả của tiết kiệm
Những thí dụ trên chứng tỏ rằng, nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội mà lực lượng của ta về mọi mặt cũng tăng gấp bội.
Đó là một sự thực chắc chắn, chứ không phải lý luận cao xa. Kinh nghiệm của các nước bạn đã tỏ rõ như vậy.
Ở Liên Xô, do tiết kiệm mà tiền vốn để vào kế hoạch 5 năm (1946-1950) tăng thêm 26 tỷ rúp, tức là 1/3 số tiền vốn. Vài thí dụ nhỏ: một xưởng may áo ở Mạc Tư Khoa năm 1948 đã tiết kiệm được hơn 34.000 thước vải, đủ may 2 vạn chiếc áo lót.
Do nâng cao năng suất mà tiết kiệm được nhiều thời giờ: trước kia đóng một chiếc máy bay to, phải 20.000 tiếng đồng hồ, nay chỉ cần 12.500 giờ; đóng một chiếc xe tăng to, trước kia phải 8.000 giờ, nay chỉ cần 3.700 giờ.
Ở Trung Quốc, năm 1951 nhân dân khu Đông Bắc do tăng năng suất và tiết kiệm mà đã thêm được 14 triệu tấn lương thực.
Khu Tây Bắc do tiết kiệm mà tăng thêm được một triệu tấn lương thực, 60 vạn tạ bông, 35 vạn con trâu bò, v.v., các khu khác cũng vậy.
Tiết kiệm thời giờ đi đôi với tăng năng suất. Trước kia một người thợ dệt vải đi lại hơn 5.200 bước trong hai tiếng đồng hồ. Nay các nhà máy dệt phổ biến cách Xích Kiến Tú chỉ phải đi lại 2.300 bước. Như vậy người thợ đã bớt mệt nhọc mà năng suất lại tăng thêm: Xích Kiến Tú là một cô thợ dệt 17 tuổi, đã tìm ra cách hợp lý ấy.
Nhân dân Liên Xô vừa thi đua tăng gia sản xuất, vừa thi đua tiết kiệm, cho nên trong 5 năm sau Thế giới chiến tranh thứ hai, kinh tế Liên Xô đã phát triển vượt bậc. Trong lúc ở các nước tư bản, giá sinh hoạt ngày càng đắt đỏ, nhân dân ngày càng túng thiếu, thì ở Liên Xô giá hàng hoá đã giảm bốn lần, nhân dân ngày càng sung sướng.
Cách mạng Trung Quốc thắng lợi mới vài năm nay, cũng nhờ tăng gia sản xuất và tiết kiệm, mà kinh tế tiến bộ, tài chính thống nhất, giá cả ổn định, đời sống nhân dân cải thiện rất mau.
Nước ta đang kháng chiến, điều kiện khó khăn hơn. Nhưng chúng ta quyết tâm tăng gia và tiết kiệm, thì nhất định tăng gia được và tiết kiệm được.
II - PHẢI TẨY SẠCH NẠN THAM Ô, LÃNG PHÍ VÀ BỆNH QUAN LIÊU
Muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi.
Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không, thì nó sẽ làm hại đến công việc của ta.
Tham nhũng là gì?
- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công làm của tư
Đục khoét của nhân dân
Ăn bớt của bộ đội.
Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô.
- Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế.
Lãng phí là gì?
Lãng phí có nhiều cách:
- Lãng phí sức lao động: Vì kém tinh thần phụ trách, vì tổ chức sắp xếp vụng, việc gì ít người cũng làm được mà vẫn dùng nhiều người. Trong quân đội, các cơ quan, các xí nghiệp đều có khuyết điểm ấy. Trong việc sửa chữa đường cầu, phục vụ chiến dịch, lãng phí dân công khá nhiều, vì tổ chức không khéo - đó là một thí dụ.
- Lãng phí thời giờ: việc gì có thể làm trong một ngày một buổi, cũng kéo dài đến mấy ngày. Thí dụ: những cuộc khai hội, vì người phụ trách chuẩn bị chương trình không đầy đủ, người đến dự hội thì không chuẩn bị ý kiến, đáng lẽ chỉ một ngày thì bàn bạc và giải quyết xong vấn đề, song cuộc khai hội kéo dài đến 5, 3 ngày.
- Lãng phí tiền của : Có rất nhiều hình thức, đây chỉ nêu vài thí dụ:
- Các cơ quan dùng vật liệu một cách phí phạm.
- Các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không hợp lý.
- Cục vận tải giữ gìn xe cộ, tiết kiệm dầu mỡ không triệt để.
- Sở kho thóc làm kho tàng không cẩn thận; người giữ kho kém tinh thần trách nhiệm, để thóc ẩm ướt, hao hụt, hư hỏng.
- Mậu dịch không khéo tính toán sắp xếp, để hàng hoá hao hụt, lỗ vốn.
- Ngân hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để tiền bạc ứ đọng lại, không bổ ích cho việc tăng gia sản xuất.
- Cơ quan kinh tế làm kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh, để Chính phủ phải lỗ vốn.
- Bộ đội không biết quý trọng giữ gìn quân trang, quân dụng và chiến lợi phẩm.
- Nhân dân bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm đám cưới, đám ma, v.v..
Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô.
Mà có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu.
Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn.
Nói tóm lại: vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí.
Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu.
III - THAM Ô LÃNG PHÍ VÀ BỆNH QUAN LIÊU
LÀ KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN
1. Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ.
Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta.
Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính.
Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nước nhà, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp. Mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.
Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.
Cũng như ở các mặt trận khác, muốn thắng ở mặt trận này, ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên.
Cách tổ chức tranh đấu, đại khái như sau:
Bước đầu là đánh thông tư tưởng:
Phải khai hội đủ mặt mọi người trong cơ quan, đơn vị, trường học, v.v. để giải thích rõ ràng, nói đi nói lại, cho mọi người đều hiểu:
- Tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân cho nước thế nào?
- Vì sao phải chống những nạn ấy?
Để sửa chữa những ý nghĩ sai lầm như:
- Tham ô là có tội, song lãng phí chỉ là một khuyết điểm.
- Những người có công với cách mạng, thì tham ô, lãng phí chút đỉnh, cũng nên tha thứ họ.
- Nước ta nghèo, không có gì mà tiết kiệm. Cơ quan ta không có gì mà lãng phí.
- Không phải cơ quan kinh tế tài chính, thì không có gì mà tham ô, lãng phí, v.v..
Để yên định những lo ngại không đúng, như:
- "Một sự nhịn, chín sự lành", kiểm thảo lẫn nhau làm gì.
- Tự nhận sai lầm mình sợ mất thể diện, mất uy tín, sợ bị phạt, v.v..
- Chỉ trích lỗi của người sẽ mất đoàn kết.
- Ai tham ô, lãng phí mặc ai, mình không tham ô, lãng phí thì thôi.
- Nói thật mất lòng, sẽ bị bầu bạn ghét, bị cấp trên trù, v.v..
Bước thứ hai:
Khi mọi người đã hiểu thì chia từng tiểu tổ để nghiên cứu những tài liệu, như:
- Những lời dạy của Lênin, Xtalin... nói về tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
- Tuyên ngôn của Đảng Lao động, chính sách và chỉ thị của Đảng và của Chính phủ.
- Tài liệu nói về cần, kiệm, liêm, chính, và cách sửa đổi lối làm việc.
Các tiểu tổ vừa nghiên cứu, vừa thật thà tự kiểm thảo và giúp nhau kiểm thảo. Kiểm thảo nên nhằm vào mấy điểm chính và thiết thực, như:
- Mình có tham ô không?
- Có ăn bớt của công cho đơn vị riêng của mình không?
- Có lười biếng, có kém lòng trách nhiệm, có đứng núi này trông núi nọ không?
- Có phô trương lãng phí không?
- Có lãng phí của Chính phủ, của Đoàn thể không?
- Có lãng phí của dân và sức dân không?
- Có bệnh quan liêu, xa cách quần chúng không?
Tự kiểm thảo và kiểm thảo người khác phải thật thà, phải dựa vào sự thực, phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm. Không nên thoa vẽ, che giấu. Không nên "ít thít ra nhiều", càng không nên nói việc nhỏ bỏ việc lớn, nói việc cũ quên việc mới.
Vừa nêu rõ khuyết điểm, vừa phân tách tư tưởng.
Chỉ trích những khuyết điểm, khen ngợi những ưu điểm.
Tiểu tổ kiểm thảo xong, thì chọn người để xung phong tự kiểm thảo trong những buổi khai hội toàn thể đơn vị hoặc cơ quan.
Bước ba: Đơn vị hoặc cơ quan khai hội kiểm thảo chung để giải quyết các vấn đề, giải thích các thắc mắc, sửa chữa những khuyết điểm trong phong trào kiểm thảo, khen ngợi những người đã thành thật tự kiểm thảo, khuyến khích những người còn ngập ngừng e ngại, đặt chương trình chung cho đơn vị (chương trình mở rộng kiểm thảo, tăng năng suất...) và bầu cử ban lãnh đạo phong trào. Ban này gồm có những người lãnh đạo như Bộ trưởng, Thứ trưởng, Đoàn trưởng... và những phần tử hăng hái, trung thành nhất trong cơ quan (hoặc đơn vị).
Cơ quan chính như các bộ, các đại đoàn, v.v., kiểm thảo xong đợt một, thì phải:
- Tìm cách nâng cao năng suất các cán bộ để phụ trách công việc trong cơ quan.
- Phái một số cán bộ đắc lực chia thành từng tiểu tổ phụ trách điều tra các bộ phận, như điều tra kho tàng, điều tra sổ sách, v.v., đồng thời giúp các bộ phận ấy kiểm thảo.
Hàng ngày, các tổ trưởng những tiểu tổ ấy phải báo cáo rõ tình hình với Ban lãnh đạo và giúp Ban ấy trong việc kiểm thảo chung.
Nói tóm lại: việc kiểm thảo phải có trọng tâm, phải làm từng bước, phải nắm vững và vào sâu. Phải làm từ cấp trên đến cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ.
Những điều cần thiết.
Cán bộ cao cấp mỗi nơi phải:
- Thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu.
- Thật thà báo cáo tình hình cả đơn vị mình cho mọi người trong toàn đơn vị, toàn ngành biết rõ.
- Phải kiên quyết "nhổ cỏ".
- Nắm vững trọng điểm,
- Tổ chức nhóm trung kiên để giúp nghiên cứu tình hình và giúp lãnh đạo phong trào kiểm thảo.
Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ, nghĩa là:
- Ai kiểm thảo đúng những người khác, sẽ được khen thưởng.
- Ai có lỗi mà thật thà tự kiểm thảo, thì lỗi nhẹ sẽ được tha thứ, lỗi nặng sẽ được xử nhẹ hoặc lấy công chuộc tội (trừ những tội lỗi đặc biệt nặng).
- Ai có lỗi mà không thật thà nói ra, sẽ bị kỷ luật.
- Ai ngăn cản, đe doạ những người kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật.
- Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng.
Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới.
Thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn, thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công, vì nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng.
Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng. Chúng ta phải cứu vãn họ, giúp họ khôi phục đạo đức cách mạng. Có những người miệng thì nói: phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật chất dỗ dành mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Chúng ta phải giáo dục họ, đưa họ vào con đường cách mạng.
Tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa của xã hội cũ. Nó do lòng tự tư tự lợi, ích kỷ hại nhân mà ra. Nó do chế độ "người bóc lột người" mà ra.
Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính - cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ.
- Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ.
Bộ đội không ngại hy sinh xương máu để kháng chiến cứu nước. Đồng bào không ngại hy sinh mồ hôi nước mắt để kháng chiến cứu nước. Chiến sĩ gửi tính mệnh mình, đồng bào gửi công, gửi của mình trong tay Chính phủ và Đoàn thể, để kháng chiến kiến quốc. Đó cũng là một hình thức dân chủ tập trung.
Chính phủ và Đoàn thể giao cho cán bộ cái quyền điều khiển bộ đội sử dụng tiền của trong công cuộc kháng chiến kiến quốc. Nhiệm vụ của cán bộ là chăm nom, yêu mến mỗi một chiến sĩ, quý trọng, tiết kiệm mỗi một đồng tiền, một bát gạo, một giờ công của đồng bào. Đồng thời, chiến sĩ và đồng bào có quyền đòi hỏi cán bộ phải làm tròn nhiệm vụ đó, có quyền phê bình chỉ trích những cán bộ nào không làm tròn nhiệm vụ đó.
Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công.
Quần chúng tức là toàn thể chiến sĩ trong quân đội, toàn thể công nhân trong xưởng, toàn thể nhân viên trong cơ quan, v.v., rồi đến toàn thể nhân dân. Cũng như mọi việc khác, việc "chống" này phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng.
Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Chiến sĩ xuất công, nhân dân xuất của để đánh giặc, cứu nước. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ "giặc ở trong lòng". Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Vì vậy, chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy.
Chúng ta từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực để thắng lợi trong phong trào này. Mà thắng lợi trong phong trào này sẽ giúp chúng ta đoàn kết hơn nữa, nâng cao năng suất hơn nữa. Nó giúp cán bộ ta cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật thà phụng sự bộ đội và nhân dân. Nó giúp chính quyền ta thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào. Nó sẽ giúp chúng ta hoàn thành đầy đủ kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm của Chính phủ và của Đoàn thể. Nó sẽ giúp chúng ta chuẩn bị mau đầy đủ để tiến sang tổng phản công.
*
* *
Đồng chí Lênin, Xtalin... rất chú trọng và nói nhiều về vấn đề tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và chống bệnh quan liêu. Tôi lược dịch vài đoạn sau đây, để giúp các đồng chí nghiên cứu.
Lênin nói:
"Tiền bạc phải tính toán một cách rành mạch, thật thà, phải tiết kiệm, chớ lười biếng. Chớ ăn cắp của công làm của tư. Phải giữ gìn kỷ luật lao động rất nghiêm ngặt. Đó là những khẩu hiệu chính và rất cần thiết.
Một mặt, quần chúng lao động thiết thực làm đúng những khẩu hiệu ấy. Đó là phương pháp duy nhất để cứu vãn một nước đã bị lũ kẻ cướp đế quốc và lũ bù nhìn làm cho chết dở sống dở như nước Nga.
Một mặt khác, chính quyền Xôviết do phương pháp của mình, căn cứ vào pháp luật của mình, mà thiết thực thi hành khẩu hiệu ấy - Đó lại là điều kiện chủ chốt và đầy đủ để đưa chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi hoàn toàn". (Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết, 28-4-1918) 3).
Ngày 2-5-1918, toà án nhân dân Mạc Tư Khoa xử nhẹ một vụ án hối lộ. Lênin không bằng lòng, và viết:
"Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy, - đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng" 4).
Cách vài hôm sau, Lênin viết thư cho cán bộ tư pháp: "Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ, và những cách hối lộ khác). Ít nhất cũng phải phạt 10 năm giam cầm và 10 năm khổ sai" 5).
Báo cáo trước Đại hội lần thứ IV của Quốc tế Cộng sản (13-11-1922), Lênin nói:
"Hiện nay, tình hình công nghệ nặng của Nga còn rất khó khăn. Nhưng chúng tôi đã tích trữ được một số vốn. Sau này chúng tôi cứ phải tích trữ như thế. Vốn liếng ấy thường thường do nhân dân mà ra, chúng tôi cần phải tiết kiệm từng li từng tí. Hiện nay, chúng tôi đang nghiên cứu làm thế nào để giảm bớt ngân sách của Chính phủ, giảm bớt số nhân viên ở các cơ quan. Vô luận thế nào, chúng tôi cũng phải giảm bớt số nhân viên, cũng phải ra sức tiết kiệm. Tiết kiệm về mọi mặt, thậm chí chi tiêu cho các trường học cũng phải tiết kiệm. Phải làm như thế, vì nếu không cứu vãn công nghệ nặng, không khôi phục công nghệ, thì không xây dựng được công nghệ nào hết. Mà không xây dựng công nghệ, thì không giữ được địa vị độc lập của nước mình" 6).
Về thực hành tiết kiệm và chống nạn lãng phí, Lênin viết: "Nước nhà mà chúng ta ra sức xây dựng là phải làm sao cho công nhân có thể lãnh đạo nông dân và giữ gìn lòng tin cậy của nông dân. Phải cực kỳ tiết kiệm để tẩy sạch những vết tích lãng phí...". (Thà ít hơn, mà tốt hơn, 2-3-1923) 7).
Về cách chống bệnh quan liêu, thì Lênin nói: "Cần phải dùng nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra từ dưới lên trên ... để nhổ đi nhổ lại cho sạch hết những cỏ rác bệnh quan liêu". (Chính quyền Xô Viết, 28-4-1918) 8).
Đồng chí Xtalin dạy chúng ta:
"Phải tiết kiệm tiền bạc, lại phải chi tiêu tiền bạc ấy cho hợp lý. Không được phí phạm một đồng xu nào của dân. Phải dùng toàn bộ tiền bạc ấy vào công nghệ của nước ta.
Không như vậy thì chúng ta sẽ vấp phải cái nguy hiểm lãng phí, cái nguy hiểm dùng tiền vào những việc không cần kíp cho sự phát triển công nghệ, cho sự bồi bổ kinh tế của nhân dân.
Khéo tính toán, chi tiêu tiền bạc cho hợp lý - Đó là một nghệ thuật quan trọng. Nghệ thuật ấy không phải là dễ. Các cơ quan ta chưa thông thạo nghệ thuật ấy. Chúng ta còn rất kém về nghệ thuật ấy.
Thừa nhận sự kém cỏi ấy, là một điều đau đớn. Nhưng đó là sự thật, không thể lấy nghị quyết nào mà che giấu được nó. Có đôi khi các cơ quan quản lý của ta giống như người nông dân nọ - Y tiết kiệm được một ít tiền, y không dùng tiền ấy mà sửa chữa cày bừa để tăng gia sản xuất, nhưng y đi mua một cái máy hát thật to ... Đó là chưa kể đến những việc lãng phí, những vụ ăn cắp của công.
Vì vậy, cần phải dùng nhiều phương pháp để giữ gìn cho tiền bạc của ta khỏi bị lãng phí, bị phân tán, bị dùng vào những việc không cần thiết, bị dùng ra ngoài công việc xây dựng căn bản.
1. Kế hoạch sản xuất không định theo cách quan liêu, mà phải liên hệ chặt chẽ với tình hình kinh tế, với nguồn của cải, với sự tính toán rõ rệt sức hậu bị của ta.
Kế hoạch không nên sụt lại sau, nhưng cũng không nên chạy quá trước sự phát triển của công nghệ, không nên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức tiết kiệm của ta.
Nền tảng phát triển công nghệ phải dựa trên sự cần thiết cho thị trường trong nước, trước hết là thị trường của nông dân, và dựa trên phạm vi của cải của ta. Đó là nền tảng để liên hệ công nghệ với kinh tế của nông dân.
Về tiết kiệm, về cách dùng tiền bạc tiết kiệm được - cũng như vậy.
Có người theo ảo tưởng của mình mà định kế hoạch, chứ không nghĩ đến vốn liếng. Họ quên rằng: nếu không có một số vốn tối thiểu, không có một số tiền hậu bị tối thiểu, thì chẳng những không đạt được kế hoạch công nghệ nào, mà cũng không xây dựng được những xí nghiệp "to lớn bao la".
Họ quên điều đó, họ chạy trước sự thực.
Thế nào là chạy trước sự thực mà đặt kế hoạch ?
Là không cân nhắc lực lượng, mà làm ẩu. Là đặt kế hoạch rất to tát, động viên hàng nghìn hàng vạn công nhân, xem rất oai. Nhưng rồi thấy vốn liếng không đủ, phải để công nhân về, phải cấp lộ phí cho họ về. Kết quả là hao tổn rất nhiều, gây ra thất vọng cho công cuộc xây dựng, gây mối khó khăn cho chính trị ...
Chỉ có liên hệ chặt chẽ với nông nghiệp, không rời xa sức tiết kiệm và ăn khớp với vốn liếng và sức hậu bị của ta - thì công nghệ mới làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của nó, là lãnh đạo và cải tạo kinh tế của quốc dân.
Một bộ chỉ huy mà xa rời bộ đội, mất liên lạc với bộ đội, thì bộ chỉ huy ấy không thành bộ chỉ huy nữa. Công nghệ mà xa rời toàn bộ kinh tế của quốc dân, mất liên hệ với nó, thì công nghệ không lãnh đạo được kinh tế của quốc dân.
Vì vậy, đặt kế hoạch công nghệ cho đúng đắn và hợp lý - là một điều kiện chủ chốt trong việc tiêu dùng tiền của.
2. Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Uỷ ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản). Hiện nay, các cơ quan của ta người nhiều, việc ít, xài phí lu bù ... Lênin đã nhắc đi nhắc lại hàng chục hàng trăm lần rằng: công nhân và nông dân không thể chịu đựng những cơ quan kềnh càng và tốn kém như vậy. Vô luận thế nào cũng phải tìm đủ cách để biên chế các cơ quan lại. Chúng ta phải dùng tinh thần bônsêvích mà thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt. Nếu chúng ta không muốn dùng vốn liếng của ta vào những việc linh tinh, thì chúng ta phải thực hành ngay chế độ ấy.
Một thí dụ: có người bảo chúng ta xuất cảng lương thực không có lãi, không ăn thua.
Vì sao không có lãi. Vì các cơ quan phụ trách thu góp lương thực tiêu quá nhiều tiền. Kế hoạch định mua 1 cân lương thực là 8 xu. Nhưng các cơ quan tiêu đến 13 xu, tức là tăng lên 5 xu. Vì sao ? vì trước khi thu góp lương thực, thì các cán bộ đều lấy thêm người vào văn phòng, mua thêm máy đánh chữ và xe hơi ... Vì tiêu tiền quá nhiều vào chỗ không sinh lợi, đến khi cộng lại, thì thấy xuất cảng lương thực không có lãi.
Thử tính xem: chúng ta thu góp hàng chục triệu cân lương thực, mà mỗi cân đắt thêm 5 xu, thì đã lãng phí mất mấy triệu đồng.
Nếu chúng ta không dùng chế độ rất nghiêm ngặt để ngăn ngừa các cơ quan tiêu dùng bừa bãi, thì chúng ta tiết kiệm được bao nhiêu tiền của cũng bị lãng phí hết bấy nhiêu ...
3. Chúng ta phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ.
Hiện nay, có những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn. Cần phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí ấy. Trong lúc công nghệ cần phải xây dựng, đồng bào đang bị thiếu thốn, chúng ta không thể tha thứ những việc phô trương, lãng phí như vậy.
Một điều đáng chú ý: nhiều khi có những người ngoài Đảng họ tiết kiệm của công hơn những đảng viên. Có những đảng viên rất "dũng cảm, kiên quyết" trong trường hợp này: họ âm thầm phát phụ cấp cho nhân viên của họ, mượn tiếng là "hoa hồng" tuy sự thực không có gì là "hồng hoa". Họ âm thầm phớt qua phép luật, trốn tránh và làm trái phép luật. Về điểm này, những người ngoài Đảng cẩn thận hơn. Vì đảng viên thường xem phép luật, chính quyền, v.v. là việc trong nhà. Vì vậy, mà có đôi đảng viên như những con lợn, (xin lỗi tiếng đó), họ rúc vào vườn rau của Nhà nước, chén một bữa no say, hoặc họ hy sinh lợi ích của nước nhà, để lên mặt mình là khảng khái.
Chúng ta phải chấm dứt cái thói vô chính phủ ấy.
4. Phải chống nạn ăn cắp của công, mà các cơ quan quen gọi là trộm cắp "đường hoàng".
Các báo chí phân biệt: có thứ trộm cắp xấu xa, kín đáo, có thứ trộm cắp "đường hoàng". Vừa rồi, báo Thanh niên cộng sản có nói về thứ trộm cắp "đường hoàng" ấy: một chàng thanh niên bảnh bao, ở một cơ quan nọ, đã trộm cắp của công một cách đường hoàng, một cách có ngăn nắp, và trộm cắp đã nhiều lần. Điều đáng chú ý ở đây, không phải là thằng kẻ trộm. Đáng chú ý là những người xung quanh biết nó là kẻ trộm, chẳng những không chống nó, mà lại vỗ vai nó, khen ngợi nó, xem nó như một người anh hùng.
Đó là một điều đáng chú ý, một điều rất nguy hiểm.
Khi bắt được một tên mật thám, một tên phản quốc thì quần chúng rất căm giận, đòi xử bắn nó đi. Song khi tên giặc hoạt động trước mắt mọi người, thì quần chúng lại hiền lành với nó, vỗ vai nó, khen ngợi nó.
Trộm cắp tiền bạc của nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa.
Cuối cùng tên kẻ trộm "đường hoàng" kia đã bị bắt. Nhưng bắt một tên trộm ấy, có nghĩa lý gì, vì còn có hàng nghìn hàng vạn tên giặc như nó. Cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị chúng. Biện pháp ấy là gây nên một đạo đức để ngăn ngừa trộm cắp, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống trộm cắp; làm cho lũ trộm cắp "đường hoàng" cũng như trộm cắp kín đáo - không sống còn được.
Tiêu diệt trộm cắp, là một cách để bảo vệ, tiết kiệm và tránh lãng phí.
Sau cùng, chúng ta cần có một cuộc vận động: tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động.
Công nhân vắng mặt không đi làm, đã gây cho công nghệ thiệt mất hàng chục vạn giờ lao động, tổn thất hàng trăm vạn đồng.
Nếu không chấm dứt thói lười biếng, không nâng cao năng suất, thì công nghệ không tiến được, mà lương bổng công nhân cũng không tăng được.
Anh chị em công nhân phải hiểu rõ, nhất là những công nhân mới, phải hiểu rõ rằng: lười biếng và không nâng cao năng suất là có hại cho sự nghiệp chung, có hại cho cả giai cấp công nhân, có hại cho công nghệ của ta.
Vì lợi ích của kinh tế, vì lợi ích của giai cấp công nhân - chúng ta phải chống thói lười biếng, phải nâng cao năng suất". (Hội nghị cán bộ Đảng ở Lêningrát, 13-4-1926) 9).
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 484-495.
____________
1) Nói chuyện năm 1952 nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm.
2) Tiếng địa phương, nghĩa là cái nong.
3) Xem V.I.Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.36, tr.211-212.
4) Như trên, t.36, tr.346.
5) Như trên, t.50, tr.91.
6) V.I.Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.45, tr.333-334.
7_ Như trên, t.45, tr.458.
8) Như trên, t.36, tr.220-221.
9) Tức là bài: Về tình hình kinh tế Liên Xô và chính sách kinh tế của Đảng, báo cáo của Xtalin đọc tại Hội nghị những đảng viên tích cực thuộc Đảng bộ Lêningrát, ngày 13-4-1926.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CUNG CẤP TOÀN QUÂN LẦN THỨ NHẤT 1)
1. Trách nhiệm của cán bộ cung cấp thế nào?
Mỗi người cán bộ cung cấp nói riêng và Tổng cục cung cấp nói chung, phải phụ trách trước bộ đội, trước nhân dân, trước Đảng, trước Chính phủ. Nhân dân thi đua đóng góp cho Chính phủ, Chính phủ lo ngày lo đêm giao cho các chú cung cấp cho bộ đội. Bộ đội mong chờ các chú. Các chú làm tròn trách nhiệm là tốt. Các chú làm không tròn là có lỗi với Đảng, với Chính phủ, với bộ đội, với nhân dân. Muốn làm tròn nhiệm vụ, cán bộ cung cấp trước hết phải có tinh thần trách nhiệm, cố gắng vượt mọi khó khăn làm cho bộ đội no ấm, đủ súng đạn, đủ sức khoẻ để đánh giặc.
2. Tăng gia sản xuất và tiết kiệm .
Đó là chính sách chung của Đảng, của Chính phủ, của nhân dân, của bộ đội.
Trước hết nói về tăng gia sản xuất. Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính, nhưng phải cố sức tăng gia. Bộ đội đánh thắng giặc thu được nhiều chiến lợi phẩm, đấy cũng là tăng gia.
Các chú đã hiểu rõ kháng chiến nhất định thắng lợi, muốn thắng lợi phải trường kỳ gian khổ, muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh. Tăng gia là một bộ phận trong chính sách tự lực cánh sinh.
Nói chung tiết kiệm cái gì? Tiết kiệm sức người như dân công, tiết kiệm tiền, tiết kiệm của. Mọi thứ đều phải tiết kiệm, tăng gia mà không tiết kiệm thì vô ích. Tiết kiệm mà không tăng gia thì lấy gì mà tiết kiệm? Mục đích tiết kiệm không phải là bớt ăn, mà là thêm ăn, làm cho bộ đội no. Nói chung, các cơ quan đều phải tiết kiệm. Riêng cơ quan cung cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình. Thế là tinh giản, tinh là năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức.
Để giúp cho việc tăng gia và tiết kiệm thành công, việc chi thu phải đúng mức, đi đến thu nhiều chi ít, nhưng chúng ta phải đi dần dần, bây giờ phải chi thu đúng mức. Làm việc gì phải làm cho kết quả, trong phạm vi số tiền đã định, nếu làm tròn việc ấy mà không hết số tiền đã định là các chú có công. Khoản nào phải để vào khoản ấy, không được đem khoản nọ tiêu nhằng sang khoản kia.
Chiến lợi phẩm nếu thu đúng, nếu kỷ luật nghiêm thì từ chiến dịch Biên giới đến nay, chúng ta cũng đã thu được khá để trang bị cho bộ đội.
Chính sách của chúng ta từ trước đến giờ là giành của địch để đánh địch. Hồng quân Liên Xô, Giải phóng quân Trung Quốc cũng giành của địch để đánh địch. Ta cũng làm như vậy. Nhưng từ trước tới nay chưa làm đúng, từ nay trở đi phải làm cho đúng. Việc này ảnh hưởng nói chung đến kháng chiến, nói riêng đến Tổng cục cung cấp. Mỗi lần ta đánh thắng mà tất cả chiến lợi phẩm đều tập trung lại, đưa về làm của công, có ngăn nắp, thì ảnh hưởng đến các ngành trong Tổng cục. Quân y có thêm thuốc, quân nhu có thêm quần áo chăn màn, quân giới có thêm máy móc, quân khí có thêm súng đạn, vận tải có thêm xe cộ, thì ảnh hưởng tốt cho công quỹ của Chính phủ. Một mặt tăng cường được trang bị cho bộ đội, một mặt giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Muốn thế phải có chính sách, kế hoạch rõ ràng, có kỷ luật nghiêm. Kỷ luật phải nghiêm nhưng cấp phát phải có kế hoạch, thứ gì thưởng cho bộ đội không tính vào cấp phát, thứ gì thu về hậu phương để cấp phát sau. Thế là thực hiện được kỷ luật nghiêm và cấp phát đúng, chứ không được để cho bộ đội tự do làm hao phí và lấy dùng bừa bãi.
3. Bổn phận của cán bộ cung cấp
Là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ, phải săn sóc họ, làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy, nếu họ đói, họ ốm, ảnh hưởng đến công tác của các chú trước, rồi ảnh hưởng đến cả chiến dịch. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú.
Muốn làm được như thế, cố nhiên phải có tổ chức, có chương trình, nhưng nếu cán bộ không cố gắng, thì không thành công được. Mọi người gây thành một phong trào tự phê bình và phê bình để chống tham ô lãng phí. Các ngành trong Tổng cục cung cấp tuy có cố gắng nhưng cũng còn cần phải chống tham ô lãng phí hơn nữa.
Bác nhận được nhiều thư trong bộ đội gửi lại, hoặc trong chỉnh huấn gửi tới, tự phê bình là có tham ô lãng phí và xin hứa sửa chữa. Chắc rằng trong bộ đội, cơ quan còn có người tham ô lãng phí mà chưa tự phê bình. Vậy mỗi người phải tự mình chống tham ô lãng phí, gây thành một phong trào làm cho mọi người thấy đó là tội ác xấu xa, ai cũng gớm cũng ghét. Cần phải đấu tranh trừ bỏ tội ác đó.
Tham ô lãng phí một phần lớn là do bệnh quan liêu mà ra. Quan liêu là gì? Quan liêu là những người phụ trách bất kỳ cấp nào không gần gũi cán bộ, không theo dõi công việc thiết thực, không theo dõi cán bộ để biết tính nết, khả năng, để thấy điều tốt thì khuyến khích, thấy điều xấu thì can ngăn, giáo dục, giúp đỡ sửa chữa. Thế là cán bộ xa thực tế, xa bộ đội, xa nhân dân, không dân chủ.
Muốn chống tham ô lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ, gây tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người. Tất nhiên không phải nói lu bù nhưng phải để cho người phụ trách thấy, để quần chúng thấy, thì tham ô lãng phí không thể nảy nở được.
Bác cũng có nhận được nhiều thư của các cán bộ gửi đến cho Bác, nói trước thì thắc mắc, không yên tâm nhưng nay đã sửa chữa. Cố nhiên phải tin lời nói của cán bộ, nhưng trong các chú ở đây và các chú ở nhà, cũng còn có những chú chưa yên tâm làm việc. Đó là bệnh cá nhân, là còn tham địa vị, nói chung là không hiểu sâu sắc cách mạng phải có phân công.
Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân.
Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu.
Trong Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc vừa rồi, 150 người trong Đại hội xứng đáng là anh hùng, có người đánh giặc, có người công nhân, có nông dân, có y tá, có bác sĩ, có dân công, có người nấu ăn. Người nào vượt khó khăn làm tròn nhiệm vụ, đó là anh hùng.
Các anh hùng, chiến sĩ vừa qua trong khi làm nhiệm vụ đều không nghĩ tới trở nên anh hùng. Nã Phá Luân dọc ngang trời đất, Từ Hải trong truyện Kiều "vai năm tấc rộng, thân mười thước cao" cũng gọi là người anh hùng, nhưng người anh hùng của ta không phải thế, người anh hùng của ta như cô dân công khu V, cô cán bộ vùng địch hậu, bé chút xíu nhưng làm tròn nhiệm vụ.
Các chú cũng có thể trở nên anh hùng. Với sự giúp đỡ của Bộ Tổng tư lệnh, của Tổng cục cung cấp, với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, với lòng tự tin của các chú, với sự giúp đỡ của anh em chung quanh, các chú sẽ thành công. Trước khi ra về, Bác dặn thêm các chú gắng gây thành một phong trào chống quan liêu, tham ô, lãng phí, các chú phụ trách phải xung phong gương mẫu. Sau khi làm, các chú báo cáo kết quả cho Bác biết.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 512-516.
____________
1) Hội nghị khai mạc ngày 24-6-1952.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CHIẾN TRANH DU KÍCH
I- Các cô các chú ở đây đều cố gắng, có thành tích, gian khổ, người nhiều người ít. Đó là điều đáng khen. Nhưng nên nhớ thành tích đó không phải là thành tích của riêng ai mà là chung của bộ đội, của đồng bào. Nếu các chú, các cô có tài năng mà không có bộ đội và đồng bào giúp đỡ thì tài năng cũng vô dụng.
II- Từ chiến dịch Hoà Bình đến giờ, so sánh tình hình du kích vùng sau lưng địch năm nay với năm ngoái thì đã phát triển khá hơn nhiều, nhất là đồng bào và cán bộ tự tin mình có thể thắng được địch. Đó là rất đúng, là một điều thay đổi rất tốt.
Các cô, các chú phải biết cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Trường là dài, tức là đánh bao giờ địch bại, địch "cút", thế mới là trường. Đế quốc Pháp áp bức ta hơn 80 năm cũng như cái bệnh nặng đã lâu ngày, không phải chữa một ngày, một năm mà khỏi được ngay. Chớ có vội vàng muốn đánh ngay thắng ngay, thế là chủ quan. Trường kỳ thì phải gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi.
Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình nhất là ở sau lưng địch thì lại càng phải đặc biệt chú ý. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.
Kháng chiến phải trường kỳ, thì du kích ở sau lưng địch phải làm thế nào? Nhiệm vụ là gì? Du kích cũng phải trường kỳ. Nhiệm vụ hiện nay là phá âm mưu của địch "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Địch không thể lấy được nhân lực, vật lực của ta ở vùng tự do, chúng phải vơ vét ở địch hậu, ta phải phá. Phá được âm mưu đó là góp một phần lớn vào công việc chuẩn bị tổng phản công và địch sẽ yếu dần đi, ta sẽ thắng, địch sẽ thua.
III- Ở vùng sau lưng địch, các cô, các chú có nhiều ưu điểm: chịu khó, gan dạ, đoàn kết. Về ưu điểm Bác không nói, ở đây Bác chỉ nêu mấy khuyết điểm chính để sửa chữa:
1. Cán bộ quân, dân, chính, Đảng không nghiên cứu rõ ràng tỉ mỉ, sâu sắc những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương, Chính phủ gửi xuống. Đó là một khuyết điểm lớn. Trung ương, Chính phủ thấy rộng, tập trung tình hình, kinh nghiệm ở khắp nơi để nghiên cứu mới làm ra chỉ thị. Cán bộ quân, dân, chính, Đảng phải nghiên cứu cho kỹ những chỉ thị đó để áp dụng cho hợp với hoàn cảnh thiết thực của địa phương. Vì địa phương thấy hẹp, chỉ thấy cây mà không thấy cả cái rừng, chỉ thấy một mà không thấy mười, cho nên có một công việc mà địa phương cho là thành công nhưng đem ghép với tình hình chung thì lại là thất bại, đó là do không nghiên cứu kỹ chỉ thị của Chính phủ, Trung ương.
2. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế. Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được. Cho nên đánh là cố nhiên, nhưng không phải là chỉ đánh thôi mà phải lo cả các mặt khác nữa.
3. Khuyết điểm nữa là chủ lực, bộ đội địa phương và du kích đều muốn đánh to, ăn to, thiếu nghiên cứu hiểu rõ tình hình, khả năng ta và địch một cách tỉ mỉ để định mục đích và cách đánh thích hợp. Nên khi thực hành mắc nhiều khuyết điểm. Bất kỳ ở đâu phải chắc chắn thắng thì mới đánh, còn lúc nào chưa chắc thì không nên đánh, nhất là mình lại nằm trong vòng vây của địch.
4. Về cán bộ thì cán bộ quân sự chỉ biết quân sự, cán bộ chính quyền chỉ biết chính quyền, cán bộ Đảng chỉ biết Đảng như thế chẳng khác gì người đứng một chân. Cán bộ chỉ biết một mặt là có hại, không vững, vì các mặt quân, dân, chính, Đảng kết hợp lại thành một khối, thiếu một mặt thì không mạnh, không hoàn toàn. Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền hầu như khoán trắng việc đánh giặc cho quân sự, không biết rằng Đảng phải chăm lo lãnh đạo mọi mặt, lúc đánh nhau, tất cả mọi mặt phải gắn liền với nhau thì mới thắng được.
5. Riêng về cán bộ Đảng một phần vì điều kiện khó khăn nhưng phần lớn vì không biết nắm vững khâu chính tức là nền tảng cơ sở tổ chức của Đảng, nên hiện nay trong vùng tạm bị chiếm cơ sở Đảng chưa vững chắc. Phải biết rằng nếu tổ chức Đảng mạnh thì mọi công việc đều chạy.
6. Công tác phòng gian chưa chu đáo, chưa giữ được bí mật.
7. Công tác nguỵ vận tuy có thành tích nhưng không đều. Chỗ nào cán bộ có sáng kiến thì làm khá, nơi nào không sáng kiến thì làm uể oải. Địch lập hương dũng, bảo an. Phải phá những cái gai góc ấy đi. Các cô, các chú phải cùng nhau trao đổi kinh nghiệm mà đẩy mạnh công tác nguỵ vận.
8. Nói về tuyên truyền ở sau lưng địch thì cũng như hồi trước Cách mạng Tháng Tám, có Nhật, Pháp, Việt gian mà ta vẫn tuyên truyền được nhân dân là nhờ có sáng kiến, ngoài tuyên truyền bằng miệng còn tuyên truyền bằng báo chí. Bây giờ Trung ương, Chính phủ cũng đã cố gắng đưa báo Cứu quốc, Nhân dân vào vùng địch, nhưng vẫn chưa đủ và gặp khó khăn. Ở địch hậu phải tạo ra những tờ báo in bằng đá, bằng đất, không cần to lắm và cũng không cần in ra hằng ngày, cốt sao phổ biến tuyên truyền đường lối chính sách của Chính phủ, tuyên truyền thiết thực làm dân hiểu được thắng lợi của ta, thua thiệt và tội ác của giặc. Đó là công tác giáo dục của Đảng.
IV- Bây giờ nói đến công việc phải làm:
1. Trước hết nội bộ, tức là quân, dân, chính, Đảng phải đoàn kết chặt chẽ. Có việc gì, phải bàn tính kỹ lưỡng, tư tưởng, hành động phải thống nhất, phải giúp đỡ nhau, thành thực phê bình và tự phê bình để cùng nhau tiến bộ.
2. Phải nghiên cứu kỹ, áp dụng đúng và triệt để thi hành những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và của Chính phủ.
3. Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi. Muốn thế phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân. Giáo dục không phải là đưa sách vở bắt buộc dân phải học, làm thế tức là phản lại lợi ích của dân, của cách mạng, là quan liêu, mệnh lệnh. Phải vận động nhân dân, để dân tự nguyện, tự giác, nếu bắt buộc thì chỉ có thể có kết quả ngay lúc đó thôi, còn sau thì không thấm.
4. Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện. Hơn nữa phải giúp đỡ cả nhân dân. Điểm này có đơn vị đã làm được, có đơn vị còn thiếu sót. Phương ngôn có câu "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài", thế nghĩa là dựa vào vùng địch đánh du kích, phải biết chiến thuật du kích chứ không chính quy như ở ngoài. Tuyệt đối chớ có ham ăn to, đánh to, trừ những hoàn cảnh 100% chắc thắng.
5. Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt. Phải làm sao cho địch đi đến đâu cũng có du kích đánh, ít nhất cũng bị quả mìn, bị vài phát súng. Binh lính Pháp viết trong thư gửi cho nhau: "Ở Việt Nam cái hang đá nào, cái bụi nào, ao nào cũng có cái chết ẩn ở đó"...
Nếu các cô, các chú các địa phương sửa được những khuyết điểm và làm đúng những công việc như lời Bác vừa nói thì nhất định thắng lợi. Nhưng phải nhớ rằng còn một thằng địch trên đất nước ta thì chưa gọi là thắng lợi hoàn toàn. Trước đây, lực lượng địch mạnh hơn ta về trang bị, về kinh nghiệm, nhưng nó vẫn cứ thua ta vì nó chủ quan. Vậy các cô, các chú chớ có chủ quan khinh địch thì thắng lợi.
Về địa phương, các cô, các chú phải nói với anh em, với đồng bào thi đua về mọi mặt: đánh giặc lập công, tổ chức nguỵ vận, địch vận, tăng gia sản xuất và tiết kiệm, "thực túc binh cường" nếu không tăng gia và tiết kiệm thì không có lương thực ăn để đánh giặc. Các cô, các chú có hứa làm được không ? (Mọi người đáp có, vang hội trường). Hứa thì phải làm bằng được.
Một điểm nữa là phải báo cáo thành tích của bộ đội và đồng bào lên Trung ương, Chính phủ để khen thưởng, vì khen thưởng cũng là một cách giáo dục và cổ động. Bộ đội, đồng bào có thành tích mà Trung ương, Chính phủ khen thưởng thì mới hăng hái hơn và những người chưa có thành tích sẽ thi đua tích cực. Từ trước đến nay địa phương rất ít báo cáo, bây giờ các cô, các chú phải tích cực làm.
Bác dặn thêm các cô, các chú về nói với đồng bào là Bác, Trung ương Đảng, Chính phủ gửi lời thăm đồng bào, thăm các cán bộ và chiến sĩ, đặc biệt là các lão du kích, nữ du kích và các cháu nhi đồng kháng chiến. Bác, Trung ương và Chính phủ sung sướng và chắc chắn là bộ đội và đồng bào địch hậu thực hiện đúng những đường lối chủ trương kháng chiến để mau thắng lợi.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 522-526.
CHỐNG QUAN LIÊU, THAM Ô, LÃNG PHÍ
Vì quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc, nên mọi người có quyền và có nghĩa vụ phải chống. Bước đầu thì chống bằng cách kiểm thảo và phê bình. Còn những người, những cơ quan hoặc đoàn thể nào phạm những điều ấy, thì cần phải thật thà và công khai tự kiểm thảo và kiên quyết sửa đổi.
Gần đây, nhân dân và báo chí đã bắt đầu (tuy còn e dè, thưa thớt) phê bình. Song những tổ chức hoặc cơ quan bị phê bình thì im lìm, không đăng báo tự phê bình, không tìm cách sửa chữa. Đó là thái độ "bưng mắt, bắt chim", thái độ "giấu bệnh sợ thuốc", một thái độ không thật thà, không đứng đắn. Mong những ai, những cơ quan nào đã được nhân dân hoặc báo chí phê bình, thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, trên báo chí.
Chúng ta nhiều công việc, ít kinh nghiệm, không tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, mà sợ không kiên quyết tự kiểm thảo và sửa chữa.
Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 534.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CÁN BỘ CHUẨN BỊ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC
Hôm nay trời mưa to, suối nước lũ, khi đi đến một cái suối nước chảy mạnh, thấy bên kia có một nhóm đồng bào đang ngồi đợi nước xuống để sang, Bác nghĩ: nếu không đi ngay, e các chú đợi mất thì giờ. Nên Bác cùng mấy chú nữa quyết tâm cởi áo quần, tay sào, tay gậy, lần sang được. Thấy Bác sang được, nhóm đồng bào kia cũng quyết tâm sang. Đó là kinh nghiệm cho các chú. Bất kỳ việc gì, to hay nhỏ, mình có quyết tâm thì làm được, mà còn lôi cuốn người khác cùng quyết tâm như mình.
Bây giờ Bác nói đến chiến dịch.
Trung ương Đảng và Tổng quân uỷ đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Quyết tâm không phải nói đầu miệng mà phải tin tưởng sâu sắc. Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục. Quyết tâm phải thấm nhuần sâu sắc đến mọi người trong bộ đội.
Trong Hội nghị này, Tổng quân uỷ đã phổ biến kỹ càng nghị quyết của Trung ương Đảng và các chú đã thảo luận. Ý nghĩa và mục đích của chiến dịch là:
- Tiêu diệt sinh lực địch,
- Tranh thủ nhân dân,
- Giải phóng đất đai,
mà nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch.
Các chú đã bàn rõ cái dễ và cái khó. Gặp cái dễ mà không quyết tâm phát triển thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành cái dễ. Ở đời không có cái gì khó mà cũng không có cái gì dễ. Ví dụ: bẻ một cành lá là dễ, nhưng nếu không quyết tâm bẻ mà cứ lờ vờ thì cũng không bẻ được; làm cách mạng và kháng chiến là việc khó, nhưng quyết tâm thì cũng thành công.
Quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói, mà phải quyết tâm trong công tác, trong hành động. Phải có quyết tâm gây một tác phong chiến đấu anh dũng. Quyết tâm phản đối tất cả những hành động tiêu cực, lung lay, ích kỷ và báo cáo láo.
Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ một việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được.
Thực túc thì binh cường. Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có đủ lương thực, vũ khí cho bộ đội. Còn bên bộ đội thì phải có quyết tâm:
- Lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng.
- Lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp.
Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý.
Chiến lợi phẩm không phải tự nhiên mà địch biếu chúng ta. Đó cũng là do mồ hôi nước mắt của đồng bào và do xương máu của bộ đội mà giành được. Khi ta chưa đánh lấy được thì là của địch, khi đã đánh lấy được thì là của ta. Cho nên, về chiến lợi phẩm, cái gì nên phát cho đồng bào thì phát, cái gì phải nộp cho Chính phủ thì nộp, cái gì nên thưởng cho bộ đội thì phải thưởng cho công bằng và hợp lý, tuyệt đối không được tham ô lãng phí.
Chính sách đối với đồng bào thiểu số, Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng. Đó là một cách tranh thủ nhân dân để phá tan âm mưu của địch "lấy người Việt hại người Việt". Phải làm cho mỗi chiến sĩ là một người tuyên truyền. Các chú phải làm thế nào khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến. Như thế là một đại thắng lợi.
Các chú phải biết, quân lính Âu Phi thì ít, nguỵ thì nhiều. Một số lớn nguỵ là do Tây bắt ép đi lính. Nếu các chú khéo nguỵ vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch.
Các đơn vị đều có một số đồng bào đi theo giúp. Đối với đồng bào dân công, phải giáo dục, phải chăm nom thân mật, phải giải thích tuyên truyền cổ động, làm cho đồng bào vui vẻ công tác. Phải làm cho giữa dân công và bộ đội có một tình thân ái đoàn kết khăng khít. Phải làm cho họ không muốn về mà muốn luôn luôn đi giúp bộ đội. Đó là một điều giúp cho mình chiến thắng. Nếu không làm được như thế thì sẽ gặp nhiều khó khăn.
Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh. Trong kỷ luật phải chú ý hai điểm:
- Thưởng,
- Phạt.
Từ trước đến nay thưởng phạt chưa làm được đầy đủ, đó là một khuyết điểm to. Trong việc thưởng thì có đơn vị được khen ngợi và thưởng huân chương. Khi các chú đề nghị ai được thưởng huân chương thì phải công bố ngay cho bộ đội biết. Chính phủ, Bác và Tổng tư lệnh sẵn sàng thưởng những người có thành tích. Nhưng trái lại, người nào làm sai mệnh lệnh, báo cáo láo thì phải phạt nghiêm khắc.
Đơn vị này với đơn vị khác, cán bộ này với cán bộ khác, phải thi đua gây thành phong trào chiến đấu anh dũng.
Phải nhớ rằng những quân đội cách mạng, trước hết là những người đảng viên, không sợ khó khăn mà phải khắc phục khó khăn, khi gặp một việc gì khó khăn, đơn vị nào được phụ trách thì rất lấy làm vẻ vang, những đơn vị không được phụ trách thì lấy làm buồn vì thấy mình chưa đầy đủ trình độ và năng lực để làm việc đó.
Tác phong đó, các chú cần phải học tập. Nhờ sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác tin các chú có thể học được tác phong ấy.
Từ đại đoàn trưởng cho đến tiểu đội trưởng phải đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ, chăm nom săn sóc giúp đỡ nhau, coi nhau như chân tay ruột thịt. Đó là truyền thống tốt đẹp của Hồng quân Liên Xô. Quân đội ta cũng phải học làm như vậy. Làm được như vậy là đã thắng giặc một phần, trước khi đánh giặc.
Các đơn vị phải thi đua với nhau làm đúng lời Bác dặn.
Các chú có quyết tâm thi đua không?
(Toàn thể hội trường vang lên: Quyết tâm).
Đã quyết tâm thì phải làm cho kỳ được. Bác chờ tin thắng lợi của các chú. Bác treo một giải thưởng một triệu đồng 1) cho bộ đội trong thời gian từ ngày 2 tháng 9 đến ngày 19 tháng 12. Số tiền tuy nhỏ, nhưng giá trị nó to, vì do tay Bác tự làm ra.
Đơn vị nào lập công trước, ngoài phần thưởng một triệu đồng ấy còn có giải thưởng khác nữa.
Chẳng những quân đội đi giết giặc lập công mới anh hùng, mà cán bộ cung cấp ra sức phục vụ cũng là anh hùng. Trong mỗi người các chú đều có mầm anh hùng, các chú phát triển nó lên.
Nếu các chú làm tròn nhiệm vụ thì Bác luôn luôn vui vẻ và khoẻ mạnh.
Có một số cán bộ ở đây biết: khi quân đội ta mới bắt đầu thành lập, binh sĩ thì chỉ có mấy người, vũ khí thì chỉ có mấy khẩu súng quèn mua lậu được. Thế mà chúng ta đã làm nên trò trống, Cách mạng Tháng Tám đã thành công.
Bây giờ chúng ta quân nhiều, tướng mạnh, mọi người lại đều quyết tâm. Cho nên ta nhất định thắng lợi.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 558-562.
____________
1) Tiền Ngân hàng trong kháng chiến chống Pháp.
THƯ TRUNG THU
Gửi các cháu nhi đồng ở vùng tự do, vùng du kích, vùng tạm bị chiếm và ở ngoài nước,
Mỗi năm, đến Tết Trung Thu, Bác càng nhớ các cháu.
Trung Thu trăng trong gió mát là cảnh thái bình. Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do, sung sướng.
Nhưng vì giặc Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn muốn bắt dân ta làm nô lệ cho chúng, chúng gây ra chiến tranh xâm lược, cho nên dân ta phải ra sức kháng chiến để giữ lấy độc lập, tự do.
Từ Thu trước đến Thu này, kháng chiến ta có nhiều thắng lợi, mà các cháu cũng tiến bộ nhiều.
Các cháu đều biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm. Các cháu đều biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
Có nhiều cháu đã được khen thưởng, có cháu đã thành chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Các cháu ở trong vùng tạm bị chiếm rất gan góc. Nhiều cháu đã hy sinh oanh liệt, để giữ bí mật, để giúp đỡ cán bộ và bộ đội.
Nói tóm lại, các cháu rất ngoan, Bác rất vui lòng.
Chắc các cháu có nghe nói: không những đồng bào trong nước mà các ông, các bà, các cô, các chú trong phe dân chủ thế giới, nhất là ở các nước bạn như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, đều nhớ đến các cháu. Cho nên đã lập ra Uỷ ban quốc tế bảo vệ thiếu nhi và định ngày 1-6 là ngày Tết Quốc tế của tất cả nhi đồng ở các nước.
Như thế là các cháu, nhi đồng Việt Nam và Trung Quốc, có hai Tết: Tết mồng 1 tháng 6 và Tết Trung Thu. Càng được săn sóc, các cháu càng phải cố gắng ngoan hơn nữa.
Các cháu gửi thư cho Bác nhiều lắm. Bác rất vui. Nhưng vì Bác bận quá, không trả lời riêng cho từng cháu được. Nhân dịp Tết Trung Thu, Bác gửi các cháu thư này:
Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh ?
Tính các cháu ngoan ngoãn,
Mặt các cháu xinh xinh,
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ,
Tuỳ theo sức của mình:
Để tham gia kháng chiến,
Để gìn giữ hoà bình.
Các cháu hãy xứng đáng:
Cháu Bác Hồ Chí Minh!
Hôn các cháu
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 571-572.
LỜI KÊU GỌI NHÂN DỊP KỶ NIỆM 6 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Cùng toàn thể đồng bào,
Toàn thể Vệ quốc quân, bộ đội địa phương, dân quân du kích,
Toàn thể cán bộ,
Hôm nay, chúng ta bước sang năm thứ 7 của cuộc kháng chiến toàn quốc. Mọi người đều thấy rõ rằng ta càng ngày càng mạnh, địch càng ngày càng yếu. Từ chiến dịch Biên giới cuối năm 1950 đến nay, trên chiến trường Bắc Bộ, ta đã giành và giữ chủ động, còn địch thì bị động. Đầu năm nay, ta thắng to trong chiến dịch Hoà Bình. Cuối năm nay, ta thắng to trong chiến dịch Tây Bắc.
Ta thắng to, địch thua to, đã làm cho dư luận Pháp và thế giới xôn xao. Bọn trùm thực dân phản động Pháp cũng phải nhận rằng vì chiến tranh xâm lược Việt Nam mà nước Pháp gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Địch thua to vì nhiều nguyên nhân. Không những chúng bị nhân dân ta kiên quyết chống lại, mà còn bị nhân dân Pháp và nhân dân thế giới phản đối; tinh thần quân đội chúng ngày càng sút kém; mâu thuẫn nội bộ của phe chúng, phe đế quốc, ngày càng sâu sắc.
Ta thắng to vì nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ, vì chiến sĩ ta chiến đấu dũng cảm, Chính phủ và Đảng ta lãnh đạo đúng. Lại vì anh em ta là Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác ngày càng giàu mạnh, bạn ta là phe hoà bình và dân chủ khắp thế giới ngày càng rộng lớn.
Ta thắng lợi, nhưng ta quyết không vì thắng mà chủ quan, khinh địch. Trái lại, chúng ta phải luôn luôn cố gắng, phát triển ưu điểm và sửa chữa khuyết điểm.
Phong trào thi đua ái quốc, tăng gia sản xuất, chiến tranh du kích, các lớp chỉnh huấn cán bộ, chỉnh huấn quân đội đã có nhiều kết quả tốt. Chúng ta phải tiếp tục cố gắng phát triển những kết quả ấy.
Một khuyết điểm của chúng ta là chưa thi hành đúng chính sách ruộng đất mà Chính phủ đã ban hành từ lâu. Gần 90 phần trăm đồng bào là nông dân. Trong hàng ngũ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích ta trên 90 phần trăm là nông dân. Đóng thuế, đi dân công, phần lớn cũng là nông dân. Đồng bào nông dân đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến, hy sinh nhiều nhất cho Tổ quốc. Thế mà đồng bào nông dân lại là những người nghèo khổ nhất, vì họ thiếu đất ruộng. Giảm tô, giảm tức là một quyền lợi chính đáng của nông dân cũng chưa thực hiện được đến nơi đến chốn. Đó là một tình trạng rất không công bằng. Vì vậy, sang năm, Chính phủ, Đảng và Mặt trận sẽ kiên quyết phát động nông dân thực hiện triệt để chính sách giảm tô, giảm tức để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nông dân. Về phần nông dân thì phải tự động, tự giác, tổ chức chặt chẽ, hăng hái ủng hộ chính sách ấy. Làm như thế là để cải thiện đời sống cho nông dân, tăng cường lực lượng của kháng chiến, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân. Vậy đồng bào chủ ruộng cũng nên vì Tổ quốc, vì kháng chiến mà tự động, tự giác, vui lòng triệt để giảm tô, giảm tức.
Đồng bào nông thôn cùng đồng bào toàn quốc trước đây đã đoàn kết, nay phải đoàn kết hơn nữa, trước đã hăng hái, nay phải hăng hái hơn nữa trong công cuộc tham gia kháng chiến, thi đua sản xuất, đóng góp cho kháng chiến, mà đẩy mạnh cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ đến hoàn toàn thắng lợi, kiến quốc đến hoàn toàn thành công.
Nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, thân ái an ủi các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.
Khen ngợi đồng bào đã hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc,
Khen ngợi bộ đội đã dũng cảm thi đua diệt giặc lập công,
Khen ngợi những anh chị em đã hăng hái đi dân công phục vụ kháng chiến,
Khen ngợi những anh hùng và chiến sĩ thi đua ái quốc,
Khen ngợi cán bộ nam nữ đã tận tuỵ phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.
Thân ái hỏi thăm các bà mẹ chiến sĩ, các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng.
Kháng chiến toàn quốc năm thứ 7 này, toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ hãy cố gắng hơn nữa để tranh lấy thắng lợi nhiều hơn nữa và to lớn hơn nữa.
Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam độc lập thống nhất muôn năm!
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.6, tr. 586-588.
Năm 1953 Năm 1953 (*)
BÁO CÁO TRƯỚC HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
(khoá II)
Khai mạc cuộc Hội nghị này, lời đầu tiên là tôi thay mặt toàn thể Trung ương ta thân ái gửi lời chào đồng chí Xtalin và đồng chí Mao Trạch Đông.
Xét lại trong năm 1952, trên thế giới có những việc quan trọng như sau:
Về phe đế quốc:
Đế quốc Mỹ đi đến bước đường cùng, đã dùng những thủ đoạn cực kỳ dã man hung ác mà bọn phát xít Hítle cũng không dám dùng, tức là Mỹ đã dùng chiến tranh vi trùng giết hại nhân dân Triều Tiên. Việc đó đã làm cho nhân dân thế giới kịch liệt chống lại đế quốc Mỹ. Mỹ lại dùng mọi thủ đoạn, nhất là không chịu thả hết tù binh chiến tranh, để phá hoại cuộc đàm phán đình chiến do Liên Xô đề ra.
Ngoài việc dốc hết lực lượng để chuẩn bị chiến tranh, làm cho kinh tế trong nước chúng càng lâm vào khủng hoảng và nhân dân nước chúng càng nghèo nàn, phe Mỹ lại ra sức vũ trang lại Tây Đức và Nhật Bản, dùng làm vây cánh, hòng tiến công Liên Xô, Trung Quốc. Song kinh nghiệm lịch sử cho ta biết rằng: chúng "nuôi cọp, sẽ bị cọp cắn".
Đế quốc Pháp thì vâng lệnh của Mỹ mà ra tay đàn áp phong trào dân tộc dân chủ ở Pháp và phong trào dân tộc giải phóng ở các nước thuộc địa Pháp. Chúng không quản chết nhiều người, hại nhiều của, vẫn cố sống cố chết đeo đuổi chiến tranh xâm lược ở Việt- Miên - Lào. Phong trào của nhân dân Pháp đòi độc lập và chống chiến tranh ở Việt Nam ngày càng cao. Tình hình kinh tế và chính trị khó khăn của Pháp đã khiến Chính phủ phản động Pháp lập lên đổ xuống 18 lần từ 1945 đến nay.
Về phe dân chủ:
Phong trào dân tộc giải phóng ở các thuộc địa và các nước phụ thuộc ở châu Phi, Cận Đông và Đông Nam Á lên đều và mạnh.
Phong trào hoà bình dân chủ ngày càng lan rộng. Hội nghị hoà bình châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh (10-1952) và Đại hội nhân dân thế giới bảo vệ hoà bình ở Viên (12-1952) đã thành công to lớn.
Hội nghị kinh tế thế giới ở Mạc Tư Khoa (4-1952) đã phá chính sách của đế quốc Mỹ bao vây kinh tế Liên Xô và các nước dân chủ mới.
Công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước dân chủ mới Đông Âu, đã có kết quả rực rỡ.
Trung Quốc đã thắng lợi lớn trong những cuộc vận động chống Mỹ, giúp Triều, đàn áp phản cách mạng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí và trị bọn gian thương, chia ruộng đất cho nông dân.
Việc chia ruộng đất cho nông dân ở Trung Quốc đã thành công to lớn. Tính đến cuối năm 1952, hơn 500 triệu nông dân đã được hưởng hơn 700 triệu mẫu ruộng. Trước kia, nông dân mỗi năm phải nộp cho địa chủ hơn 30 triệu tấn thóc địa tô, nay số thóc ấy là của nông dân. Vì đã thoát khỏi ách áp bức của địa chủ, nông dân đã rất hăng hái tăng gia sản xuất. Kết quả rõ rệt là so với năm 1949, thì năm 1950 lương thực tăng 20%, năm 1952 tăng 40%.
Thành phần xã hội trong nông thôn thay đổi rất nhiều, trước kia trong làng, trung nông chiếm 20% nay tăng lên 80%, bần nông trước kia hơn 70% nay giảm xuống chỉ có 10% đến 20%. Quyền kinh tế đã được nâng cao thì quyền chính trị cũng được nâng cao và được đảm bảo: chỉ tính 4 khu Hoa Trung, Trung Nam, Tây Nam và Tây Bắc, nông hội đã có hơn 88 triệu hội viên, trong đó hơn 30% là phụ nữ, 60% đến 80% nông dân đã tổ chức thành những hội đổi công, hợp tác xã, v.v.. Nông dân lao động đã thành cột trụ của chính quyền ở nông thôn, do đó mà nhân dân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc. Nông dân đã giúp Chính phủ tiêu diệt hơn 2 triệu thổ phỉ. Họ đã vừa đào kênh vừa đắp đê được 1.700 triệu thước khối đất, đã cứu được hơn 660 vạn mẫu ruộng khỏi nạn lụt lội và hạn hán. Không bị địa chủ áp bức bóc lột nữa, nông dân tiêu dùng dồi dào; so với năm 1949 thì năm 1952 sức mua hàng của họ tăng 25%, do đó mà công nghệ và thương nghiệp mau phát triển. Văn hoá cũng lên vùn vụt. Hơn 49 triệu trẻ con nông dân đã vào trường tiểu học. Vì trình độ giác ngộ lên cao, lòng yêu nước thêm nồng nàn, cho nên trong phong trào chống quan liêu, tham ô, lãng phí và trong công cuộc chống Mỹ, giúp Triều, nông dân rất hăng hái.
Những thắng lợi ấy đã tạo điều kiện cho Trung Quốc năm nay làm ba công tác to lớn về chính trị và kinh tế, tức là: tiếp tục đẩy nhanh công cuộc chống Mỹ, giúp Triều, chuẩn bị bầu cử Quốc hội, và bắt đầu kế hoạch 5 năm.
Đại hội thứ XIX của Đảng Cộng sản Liên Xô (10-1952) chẳng những là một thắng lợi lớn của nhân dân Liên Xô mà cũng là thắng lợi chung của cả giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc nhược tiểu toàn thế giới.
Báo cáo của đồng chí Malencốp đọc trước Đại hội, đã nói rõ tình hình thế giới hiện nay, vạch rõ âm mưu gây chiến của phe đế quốc do Mỹ cầm đầu, và những mâu thuẫn sâu sắc giữa các đế quốc; nói rõ sự tiến bộ của phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo và lực lượng to lớn của Liên Xô đang tiến mạnh đến chủ nghĩa cộng sản. Báo cáo của đồng chí Malencốp lại dạy chúng ta cách thật thà tự phê bình và phê bình để luôn luôn tiến bộ.
Báo cáo của đồng chí Malencốp và những báo cáo khác trong Đại hội đều căn cứ trên nền tảng lý luận của quyển sách do đồng chí Xtalin mới viết, quyển "Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô” và đưa những con số, những sự thật chắc chắn để chứng tỏ lý luận ấy.
Quyển sách ấy phát triển và làm thêm phong phú chủ nghĩa Mác- Lênin. Trong một quyển sách chỉ độ 100 trang, đồng chí Xtalin đã nêu ra và đã giải quyết những vấn đề chính, như:
- quy luật kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa,
- sự sản xuất hàng hoá trong chế độ xã hội chủ nghĩa,
- quy luật giá trị trong chế độ xã hội chủ nghĩa,
- cách nâng cao tài sản của nông trường tập thể lên thành tài sản chung của toàn dân,
- quy luật kinh tế căn bản của chủ nghĩa tư bản ngày nay và quy luật kinh tế căn bản của chủ nghĩa xã hội,
- 3 điều kiện cốt yếu để tiến từ chủ nghĩa xã hội đến chủ nghĩa cộng sản,
- sự xoá bỏ những phân biệt chính giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay,
- thị trường thế giới chia làm hai thị trường, và tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thêm trầm trọng.
Quyển sách ấy dạy chúng ta xem xét thêm sáng suốt tương lai của thế giới và làm cho chúng ta càng chắc chắn về tiền đồ nhất định thắng lợi của chúng ta. Cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng cần phải nghiên cứu những tài liệu của Đại hội thứ XIX, nhất là quyển sách mới của đồng chí Xtalin, và phải biết áp dụng vào hoàn cảnh kháng chiến, kiến quốc của chúng ta.
Đồng chí Xtalin đã chỉ rõ nhiệm vụ và mục đích của phong trào bảo vệ hoà bình thế giới hiện nay.
Phe đế quốc vẫn chuẩn bị gây chiến. Nạn chiến tranh vẫn đe doạ thế giới. Nhưng phong trào ủng hộ hoà bình thế giới ngày càng mạnh. Và gần đây, câu trả lời của đồng chí Xtalin cho báo Mỹ lại càng tỏ rõ thêm chính sách hoà bình của Liên Xô. Cố nhiên chính sách ấy được nhân dân thế giới nhiệt liệt ủng hộ. Chúng ta có thể đoán rằng: nếu phe đế quốc điên rồ đẩy đến thế giới chiến tranh, thì thế giới chiến tranh thứ ba sẽ kết liễu chế độ tư bản trên khắp hoàn cầu.
Trong Đại hội thứ XIX, đồng chí Xtalin đọc một bài diễn văn lịch sử, chỉ thị cho những người cộng sản và dân chủ chúng ta phải kiên quyết nâng cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ để chiến thắng bọn đế quốc xâm lược và làm chúng ta thêm tin tưởng vào tiền đồ vẻ vang của chúng ta.
TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
Trước khi báo cáo tình hình trong nước, tôi thay mặt Trung ương và toàn Đảng, thân ái gửi lời cảm ơn và khen ngợi:
- Bộ đội ta (Vệ quốc quân, bộ đội địa phương, dân quân du kích) đã hăng hái thi đua giết giặc lập công.
- Đồng bào ở vùng tạm bị chiếm cũng như đồng bào ở vùng tự do đã hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thi đua nộp thuế nông nghiệp, thi đua đi dân công giúp các chiến dịch.
Về phe địch:
Đầu năm 1952, chúng thất bại to ở chiến dịch Hoà Bình. Cuối năm 1952, chúng thất bại to ở chiến dịch Tây Bắc.
Càng thất bại, chúng càng điên rồ. Chúng thẳng tay bóc lột, áp bức, càn quét những vùng du kích và vùng tạm bị chiếm, hòng phát triển nguỵ quân, nguỵ quyền, để thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Chúng tìm mọi cách để phá hoại mùa màng và giao thông của ta.
Một mặt khác, chúng lạy lục Mỹ, xin Mỹ viện trợ thêm cho chúng, dù Mỹ đang bị sa lầy ở Triều Tiên.
Gần đây, đế quốc Mỹ, Anh, Pháp lại định lập một mặt trận thống nhất do Mỹ cầm đầu, để chống lại cuộc kháng chiến Triều Tiên, Việt-Miên-Lào và Mã Lai.
Địch càng thất bại thì chúng càng hung tàn. Nên tuy thắng lợi nhiều, chúng ta quyết không được chủ quan, khinh địch. Trái lại, chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng xâm lược đất đai, bóc lột nhân dân các nước hậu tiến là một trong những tính chất căn bản của tư bản độc quyền. Đế quốc Pháp, Mỹ rất thèm muốn nguồn nguyên liệu phong phú của nước ta (như gạo, cao su, than, thiếc...). Chúng muốn chiếm nước ta làm một căn cứ quân sự để tiến công Trung Quốc. Vì vậy mà chúng cố sống cố chết bám lấy Việt - Miên - Lào. Cho nên kháng chiến của ta nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ. Và từ nay cuộc chiến tranh giữa ta với địch sẽ gay go, phức tạp hơn.
Về phía ta:
Để duy trì kháng chiến trường kỳ và đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, chúng ta phải làm gì?
Đây tôi đặc biệt nhấn mạnh vào hai vấn đề chính sau đây:
1. Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự
Để đánh thắng thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn chó săn của chúng, ta phải có một quân đội nhân dân thật mạnh và luôn luôn tiến bộ.
Sau những lớp chỉnh huấn, quân đội ta đã tiến bộ khá. Điều đó đã được tỏ rõ trong những thắng lợi vừa qua. Quân đội ta tiến bộ nhiều về tinh thần, về chiến thuật cũng như về kỹ thuật. Họ đã vượt nhiều khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ. Du kích, vận động, công kiên, bộ đội ta đều đánh khá. Ở đồng bằng, trung du, miền núi, họ đều đánh được.
Cán bộ cũng như chiến sĩ đều tiến bộ.
Chiến sĩ tin tưởng vào cán bộ.
Toàn thể quân đội tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, có thể nói rằng đó là một thắng lợi rất to.
Tuy vậy, một số đơn vị còn mắc những khuyết điểm như: ham đánh to, ăn to, chủ quan khinh địch, tự kiêu tự mãn, tổ chức quá kềnh càng, chế độ tài chính không chặt chẽ, ham chuộng hình thức, cán bộ chưa biết thương yêu chiến sĩ như anh em ruột thịt... Từ nay quân đội ta phải quyết tâm sửa đổi những khuyết điểm ấy.
Năm nay chúng ta cứ tiếp tục chỉnh quân để phát triển và củng cố những tiến bộ đã thu được và sửa chữa những khuyết điểm.
Về mặt chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự thì chúng ta phải làm những việc sau đây:
1- Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do.
Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay.
2- Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bắc Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc, ăn chắc, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch và tạo điều kiện cho vận động chiến.
3- Chiến trường sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân; để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn nguỵ binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch.
4- Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, vùng tự do và những căn cứ du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân, du kích không thoát ly sản xuất. Những tổ chức dân quân, du kích ấy chẳng những có thể phụ trách việc đàn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trị an trong làng xã, bảo vệ lợi ích của quần chúng, đấu tranh với địch và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, mà lại có thể dùng để bổ sung bộ đội chủ lực.
5- Về việc chỉ đạo quân sự cần phải kết hợp những hình thức đấu tranh nói trên một cách linh hoạt, khôn khéo. Như thế, một mặt lợi cho bộ đội chủ lực có thể tìm nhiều cơ hội để tiêu diệt địch; một mặt khác có thể giúp bộ đội, du kích hoạt động và giúp căn cứ du kích của ta sau lưng địch phát triển và củng cố.
6- Trong sự chỉ đạo các hình thức đấu tranh nói trên, cần phải thiết thực nhận rõ tính chất trường kỳ của kháng chiến. Cho nên, phải rất chú ý giữ gìn sức chiến đấu nhất định của bộ đội, không nên làm cho bộ đội hao mòn, mệt mỏi quá. Đồng thời cần phải yêu cầu bộ đội chịu khó, chịu khổ, kiên quyết, gan dạ thi đua diệt địch lập công. Hai điều đó không trái nhau, mà kết hợp với nhau.
7- Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải bảo đảm sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội.
8- Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết là phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, cũng như trình độ chiến thuật và kỹ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác.
Phải tăng cường công tác của Bộ Tổng tham mưu và của Tổng cục cung cấp. Công tác Bộ Tổng tham mưu phải tăng cường mới có thể nâng cao chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội. Công tác của Tổng cục cung cấp phải tăng cường thì mới có thể bảo đảm được sự cung cấp đầy đủ cho chiến tranh và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội.
Nhưng phải kiên quyết phản đối xu hướng sai lầm làm cho các cơ quan phình lên.
9- Phải có kế hoạch chung về việc xây dựng và bổ sung bộ đội. Ngoài việc động viên thanh niên ở vùng tự do tòng quân, cần phải rất chú ý tranh thủ và cải tạo nguỵ binh đã đầu hàng ta để bổ sung cho bộ đội ta. Tổ chức bộ đội mới thì không nên hoàn toàn dùng cán bộ mới và binh sĩ mới, mà nên dùng cách lấy bộ đội cũ làm nền tảng để mở rộng bộ đội mới. Đồng thời cũng không nên vét sạch bộ đội du kích để bổ sung cho bộ đội chủ lực.
10- Cần phải tăng cường và cải thiện dần dần việc trang bị cho bộ đội, nhất là xây dựng pháo binh.
2. Phát động quần chúng năm nay triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức để tiến đến cải cách ruộng đất
Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám6 mới thắng lợi, chính quyền nhân dân thành lập, Chính phủ đã ra lệnh giảm tô. Nhưng cho đến nay, nơi thì giảm không đúng mức, nơi thì chưa giảm. Thành thử đồng bào nông dân không được hưởng quyền lợi chính đáng của họ. Như thế thì cứ nói "bồi dưỡng lực lượng nhân dân, lực lượng kháng chiến" cũng chỉ là nói suông. Năm nay, chúng ta phải kiên quyết thực hiện triệt để giảm tô.
Muốn vậy phải ra sức phát động quần chúng nông dân, làm cho quần chúng tự giác tự nguyện đứng ra đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức và giành lấy ưu thế chính trị ở nông thôn. Đảng và Chính phủ phải lãnh đạo, tổ chức, giúp đỡ, kiểm tra.
Sau khi giảm tô, giảm tức, quần chúng đã được phát động, tổ chức đã vững chắc, lực lượng đã đầy đủ, ưu thế chính trị đã về tay nông dân lao động, đa số nông dân đã yêu cầu thì sẽ thực hiện cải cách ruộng đất.
Cải cách ruộng đất.
Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc.
Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc.
Hoàn cảnh nước ta hiện nay, bên địch thì giặc Pháp dựa vào địa chủ phong kiến phản động do bù nhìn Bảo Đại đứng đầu để phá hoại kháng chiến, bên ta thì vào bộ đội, sản xuất lương thực, đi dân công nhiều hơn hết là nông dân.
Mấy năm trước, vì hoàn cảnh đặc biệt mà ta chỉ thi hành giảm tô, giảm tức, như thế là đúng.
Nhưng ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý.
Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân.
Cải cách ruộng đất sẽ giúp ta giải quyết nhiều vấn đề:
Về quân sự, nông dân sẽ càng hăng hái tham gia bộ đội, để giữ làng giữ nước, giữ ruộng đất của mình. Đồng thời cải cách ruộng đất sẽ có ảnh hưởng to lớn giúp làm tan rã nguỵ quân.
Về kinh tế - tài chính, nông dân đủ ăn đủ mặc, tăng gia sản xuất được nhiều, thì nông nghiệp sẽ phát triển. Họ có tiền mua hàng hoá, thì thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghệ của giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc, cũng như công thương nghiệp quốc doanh sẽ được phát triển. Nông dân hăng hái đóng thuế nông nghiệp thì tài chính của Nhà nước được dồi dào.
Về chính trị, khi nông dân đã nắm ưu thế kinh tế và chính trị trong làng, nhân dân dân chủ chuyên chính sẽ được thực hiện rộng khắp và chắc chắn.
Về văn hoá, "có thực mới vực được đạo", kinh nghiệm các nước bạn cho chúng ta thấy rằng: khi nông dân đã có ruộng cày, đã đủ cơm ăn, áo mặc thì văn hoá nhân dân phát triển rất nhanh.
Còn những vấn đề khác, như công an nhân dân, thương binh bệnh binh, vệ sinh nhân dân, v.v. đều dựa vào lực lượng quần chúng nông dân mà dễ dàng giải quyết.
Về Mặt trận Liên - Việt7, sau khi cải cách ruộng đất, Mặt trận sẽ được mở rộng hơn, củng cố hơn, vì đoàn kết được tất cả nông dân, tức là đoàn kết tối đại đa số đồng bào ta; cơ sở của Mặt trận là công nông liên minh sẽ được vững chắc hơn.
Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức năm nay là một việc rất to lớn và quan trọng. Nó sẽ làm đà cho công việc cải cách ruộng đất sau này. Đảng phải định phương châm, chính sách, phải có kế hoạch, phải có tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. Trước nhất là phải đánh thông tư tưởng trong Đảng, từ trên xuống dưới, phải đánh thông tư tưởng các tầng lớp nhân dân, trước hết là nông dân. Trung ương phải có chỉ thị rõ ràng về việc này. Mong các đồng chí nghiên cứu thật kỹ và thêm ý kiến đầy đủ.
Kinh tế - tài chính.
Về kinh tế - tài chính, sẽ có báo cáo riêng. Ở đây tôi chỉ nhắc lại rằng: ta có tiến bộ nhưng tiến bộ ít. Thuế nông nghiệp vẫn thu chậm và không đúng mức. Chính sách của Chính phủ rất đúng, đồng bào rất hăng hái đóng góp, vì sao mà thu chậm và không đúng mức? Vì nhiều cán bộ nhất là ở cấp dưới, thành phần xã hội không thuần khiết, hoặc không nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, không đi đúng đường lối quần chúng, không gương mẫu, kết quả là không làm tròn nhiệm vụ.
Thuế nông nghiệp như vậy, thuế công thương nghiệp, mậu dịch, dân công, cũng đều như vậy. Năm nay, cán bộ các cơ quan và các địa phương nhất định phải quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm đó để thực hiện thăng bằng thu và chi, bình ổn vật giá, phát triển giao thông, tăng gia sản xuất. Chúng ta phải ra sức bảo vệ và phát triển việc sản xuất, phải thực hành tiết kiệm, phải nhằm vào giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân và cải thiện đời sống của nhân dân. Phải triệt để chấp hành chính sách thuế nông nghiệp và các thứ thuế khác, và chính sách mậu dịch trong nước và mậu dịch với ngoài, thực hiện triệt để chế độ thống nhất quản lý tài chính, chấp hành kỷ luật tài chính một cách nghiêm chỉnh và tăng cường công tác đấu tranh kinh tế với địch.
Năm nay, ngoài hai vấn đề lớn là chỉ đạo kháng chiến và phát động quần chúng, Đảng và Chính phủ vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh 3 nhiệm vụ lớn và 4 công tác chính đã bắt đầu từ năm ngoái.
3 nhiệm vụ lớn là:
- Tiêu diệt sinh lực địch,
- Phá âm mưu của địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh,
- Bồi dưỡng lực lượng nhân dân, lực lượng kháng chiến.
4 công tác chính là:
- Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm,
- Đẩy mạnh công tác trong vùng sau lưng địch,
- Chỉnh quân,
- Chỉnh Đảng.
3 nhiệm vụ và 4 công tác ấy đều quan hệ mật thiết với hai vấn đề to nói trên.
Vì chỉ có thực hành chính sách ruộng đất một cách đúng đắn và triệt để, thì mới có thể phát động được quần chúng đông đảo, mới có thể dựa vào lực lượng nông dân để duy trì kháng chiến trường kỳ, phát triển và củng cố bộ đội, tranh lấy thắng lợi hoàn toàn.
Còn những việc quan trọng khác mà chúng ta phải làm là:
Vấn đề dân tộc.
Chúng ta phải cố gắng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số và giáo dục đồng bào thiểu số, để chuẩn bị điều kiện cho việc lập dần dần những vùng dân tộc tự trị. Việc này rất quan hệ với kháng chiến. Địch dùng tự trị giả để chia rẽ các dân tộc, để phá hoại sức kháng chiến. Ta phải kịp thời dùng tự trị thật để đoàn kết các dân tộc, để đẩy mạnh kháng chiến.
Vấn đề Việt - Miên - Lào.
Cho đến nay, chúng ta giúp kháng chiến Miên - Lào chưa đúng mức. Từ nay chúng ta phải cố gắng giúp hơn nữa. Ta phải nhận rõ rằng: hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thật sự và hoàn toàn.
Vấn đề liên lạc với các nước bạn.
Năm ngoái, ta có những đoàn đại biểu nhân dân đi thăm vài nước bạn và đi dự các cuộc hội nghị quốc tế. Do đó mà tình hữu nghị giữa ta và các nước bạn khăng khít thêm. Đồng thời, ta lại học được nhiều kinh nghiệm quý báu của các nước bạn. Năm nay, chúng ta cố gắng phát triển mối quan hệ thân thiện ấy.
Vấn đề ủng hộ hoà bình thế giới.
Mấy năm nay chúng ta có làm, nhưng đã mắc khuyết điểm là có bề rộng không có bề sâu, hình thức hơn là thực tế, vì thường chỉ khoán trắng cho một số cán bộ phụ trách, còn những cán bộ khác thì ít quan tâm đến. Năm nay chúng ta phải làm thiết thực hơn, phải làm cho nhân dân ta hiểu rằng: ủng hộ hoà bình thế giới có quan hệ mật thiết với phát triển kháng chiến của ta.
Các đồng chí,
Đảng ta đã đưa cuộc kháng chiến cứu nước từ bước thấp đến bước cao, từ chỗ thắng nhỏ đến chỗ thắng lớn. Sở dĩ được như thế là vì Đảng ta và chỉ có Đảng ta thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đảng ta nhận rõ kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ. Đảng ta quyết lãnh đạo quân đội và nhân dân vượt mọi khó khăn gian khổ - mà càng gần thắng lợi càng nhiều gian khổ khó khăn - để tranh lấy thắng lợi hoàn toàn. Sở dĩ được như thế là vì Đảng ta và chỉ có Đảng ta toàn tâm toàn lực phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.
Đảng ta là một đảng tiên phong anh dũng. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của Đảng thì toàn thể cán bộ và đảng viên, từ trên đến dưới, bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, đều phải:
- kiên quyết chấp hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ;
- đi đúng đường lối quần chúng;
- quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí;
- làm gương mẫu trong việc thi đua học tập, chiến đấu, tăng gia sản xuất, v.v..
- thật thà tự phê bình và phê bình để luôn luôn tiến bộ.
Tôi chắc rằng với sự lãnh đạo, giáo dục và kiểm tra của Trung ương, với quyết tâm của mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, với sự giúp đỡ của các đảng bạn, với sự phê bình, kiểm thảo của quần chúng, chúng ta nhất định làm được như thế và chúng ta nhất định thắng lợi.
Tôi xin tuyên bố cuộc Hội nghị lần thứ tư của Trung ương khai mạc.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 7-20
_______________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ NÔNG VẬN VÀ DÂN VẬN TOÀN QUỐC
Nước ta phải đi đến dân chủ thực sự. Dân chủ thực sự là chống phong kiến địa chủ và chống đế quốc.
Sau 80 năm nô lệ, nhân dân ta nổi lên đánh đổ đế quốc giành lại độc lập. Bọn phong kiến địa chủ lại mưu bán nước. Trong chính phủ bù nhìn là những ai? Bảo Đại và những tên đầu sỏ khác đều là bọn đại địa chủ phong kiến. Đế quốc lợi dụng phong kiến địa chủ để cướp nước ta. Phong kiến địa chủ bám vào đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta. Vì thế, muốn kháng chiến thắng lợi không những phải đánh đổ đế quốc mà còn đánh đổ cả phong kiến địa chủ.
Các nước dân chủ mới như Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ Đông Âu đều chia ruộng đất cho dân cày. Nội dung cách mạng dân chủ căn bản là giải phóng cho nông dân, chia ruộng đất cho nông dân. Nội dung cách mạng dân tộc cũng là giải phóng cho nông dân. Bao giờ ở nông thôn nông dân thật sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới là dân chủ thực sự. Vì nước ta ở trong hoàn cảnh đặc biệt, cách mạng vừa thành công thì phải kháng chiến ngay, cho nên từ đó đến nay Đảng và Chính phủ áp dụng chính sách giảm tô, giảm tức hợp với điều kiện nước ta, như thế là đúng, nhưng có chỗ giảm chưa đúng, có chỗ chưa giảm, chính sách giảm tô chưa được thi hành triệt để.
Chính sách của Đảng và của Chính phủ là đúng, vì sao mà không thi hành được triệt để?
Vì cán bộ không nắm chính sách, lập trường không vững, muốn được lòng nông dân mà cũng muốn được lòng địa chủ, có khi muốn được lòng địa chủ hơn, cán bộ tự tư tự lợi; mình tuy ở trong Đảng nhưng còn cái đuôi phong kiến địa chủ thò ra. Chưa gột rửa sạch tư tưởng phong kiến địa chủ, xui nông dân xung phong mà mình không xung phong; thậm chí tham ô, lãng phí, cán bộ từ khu, tỉnh, huyện, xã hoặc nhiều hoặc ít đều mắc khuyết điểm trên. Nói tóm lại, trong đầu óc cán bộ còn rất nặng những tư tưởng địa chủ.
Các cô các chú cần phải gột rửa cho sạch tư tưởng phong kiến địa chủ.
Địa chủ cũng có đôi người làm cách mạng, nước ta cũng như các nước khác, ta cũng có vài đồng chí, đại địa chủ mà làm cách mạng, hồi bí mật có bao nhiêu tiền của giúp cho Đảng hết, cam tâm chịu tù đày. Họ tuy là người trong giai cấp địa chủ nhưng lập trường và tư tưởng đã đứng về phe vô sản, là người của giai cấp công nhân.
Chắc các cô các chú có nghe nói chuyện đồng chí Bành Bái ở Trung Quốc, gia đình đồng chí ấy là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ phong kiến.
Vấn đề xuất thân có quan hệ thật nhưng nếu xuất thân là địa chủ nhưng đứng hẳn về phía nông dân, thì không phải là địa chủ nữa. Trung Quốc gọi những địa chủ hoan nghênh cải cách ruộng đất là "thân sĩ khai minh". Cho nên, nếu kiên quyết rửa sạch tư tưởng địa chủ, thì dù xuất thân là địa chủ vẫn tham gia được cách mạng.
Nói tóm lại: lập trường phải cho vững, tư tưởng phải dứt khoát.
Lập trường không vững vàng, tư tưởng không dứt khoát, thì nghiên cứu gì cũng không thực hành được cách mạng ruộng đất.
Vì giảm tô chưa thực hiện được triệt để, cho nên năm nay Đảng và Chính phủ phải chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô. Từ năm 1949 đã có sắc lệnh giảm tô, đến nay đã 4 năm mà vẫn chưa thực hiện triệt để. Xem đó thì biết rằng giảm tô không phải là một vấn đề giản đơn, nó là một bộ phận của giai cấp đấu tranh, giai cấp nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ. Đây cũng là một chiến dịch, nhưng chiến dịch này to và rộng hơn chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, vì nó mở ra khắp cả nước. Nó càng khó hơn đánh giặc, vì đánh giặc thì đưa vũ khí ra mà đánh, trong chiến dịch này nông dân không đưa súng đạn ra đánh với địch, nhưng phải dùng một thứ vũ khí mạnh hơn, tức là lực lượng tổ chức và lực lượng đoàn kết của hàng triệu nông dân. Đảng và Chính phủ là Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu của cuộc đấu tranh này. Cũng như mọi chiến dịch khác, nó phải có chính sách rõ ràng, phương châm đúng đắn, kế hoạch đầy đủ, có tổ chức, có lãnh đạo, chứ không phải nói "phóng tay phát động" quần chúng là phóng tay lung tung. Khi thi hành không được "tả", không được "hữu". "Tả" và "hữu" đều thất bại. Phải theo đúng chính sách và phương châm. Cũng như đánh giặc, ta phải biết có thể làm được gì, chưa làm được gì, làm thế nào, bước đầu như thế nào, bước thứ hai, thứ ba thế nào? Muốn theo đúng chính sách, phương pháp, kế hoạch, muốn lãnh đạo đúng, thì lập trường phải vững, tư tưởng phải thông.
Tư tưởng và hành động phải nhất trí, lý luận và thực hành phải nhất trí, cán bộ trên dưới phải nhất trí, cán bộ và nông dân phải nhất trí, thì mới chắc thành công.
Một điểm nữa là phải tuyệt đối tránh chủ quan; không nắm trọng điểm mà cái gì cũng muốn nắm hết, làm hết, muốn cho mau, tưởng có phương châm chính sách rồi thì cái gì cũng trôi chảy. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng giai cấp địa chủ rất nhiều mưu mẹo, rất xảo quyệt, rất hung ác. Nguyên tắc đấu tranh là: "Tri bỉ tri kỷ", nghĩa là biết địch biết ta. Nếu chỉ biết mình mà không biết địch hay là chỉ biết địch mà không biết mình là chỉ biết một nửa và không thể thành công. Giai cấp địa chủ có trăm phương nghìn kế, từ mua chuộc cán bộ, mời cán bộ ăn, gả con cho cán bộ đi đến chỗ phá hoại mùa màng, tổ chức rối loạn, ám sát cán bộ và nông dân. Địa chủ không từ âm mưu thâm độc nào, đối phó với chúng không phải là dễ. Chúng có kinh nghiệm từ mấy nghìn năm thống trị, nhiều mưu mẹo, nếu ta khinh địch thì sẽ thất bại.
Phát động quần chúng như thế nào? Phát động phải nhằm vào tổ chức. Bất cứ lực lượng nào nếu không tổ chức chặt chẽ thì không có hiệu quả. Khi tổ chức rồi phải giáo dục, làm cho quần chúng tự giác, tự động, biết sức lực của họ, biết quyền lợi của họ, làm cho họ mạnh dạn đấu tranh. Phát động quần chúng phải tránh bao biện, phải tránh quan liêu mệnh lệnh, ép buộc, cán bộ về địa phương là để giúp nông dân tổ chức, giúp nông dân giác ngộ, đoàn kết đấu tranh. Làm thế nào khi cán bộ rút đi rồi, phong trào vẫn cứ tiếp tục phát triển không xẹp xuống. Lúc cán bộ về làng thì phong trào lên, khi cán bộ rút đi thì phong trào xuống, đó là vì cán bộ quan liêu mệnh lệnh, không biết bồi dưỡng cốt cán.
Phát động quần chúng không phải như lửa rơm, đốt cháy bùng lên rồi tắt ngay. Phải làm cho quần chúng giác ngộ, làm cho phong trào ăn sâu trong địa phương, tự quần chúng nêu vấn đề, tự họ giải quyết vấn đề, tự họ tranh đấu. Không phải cán bộ học được gì rồi thì mang nói cho nông dân ngồi nghe. Vì thế, trước hết cần chú ý vấn đề tổ chức. Hiện nay có Nông hội chỉ có tên không có thực, không có sinh hoạt, thiếu giáo dục, vì những phần tử xấu nắm quyền lãnh đạo. Vì thế phải chỉnh đốn tổ chức, nơi nào chưa có Nông hội thì phải tổ chức, nơi nào đã có thì phải củng cố rồi phát triển.
Không phải tổ chức Nông hội rồi là xong việc, vì vấn đề nông dân, vấn đề ruộng đất rất phức tạp, cho nên tổ chức nó cũng phức tạp và nhiều hình thức. Chỉ tổ chức Nông hội để tranh đấu giảm tô mà thôi thì cũng chưa đủ. Khi tổ chức tranh đấu giảm tô đồng thời phải tổ chức tăng gia sản xuất. Nếu chỉ tổ chức tranh đấu giảm tô và tăng gia sản xuất mà thôi, cũng chưa đủ. Tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống của nhân dân, cung cấp cho bộ đội, nhưng còn phải tổ chức công an, dân quân địa phương để ngăn ngừa địa chủ phá hoại, để giữ gìn những kết quả đã tranh đấu được và tăng gia sản xuất được.
Tổ chức rồi phải giáo dục huấn luyện quần chúng. Phải lấy thực tế hành động tranh đấu hằng ngày để giáo dục, làm cho quần chúng thấy lực lượng của họ, phát huy sáng kiến, tự họ giải quyết vấn đề, tự họ nâng cao địa vị kinh tế, chính trị, văn hoá của họ. Muốn thực hiện như thế, không phải mệnh lệnh bắt quần chúng phải theo, mà phải làm cho họ tự giác tự động. Cán bộ phải nắm vững chính sách của Đảng, của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng. Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ.
Phát động quần chúng triệt để giảm tô không phải là việc giản đơn dễ dàng. Nhưng có phải vì khó mà sợ không? Ta phải thấy rõ những phức tạp, khó khăn để chuẩn bị khắc phục nó. Muốn khắc phục nó thì phải tổ chức quần chúng, dựa vào quần chúng, học hỏi quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, việc gì cũng bàn bạc với quần chúng, thì dù vấn đề khó khăn mấy cũng sẽ giải quyết được hết.
Đó là một chiến dịch to lớn, phức tạp, khó khăn, phải thấy rõ sự thực như thế để quyết tâm khắc phục. Nhất định ta làm được, vì ta có Đảng, có chính quyền, có Mặt trận, có bộ đội, có kinh nghiệm quốc tế, đồng thời ta có hàng triệu chiến sĩ nông dân, khi đã giác ngộ thì họ là những chiến sĩ quyết chiến quyết thắng.
Với một Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu mạnh mẽ là Đảng, Chính phủ, với một bộ đội có hàng triệu người, với số cán bộ như các cô các chú ở đây và hàng nghìn hàng vạn cán bộ khác thì kẻ địch nào ta cũng đánh tan được.
Bác nhắc mấy điều nữa.
Bác cảm thấy các cô các chú ở địa phương đến đây mang một ba lô vấn đề muốn giải quyết cả ở đây. Như thế là không đúng. Các cô các chú phải biết rằng khi về địa phương thì tình hình có thể biến đổi khác, cho nên chủ yếu là cán bộ nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thì dù gặp thiên biến vạn hoá cũng giải quyết được. Vì vậy các cô, các chú cố gắng nắm vấn đề chính mà nghiên cứu cho sâu, mà đánh thông tư tưởng và tự nhắc nhủ mình dù khó khăn phức tạp mấy nhưng quyết tâm quyết chí thì nhất định làm tròn được. Điều nữa là phải hiểu: Đảng lãnh đạo nông dân, không phải nông dân lãnh đạo Đảng; các cô các chú phải nhận rõ mình là giai cấp công nhân lãnh đạo nông dân. Cán bộ nào nói "mình thay mặt nông dân"... là nói sai. Mình là đảng viên phải phục vụ nông dân, lãnh đạo nông dân kháng chiến kiến quốc, nhưng không phải là mình đứng vào địa vị nông dân.
Mong các cô các chú cố gắng làm cho Hội nghị thành công.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 25-29.
BÀI NÓI CHUYỆN TRONG BUỔI KHAI MẠC LỚP CHỈNH HUẤN CÁN BỘ ĐẢNG, DÂN, CHÍNH Ở CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
Trước hết tôi thay mặt cho Trung ương Đảng hoan nghênh đại biểu Chính phủ, Quốc hội đến tham gia buổi khai mạc này.
Thứ hai tôi thay mặt Trung ương, các cô các chú cảm ơn các anh chị em đã xây dựng thành những toà ngang toà dọc như thế này.
Bây giờ vào đề:
Chúng ta có thể nói một cách tự hào là: Đảng Lao động Việt Nam là thừa kế của Đảng Cộng sản Đông Dương, là một Đảng anh hùng.
Vì Đảng đã lãnh đạo nhân dân nổi lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, đã lãnh đạo bộ đội, nhân dân kháng chiến mấy năm và càng kháng chiến càng mạnh.
Nếu Đảng đã thập toàn thập mỹ thì tại sao lại phải chỉnh? Là vì có số đông đảng viên gương mẫu, tận tâm tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân, giai cấp, nhưng còn một số, không phải là ít, không làm đúng chính sách của Đảng, của Chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, còn tếu.
Những đảng viên ấy chưa thực đúng đắn cho nên phải chỉnh.
Lúc Đảng Lao động Việt Nam ra đời có tuyên bố trước nhân dân, trước thế giới, tuyên bố thế nào?
"Đảng Lao động Việt Nam gồm có những công nhân, nông dân, lao động trí óc yêu nước nhất, hy sinh nhất, gồm những người phụng sự nhân dân lao động, chí công vô tư, gương mẫu trong công tác kháng chiến và kiến quốc".
Nhưng các cô, các chú cán bộ đảng viên thử hỏi mình xem đã làm đúng với lời Đảng đã tuyên bố trước nhân dân, trước thế giới chưa? Chưa đúng!
Chỉ lấy một điều mà nói: Trong Điều lệ Đảng có nói: đảng viên chẳng những phải giữ kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác của Đảng mà còn phải gìn giữ kỷ luật chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân.
Sự thực nhiều đảng viên, cán bộ chẳng làm đúng như thế, đã không giữ đúng kỷ luật của chính quyền, cơ quan đoàn thể, nhân dân. Thậm chí có khi phớt cả thủ trưởng, bộ trưởng, đi không xin phép, về không báo cáo, tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất gì thì làm.
Các đảng viên cán bộ đó không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một.
Còn đảng viên cán bộ không biết giữ đoàn kết giữa trong và ngoài Đảng thành ra làm chia rẽ...
Bây giờ nói chung cho anh em ngoài Đảng cũng như trong Đảng. Tục ngữ có câu: thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho ngào. Ở đây tôi nói thật hết, nói như rìu chém đá, rạ (dao rựa) chém đất. Có khuyết điểm là nói kỳ hết.
Các cán bộ trong Đảng có cái tếu nhất là phớt kỷ luật của đoàn thể, cơ quan, không đoàn kết giữa trong ngoài. Đó là khuyết điểm nhất. Do đấy sinh nhiều khuyết điểm khác.
Làm như vậy tức là không đúng kỷ luật của Đảng, không đúng chính sách, Tuyên ngôn của Đảng.
Còn anh em ngoài Đảng thế nào? Anh em đó đã trông Đảng, nhìn Đảng qua những cán bộ đảng viên ấy. Rồi tưởng Đảng thiên tư, thiên lệch.
Các sự hiểu lầm ấy, Đảng phải phụ trách một phần, là vì sự giáo dục đảng viên như vậy chưa đầy đủ, sự kiểm soát chưa đầy đủ.
Còn anh em ngoài Đảng nghi ngờ Đảng thì có một phần. Khuyết điểm là: thấy cây nhưng không thấy rừng. Thấy đảng viên như vậy thì tưởng Đảng cũng như vậy.
Anh em ngoài Đảng cho Đảng là thiên tư thiên vị.
Có không? Có. Nhưng cái "thiên" không phải như anh em ngoài Đảng đã tưởng. Cái "thiên" ở đấy là:
Thí dụ: hai anh A là người trong Đảng và B là người ngoài Đảng, hai người cũng làm một cơ quan ấy, cũng có thành tích như nhau thì anh A được khen thưởng thấp hơn anh B.
Trái lại hai anh A, B cũng có khuyết điểm, cũng một khuyết điểm ấy thì anh A phải bị phê bình hay xử trí nặng hơn anh B.
Một thí dụ nữa: trong việc chỉnh huấn, tất cả các đảng viên đều phải đến chỉnh huấn, còn các anh em ngoài nếu tự nguyện tự giác tham gia thì Đảng rất hoan nghênh, không bắt buộc ai.
Rồi đây trong chỉnh huấn phải có kiểm thảo. Tất cả các đảng viên bắt buộc phải đào cho đến tận gốc tận rễ những sai lầm; không như thế là không được.
Còn các anh em ngoài, tôi mong rằng anh em tiến hành tự phê bình và phê bình, nói cho hết sai lầm, Đảng rất hoan nghênh lòng tự nguyện tự giác đó.
Đảng không có bao bọc đâu! Nghĩ như thế là không phải. Tuyên ngôn đã nói: Đảng là của công nhân, nông dân, lao động trí óc. Như vậy, Đảng không phải là nhóm để tranh địa vị, tranh tước lộc.
Nhưng cũng do những hành động, thái độ của đảng viên, cán bộ trong cơ quan, đoàn thể làm anh em cán bộ ngoài Đảng, nhất là ở cơ quan chính quyền mà đa số là trí thức, có một thành kiến không đúng tưởng Đảng và Chính phủ không trọng trí thức.
Mà chính anh em cán bộ cũng có cảm tưởng như vậy. Sự thực không phải như thế.
Chính là những đảng cách mạng lại càng trọng trí thức: vì muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ phải cần các kỹ sư, v.v..
Tóm lại cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức.
Nhưng trọng trí thức như thế nào? Không phải tất cả đều là trọng.
Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Thí dụ rất rõ ràng: lần đầu tiên ta có cuộc bầu các anh hùng chiến sĩ lao động. Trong 7 anh hùng lao động có một anh hùng lao động trí óc là chú Nghĩa. Trong 150 chiến sĩ lao động có hơn 10 chiến sĩ lao động trí óc.
Nói rộng hơn nữa, các cô các chú xem, chỉ có trí thức như ở Liên Xô và các nước dân chủ mới mới được phát triển, trọng đãi và bồi dưỡng.
Ở các nước tư bản không thể có được.
Vậy vì sao Đảng và Chính phủ ta lại trọng trí thức?
1) Vì Đảng và Chính phủ muốn xây dựng nước dân chủ nhân dân, như phát triển văn hoá, giữ gìn sức khoẻ cho nhân dân, xây dựng kỹ nghệ.
2) Trí thức nước ta cũng như trí thức tại các nước thuộc địa, bán thuộc địa hay các dân tộc bị áp bức, khác với trí thức các nước tư bản đế quốc.
Ở các nước tư bản đế quốc, trí thức đa số là ở trong giai cấp tư sản mà ra rồi lại trở lại phục vụ cho tư bản.
Ở nước ta thì khác, dù là trí thức một số khá đông thuộc thành phần phú nông, địa chủ, phong kiến, tư sản mà ra nhưng cũng đều bị đế quốc áp bức.
Thí dụ: 2 người cùng học một trường, 2 người cùng thi đỗ, trong khi học thì người trí thức Việt giỏi hơn người Pháp. Nhưng lúc ra làm việc thì người Việt lại ở dưới người Pháp và ăn lương cũng dưới người Pháp.
Là vì người Việt ở trong dân tộc Việt Nam cho nên bị đế quốc áp bức và đế quốc áp bức được là vì họ dựa vào lực lượng phong kiến Việt Nam. Đế quốc dựa vào phong kiến và trái lại phong kiến cũng dựa vào đế quốc để áp bức nhân dân Việt Nam.
Vì vậy trí thức Việt Nam có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng.
Vì cũng có đầu óc dân tộc và vì có học thức nên xem được sách, biết được dân chủ, biết được lịch sử cách mạng, nhất là lịch sử cách mạng Pháp, nên dễ hấp thụ được tinh thần cách mạng.
Trí thức Việt Nam khác với trí thức tư bản đế quốc như vậy. Cũng vì vậy lúc đã hiểu biết, trí thức ta dễ theo cách mạng, và vì vậy Đảng cách mạng phải dìu dắt, giúp đỡ trí thức của ta dựa vào phe cách mạng, phe công nông.
Trong mấy năm kháng chiến, một bộ phận lớn trí thức Việt Nam đã chịu khó chịu khổ đi với kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến.
Thế là trí thức của ta, trí thức Việt Nam có ưu điểm đấy.
Nhưng không phải như vậy là trí thức của ta mà nói chung là giai cấp tiểu tư sản Việt Nam không có khuyết điểm.
Trí thức ta có khuyết điểm nhiều chứ không phải là ít mà khuyết điểm cũng là do nền giáo dục nhồi sọ, chia rẽ, nô lệ của đế quốc phong kiến làm cho anh chị em trí thức có khuyết điểm ấy.
Khuyết điểm ấy là gì?
Cá nhân chủ nghĩa: cái gì cũng chỉ biết có mình và gia đình mình chứ ít khi nghĩ đến cái gia đình lớn là dân tộc, cái mình lớn hơn là phải hoà vào với dân tộc.
Do khuyết điểm này nên sinh ra khuyết điểm khác. Khuyết điểm khác là gì?
Tính không kiên quyết: làm việc gì cũng thiếu kiên quyết. Lúc vui, hứng lên thì làm. Nếu gặp trở ngại hay thất bại là thụt lùi. Vì không kiên quyết nên dễ lung lay.
Thái độ chờ đợi bàng quan: một thái độ gọi là ngoài giai cấp. Tức là cho mình là trí thức thì không đứng ở phe nào. Cho rằng phe nào cũng có cái hay cái dở. Cách mạng cũng có cái hay, đế quốc cũng có cái hay. Công nhân thì mộc mạc nhưng thô tục, đế quốc có cái "lịch sự, văn minh".
Một người đứng trong xã hội không thể ngoài giai cấp, "siêu giai cấp" được.
Đứng ngoài tức là bị kẹp, như:
- Cây mía giữa máy ép.
- Ngồi giữa hai ghế thì nhất định sẽ ngã.
Chỉ có thể đứng về một phe thôi. Đứng chỗ nào là phải đứng cho vững, đứng chông chênh trong khi xã hội có giai cấp đương biến chuyển mạnh là bị đè bẹp, sẽ bị rời ra mất.
Tính bảo thủ: tức là không có sáng kiến. Trước thế nào là sau cứ làm thế. Không có chịu nghĩ ra cái mới. Nghĩ đến cái mới là ngại, không muốn tiến bộ.
Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả.
Óc làm thuê: đầu óc: "ăn cơm chúa múa tối ngày". Không có đầu óc: cho mình cũng là một người quốc dân thì lợi ích của quốc dân mình phải chịu một phần, phải gánh một phần. Nước nhà có tiến bộ phải gánh vác một phần, phải đưa dân tộc nước nhà tiến bộ lên.
Thái độ như trên là thái độ làm sao để không ai chê trách mình là được, là không thấy mình cũng là một bộ phận của người chủ của nước nhà.
Cũng từ gốc cá nhân chủ nghĩa nên có:
Địa vị: không căn cứ vào công việc của mình, vào năng lực của mình mà cứ so sánh anh này là trưởng phòng, chủ nhiệm, anh kia là phó phòng, phó chủ nhiệm.
Nói tóm lại:
Những bệnh trên đây là bệnh chung của giai cấp tiểu tư sản và anh chị em trí thức bị văn hoá nhồi sọ của thực dân để lại.
Bất kỳ anh chị em đảng viên hay không đảng viên là đều có cả.
Vì có khuyết điểm ấy nên nó ngăn trở mình không có được một chí khí cao thượng, một nhận thức mình là một bộ phận làm chủ của nước nhà.
Tới nay tất cả các đảng viên và không đảng viên mà đại đa số là trí thức, là tiểu tư sản, tự xét mình lại xem với những khuyết điểm ấy.
Vì Đảng và Chính phủ biết là kháng chiến và kiến quốc thì phải cần trong mọi ngành: kinh tế tài chính, quân sự, văn hoá có những người trí thức để giúp vào mới thành.
Do vậy Đảng và Chính phủ rất chú ý đến việc giúp đỡ anh em trí thức cũ tiến bộ, cải tạo tư tưởng, đồng thời đào tạo ra trí thức mới từ lớp công nhân, nông dân ra.
Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi. Nhưng mà việc cải tạo, việc giáo hoá trí thức (bất kỳ là đảng viên hay không đảng viên) của Đảng còn rất ít nên ảnh hưởng sự giáo dục đế quốc còn sâu, sâu lắm.
Các cô các chú cần nhận rõ việc cải tạo đấy là phải tự nguyện tự giác, mình muốn giúp đỡ kháng chiến, kiến quốc thì phải tự nguyện cải tạo.
Đồng thời phải biết là việc cải tạo không dễ đâu! Đó là một cuộc cách mạng trong người; nó lâu dài và gian khổ.
Ai không hiểu như thế là sai lầm.
Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót.
Không phải là việc dễ, vì vậy phải có quyết tâm tranh đấu mới được.
Một thí dụ: anh em trí thức không quen lao động. Bây giờ ra làm công tác lao động, cuốc đất người sẽ mệt mỏi, sẽ ngại. Việc đó cũng cần phải quyết tâm và bền chí. Người mệt mỏi, hôm sau muốn ngủ thêm một giờ nữa.
Đấy là một việc cần tranh đấu! và không phải là dễ đâu. Còn nói về tinh thần, thái độ, thói quen, thì càng khó nữa.
Như vậy thật là một cuộc tranh đấu trường kỳ, gian khổ, phải có quyết tâm mới được.
Vậy nhiệm vụ của Đảng, của Chính phủ, nhất là các đảng viên cán bộ trong Đảng cũng như ngoài Đảng, phải giúp đỡ nhau cùng tranh đấu, cùng cải tạo.
Việc cải tạo đi đến đâu?
Cái gì cũng phải có từng bước, có mục đích. Nó đi đến mục đích: trí thức lao động hoá, công nông hoá.
Đảng có 2 chính sách:
- Công nông trí thức hoá.
- Trí thức công nông hoá tức là anh em trí thức cũng biết trọng lao động, cũng biết làm lao động, hợp thành một khối với công nông, nâng cao trình độ công nông về văn hoá lý luận.
Đấy mới là thật thà đoàn kết.
Đó không phải là một mơ tưởng. Ở Liên Xô đã đi đến rồi. Có nhiều giáo sư đi học các chiến sĩ công nghiệp, nông nghiệp, có chiến sĩ công nghiệp, nông nghiệp đi vào học tại các trường đại học.
Làm như trên để nhằm vào mục đích: kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Vì vậy cho nên trong các cuộc chỉnh huấn, Đảng rất hoan nghênh anh chị em ngoài Đảng, nhưng không bắt buộc ai, tự nguyện tự giác học tập, kiểm thảo để đi đến mục đích công nông trí thức kết thành một khối cùng nhau tiến bộ.
Trước hết là phải cải tạo tư tưởng. Vì có cải tạo tư tưởng thì sau đó anh chị em trí thức mới phát triển được hết sáng kiến, tinh thần trách nhiệm, ý thức lao động và trau dồi cho mình ý thức mình cũng là một bộ phận trong chủ nhân của dân tộc, của kháng chiến, của kiến quốc.
Sau lúc kiểm thảo, tức là bước đầu cải tạo, mình đã có một lập trường, đứng vào phe nào, lúc đó phải nhất định, kiên quyết, kiên cố.
Đứng về phe bị áp bức bóc lột tức là phe công nhân, nông dân, hay phe đi bóc lột thì phải dứt khoát, không thể ngồi trên 2 ghế được.
Năm nay, Đảng đề nghị và Chính phủ quyết nghị: triệt để giảm tô. Chính sách này đề ra mấy năm nay xét lại chưa làm đâu vào đâu cả.
Nông dân là những người đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến, đóng góp sức người, sức của mà những người đó vẫn bị thiệt thòi, trước hết là bần cố nông.
Bởi vậy năm nay Chính phủ quyết định phải triệt để giảm tô, để nông dân được hưởng lợi ích bước đầu của họ, để nông dân hăng hái đóng góp sức người, của cho kháng chiến.
Bây giờ các cán bộ trong Đảng, các cơ quan, các ngành đứng về phe nào?
Chắc chắn đi! Dứt khoát đi! Đứng về phe nông dân hay địa chủ? Chắc các chú các cô cũng biết: đế quốc dựa vào lực lượng nào? Việt gian, phong kiến, địa chủ.
Mấy tên Việt gian là ai? Đều là phong kiến địa chủ, có một số là tư sản mại bản.
Sức kháng chiến, sự hy sinh trước mặt trận nhiều nhất là ai? Là bần cố nông.
Đứng về phe nào?
Đứng về phe hy sinh người, của cho kháng chiến hay đứng về phe theo đế quốc phản kháng chiến?
Đứng về phe tương lai, phe cách mạng hay đứng về phe quá khứ, phe phản động?
- Đấy là lập trường, phải dứt khoát, không được đứng giữa. Các cô các chú nghĩ cho kỹ.
Một việc nữa là: Đảng và Chính phủ rất mong muốn, rất cố gắng mà đoàn kết với từng lớp trí thức, đoàn kết lâu dài trong kháng chiến, trong kiến quốc, thực hành xã hội chủ nghĩa.
Đảng và Chính phủ thành tâm giúp trí thức tiến bộ mãi lên trên bước đường vẻ vang đó, đồng thời đào tạo trí thức ở trong công nông ra. Không phải là dùng cách "đưa áo nâu lên, áo trắng xuống" hay "vắt cam vứt xác". Trí thức công nông hoá, trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần.
Bởi vì xã hội tương lai là một xã hội không có phân biệt giữa trí óc và chân tay.
Vì văn hoá ngày càng cao lên, thì thói quen của trí thức ngày càng hợp với lao động.
Cái đó anh em trí thức cần phải rõ. Không phải là đoàn kết nhất thời. Trên đây là thái độ, mục đích của Đảng với anh chị em trí thức và khuyết điểm của cán bộ đảng viên ở các cơ quan đoàn thể và ưu khuyết điểm của các anh chị em ngoài Đảng.
Một điểm nữa:
Gần đây Đảng có thể công khai triệt để. Trừ một số việc thật là trong Đảng không đưa ra ngoài. Còn phần nhiều việc mà hầu hết các cán bộ khi khai hội sẽ mời anh em ngoài tham gia, phát biểu, phê bình, như vậy làm cho ngoài Đảng càng gần gũi Đảng và đó cũng là mong muốn của Đảng.
Làm như vậy thì:
- Một mặt trong có Đảng kiểm tra đôn đốc.
- Một mặt có anh em ngoài kiểm tra đôn đốc.
Như thế đảng viên và cán bộ ngoài Đảng cùng được giáo dục.
Nếu đảng viên không gương mẫu, người ngoài Đảng có thể nói là không xứng đáng. Hoặc anh em ngoài gương mẫu thì có thể đề nghị Đảng công nhận là đảng viên.
Đảng sẽ thành một Đảng của nhân dân quần chúng thực sự. Như thế thì khuyết điểm mới sửa chữa được, ưu điểm sẽ phát huy được.
Những phần tử đầu cơ vào Đảng có sự đôn đốc kiểm tra của Đảng và nhân dân, sẽ bị lật ra và Đảng sẽ thành trong sạch, kiểu mẫu, thành tâm thành ý phụng sự nhân dân, cách mạng và tất cả các đảng viên mới thành người kiểu mẫu, đoàn kết giúp đỡ được anh em ngoài Đảng.
Đảng sẽ đi đến bước đó không xa nữa.
Như ở đây, lớp chỉnh huấn này là bước đầu đi đến đấy. Các cô các chú trong ngoài Đảng nghiên cứu thấy, nhận xét thấy rồi tự nhận xét phê bình, đó cũng là bước đầu đó.
Vậy đảng viên bắt buộc, lúc kiểm thảo, phê bình tự phê bình phải thật thành khẩn, đào đến tận gốc rễ ưu khuyết điểm, phải nói cho hết.
Và các anh em ngoài Đảng:
Có gì phải nói hết.
Có hoài nghi gì Đảng phải nói hết.
Đối với đảng viên cùng cơ quan có gì phải nói hết.
Đấy không phải là nói xấu mà là giúp cho Đảng sửa chữa.
Rất hoan nghênh và mong các cô, các chú làm được.
Nói thì đứng về tinh thần đoàn kết thân ái, cố nhiên không phải là nói chua nói chát, nói cạnh nói khoé.
Làm như vậy là giúp cho Đảng tiến bộ.
Sau cùng: hiện nay ta đang kháng chiến, bị thiếu thốn, chiến sĩ ngoài mặt trận phải chịu cực chịu khổ.
Nhưng Đảng cố gắng tập trung anh chị em đến đây, vậy phải thi đua, thái độ phải thành thực cầu tiến bộ, cần phải đoàn kết. Lúc kết thúc lớp học phải thành một người mới, tiến bộ nhiều.
Tức là mỗi người thi đua học tập, tiến bộ, kiểm thảo cho kết quả. Học xong trở về cơ quan giúp đỡ anh em nhờ đó mà tiến bộ để giúp cho công việc kháng chiến, giúp cho công việc kiến quốc.
Các cô các chú phải cố gắng để không phụ sự chăm sóc cố gắng của Đảng, của anh chị em cơ quan ở nhà.
Các cô các chú có làm được không?
Mong các cô các chú làm được.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 30-41.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CÁN BỘ LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ TOÀN QUỐC VỀ VẤN ĐỀ PHÁT ĐỘNG QUẦN CHÚNG NÔNG DÂN
Ai phát, ai động, ai là quần chúng?
Trước khi phát phải thế nào? Trong khi phát phải thế nào? Sau khi phát phải thế nào? Thế nào là động? Động rồi phải làm gì?
Chúng ta phải trả lời rõ những câu ấy.
Ai phát? Cán bộ phải phát. Muốn phát, thì cán bộ phải hiểu rõ chính sách của Đảng, của Chính phủ, phải hiểu quần chúng, phải gần gũi, học hỏi quần chúng. Muốn gần gũi, học hỏi quần chúng thì phải làm sao cho quần chúng yêu cán bộ, tin cán bộ. Tư tưởng cán bộ phải thông, cách làm phải dân chủ, phải chí công vô tư, đứng hẳn về phía nông dân. Trước khi phát thì phải nghiên cứu hiểu rõ nơi mình đến làm việc: phong tục tập quán, cách làm ăn của nhân dân, địa chủ bóc lột cách thế nào? Nguyện vọng dân ở đó thế nào? v.v..
Phát là thế nào? Là phải đoàn kết bần, cố, trung nông; phải tổ chức họ chặt chẽ; phải giáo dục cho họ giác ngộ. Bao giờ quần chúng đã tổ chức hẳn hoi, chính quyền đã trong sạch, chi bộ đã chỉnh đốn, nông hội đã vững chắc đã kéo được 90% nhân dân tức là bần, cố, trung nông, thì lúc đó mới thật động được.
Cán bộ phải tránh bao biện, phải giác ngộ cho quần chúng tự họ quyết tâm đấu tranh đòi quyền lợi của mình, lúc đó họ mới động lên được. Cán bộ không thể làm thay cho quần chúng, ban ơn cho quần chúng.
Động rồi thì làm gì? Phải triệt để giảm tô để cải thiện một chừng nào đời sống cho nông dân, tức là cho đại đa số nhân dân.
Giảm tô không phải chỉ mưu lợi nhất thời, ví dụ: trước phải nộp cho địa chủ một tạ, nay giảm được 25 hoặc 50 cân thì đưa về ăn mấy hôm là hết: thế là chỉ cải thiện được mấy bữa. Giảm tô rồi phải thi đua tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất để giúp đẩy mạnh kháng chiến. Giúp đẩy mạnh kháng chiến thế nào? Phải giúp đỡ Chính phủ, giúp đỡ bộ đội bằng cách thi đua đóng thuế nông nghiệp để cải thiện đời sống cho công nhân, cho bộ đội, cho cán bộ... Muốn tăng gia sản xuất thì phải tổ chức hội đổi công.
Đánh giặc không phải chỉ bộ đội đánh mà thôi, còn có dân công nữa. Dân công từ trước lãng phí nhiều. Mấy xã ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ dân công đi có tổ chức, có giáo dục. Người ở nhà có tổ chức giúp đỡ người đi. Người đi thi đua với người ở nhà. Khi đi có hoan tống, khi về có hoan nghênh. Nói tóm lại dân công có tổ chức hẳn hoi thì làm việc được nhiều hơn dân công không có tổ chức. Khéo tổ chức dân công, không lãng phí dân công, thì ảnh hưởng tốt đến việc tăng gia sản xuất.
Thế là phát động quần chúng giảm tô phải đi đôi với thi đua tăng gia sản xuất, thi đua đóng thuế nông nghiệp, đi dân công, tổ chức hội đổi công.
Giảm tô thì ai có lợi? Nông dân có lợi. Ai bị thiệt? Địa chủ bị thiệt. Cho nên không phải địa chủ nào cũng sẵn sàng thi hành giảm tô. Có bọn địa chủ tìm cách chống lại. Từ chỗ nó phá hoại, đến chỗ nó liên lạc với giặc, với bù nhìn. Nông dân phải tổ chức dân quân và công an xã, để giữ lấy quyền lợi của mình, để ngăn ngừa Việt gian, gián điệp, không để chúng nó phá. Thế là xung quanh vấn đề phát động quần chúng giảm tô có nhiều vấn đề khác nữa.
Còn phải phát triển bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ. Thí dụ: nông dân muốn học tập cày cấy, giồng giọt theo lối mới, thì phải biết chữ để xem sách báo.
Chị em phụ nữ có con, muốn tăng gia sản xuất thì không thể mỗi người ngồi nhà giữ con. Cho nên cần tổ chức chỗ gửi trẻ.
Bộ đội cần thêm người, khi giảm tô rồi, nông dân có tổ chức rồi, thì phải giáo dục thanh niên hăng hái tòng quân để đánh giặc, để giải phóng dân tộc, để bảo vệ Tổ quốc.
Ở Liên Xô làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, rồi chia ruộng đất cho nông dân ngay. Ở Trung Quốc cách mạng thắng lợi đến đâu chia ruộng đất đến đấy.
Ở nước ta, chính sách ruộng đất phát triển dần lên. Nếu nông dân tổ chức giác ngộ khá thì nó phát triển nhanh; nếu tổ chức, giác ngộ kém thì nó phát triển chậm. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tổ chức và giáo dục nông dân.
Tóm lại, cán bộ phải nắm vững chính sách của Đảng, của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng, tuyệt đối không bao biện, lúc phát động nông dân phải đoàn kết giác ngộ họ. Cán bộ phải nói cho nông dân rõ: không phải giảm tô rồi là hết chuyện.
Bây giờ nói đến địa chủ:
Phát động quần chúng, lẽ dĩ nhiên là chống địa chủ phong kiến. Có cán bộ tự mình là địa chủ, hoặc bố mẹ, bà con là địa chủ, những cán bộ ấy lấy thế làm hổ nhục. Phải hiểu rằng phong kiến cũng là một bước tiến tất nhiên của xã hội. Xã hội từ chỗ ăn lông ở lỗ, tiến đến xã hội nô lệ, tiến đến chế độ phong kiến, tiến đến xã hội tư bản, rồi tiến đến xã hội chủ nghĩa. Nếu gia đình là địa chủ cũng không có gì đáng xấu hổ. Đáng xấu hổ là khi nhân dân đã tiến bộ, xã hội đã tiến bộ, mà mình cứ khư khư giữ lấy tư tưởng địa chủ, chỉ biết lợi ích riêng của mình, không biết đến quyền lợi dân tộc, quyền lợi xã hội.
Ăngghen dù là con nhà tư bản ông đã trở nên một người thầy dạy chủ nghĩa cộng sản cho chúng ta. Ở nước ta có vài đồng chí xuất thân là địa chủ nhưng họ tự nguyện hiến hết ruộng đất để chia cho nông dân; như thế thì không có gì đáng xấu hổ. Dù mọc ở bùn thối lên nhưng hoa sen vẫn thơm đẹp. Địa chủ mà thật thà tiến bộ thì cũng như hoa sen vậy.
Cán bộ: nếu cán bộ không nắm vững chính sách, không đi đúng đường lối quần chúng, thì chính sách hay cũng hoá dở, tốt cũng hoá xấu.
Thí dụ: ở Thanh Hoá chống xa xỉ phẩm, có đúng không? Đúng. Xa xỉ phẩm của địch tung vào vùng ta, thu lấy tiền của ta, dùng tiền đó để đúc súng, đúc đạn bắn lại ta. Mua xa xỉ phẩm là giúp giặc đánh lại ta. Chính phủ cấm là đúng. Nhưng Thanh Hoá thi hành thế nào? Người ta đi xe đạp, cán bộ tịch thu, đem về mình dùng làm cho dân oán. Lại như cấm nước hoa, chặn người đi đường lại ngửi đầu; thấy thơm thì dấn đầu người ta vào nước đái! Thật là dã man! Như việc vận động dân giồng bông, lạc, đỗ. Những chỗ người ta đã giồng nhiều thuốc lá, cán bộ tự tiện nhổ hết lên. Thế là chính sách đúng, nhưng vì cán bộ làm sai, cho nên dân oán, hỏng việc.
Phong trào đấu. Đấu thì chỉ đấu với địch, nhưng có nơi thì gặp ai cũng đấu, đấu cả với cố, bần, trung nông. Thậm chí có nơi dùng nhục hình. Thế là dã man. Đảng và Chính phủ đã có chỉ thị: tuyệt đối cấm nhục hình, dù đối với người có tội cũng không được đánh đập, vì đánh đập là hành động của đế quốc và phong kiến, là dã man. Người nào có tội, thì điều tra cho ra, rồi có pháp luật trừng trị. Làm không đúng để dân hoang mang, dân oán, địch lợi dụng tuyên truyền phá hoại chính sách ruộng đất. Đó là vì cán bộ tếu, cán bộ không trong sạch, cán bộ khờ dại, mắc mưu của bọn phản động khiêu khích. Bọn phản động chui vào đoàn thể của quần chúng lợi dụng lúc đấu, xui dùng nhục hình. Có khi chính tay chúng đánh chết người để phản tuyên truyền. Nếu làm sai chính sách, không những dân ghét cán bộ, mà còn oán Chính phủ, oán Đảng. Cho nên cán bộ phải nắm vững chính sách, phải đi đúng đường lối quần chúng, đề phòng bọn phản động phá hoại.
Khi đi phát động quần chúng, cán bộ phải hết sức chú ý những điều đó. Sai một ly đi một dặm, nơi nào dân cũng tốt, lương cũng như giáo; nhưng vì có những cán bộ không biết tổ chức, không biết giải thích tuyên truyền, lại tự tư tự lợi, không cảnh giác để cho bọn phản động chui vào các đoàn thể rồi phá hoại.
Bất kỳ việc to việc nhỏ, lập trường phải vững, chính sách phải hiểu cho thấu, luôn luôn gần gũi học hỏi nhân dân, đi đúng đường lối quần chúng, thì việc gì cũng thành công. Trái lại thì thất bại. Có việc bề ngoài trông thì như thành công. Thí dụ: như thuế nông nghiệp. Có nơi, cán bộ bị địa chủ mua chuộc bổ đầu dân nghèo; mức thu tuy đủ, nhưng về mặt chính trị là thất bại: trút cả gánh nặng cho dân nghèo, còn bọn địa chủ không phải đóng góp. Thế là bề ngoài thì như thành công, thực ra thì thất bại.
Nói phát động quần chúng, phải nói đến đồng bào công giáo. Thường cán bộ có thành kiến rằng đồng bào công giáo là lạc hậu, là khó vận động. Nói vậy là sai. Cha cố cũng có những người kháng chiến như cụ Trực, cụ Kỷ và nhiều vị khác.
Ở Thanh Hoá có một thôn công giáo, ai cũng nói là khó vận động. Đồng chí Lý An tình nguyện đi. Đến thôn, thấy đồng bào lợp nhà, đồng chí An liền lên lợp nhà giúp, vừa làm vừa nói chuyện. Khi mời ăn, đồng chí vừa ăn vừa nói chuyện. Đồng chí An không nói mình là cán bộ, không tuyên truyền thuế, dân công gì cả. Đồng chí ấy chỉ nói những chuyện: bộ đội chiến thắng thế nào, nhân dân các nơi hăng hái đi dân công và đóng thuế nông nghiệp như thế nào. Đồng bào nghe chuyện thích, đòi đồng chí ấy nói chuyện này rồi chuyện khác. Kết quả là họ tự động xin đóng thuế, xin đi dân công. Đồng chí An ở với dân, ăn với dân, làm việc với dân như người trong nhà; tuyên truyền mà không ra mặt tuyên truyền. Đồng bào công giáo rất yêu đồng chí ấy. Đến Lễ giáng sinh, linh mục đến báo con chiên sửa soạn nhà thờ để làm lễ. Đồng bào bận việc cày cấy, không muốn làm. Linh mục phải nhờ đồng chí An. Đồng chí ấy đi nói chuyện từng nhà, bày cho nhân dân sắp xếp công việc và vận động họ trang hoàng nhà thờ để làm lễ. Hôm Lễ giáng sinh, đồng bào mời đồng chí An lên ngồi ngang với cha, họ nói: "Cha là cha linh hồn, anh An là cha vật chất của chúng tôi". Chuyện này chứng tỏ đồng bào công giáo không lạc hậu, và khéo vận động như đồng chí An thì nhất định vận động được.
Tại một chỗ khác, ở giữa là làng công giáo, chung quanh là làng lương, các làng chung quanh được giảm tô, được chia công điền, tăng gia sản xuất, làm ăn thịnh vượng. Đồng bào công giáo thấy vậy, tự động đi tìm cán bộ, hăng hái tổ chức và đấu tranh đòi giảm tô, đòi chia công điền.
Nói tóm lại: đồng bào thiểu số hay là đa số, lương hay là giáo, cán bộ biết cách làm thì đều vận động được.
Cán bộ phụ nữ đi vận động, có cô vận động khéo, đến đâu dân làm gì, mình làm nấy, thân thiết như người nhà, thì có thành tích. Cô nào không hoà lẫn được với nhân dân, vẫn giữ thói quen thành phố, thì vận động không thành công.
Phát động quần chúng thành công thì nông dân được ruộng đất, được ấm no và phụ nữ được giải phóng. Phát động quần chúng thì bồi dưỡng được nông dân, đẩy mạnh mọi mặt công tác kháng chiến kiến quốc. Các cô cần học tập, rèn luyện trong công tác phát động quần chúng, kết hợp nó với phong trào phụ nữ và chỉnh đốn tổ chức phụ nữ ở nông thôn.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 52-57.
BÀI NÓI TẠI LỚP CHỈNH ĐẢNG TRUNG ƯƠNG KHOÁ 2
Thế giới có mâu thuẫn, có hai phe.
Trong nước có mâu thuẫn, có hai phe.
Trong mình cũng có mâu thuẫn, có hai phe.
Cái đó rất dễ hiểu.
Trong mình có hai phe: một phe thiện và một phe ác. Hai phe cùng đấu tranh với nhau.
Nếu đấu tranh để phe thiện thắng thì phe ác phải bại.
Nếu không đấu tranh mà để cho phe thiện bại, thì là hỏng.
Cải tạo thế giới là việc to, phải trường kỳ gian khổ.
Kháng chiến để cải tạo nước nhà cũng phải trường kỳ và gian khổ. Muốn cải tạo mình, cũng phải trường kỳ và gian khổ, chứ không phải là dễ đâu.
Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được.
Ai cũng thấy siêng năng, trong sạch là tốt. Điều đó không ai chối cãi được. Thế mà vì sao vẫn không làm hay không làm được? Chẳng những không làm được mà còn làm trái lại? Đó là vì cái tâm mình không chính.
Phải thấy kẻ địch trong mình ta nó mạnh lắm. Đế quốc bên ngoài có thể dùng súng dùng đạn để đánh được. Kẻ địch trong người không thể dùng lựu đạn mà ném vào được; nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút trong mình ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Nhưng đã biết việc phải thì kiên quyết làm.
Làm không phải chuyện dễ. Nó khó như trèo núi, rất gay go và có khi nguy hiểm là đằng khác.
Như hồi trước, làm cách mạng mất đầu là thường.
Nhưng biết là phải thì làm. Mình bị hy sinh thì người khác sẽ làm. Người khác bị hy sinh thì người khác nữa lại làm.
Kiên quyết làm. Chính tâm là như vậy.
*
* *
Bây giờ nói đến tình, đến nghĩa:
Có người nói: người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cách mạng có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có không? Có.
Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến giày vò.
Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa.
Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy.
Về tình cũng thế.
Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình.
Người cách mạng hiểu tình một cách khác.
Hãy cân nhắc:
Bỏ thời gian, công tác để theo đuổi một người con gái, hay bo bo muốn cho vợ con thanh nhàn nhưng không lo việc nhà việc nước. Cái nào nặng, cái nào nhẹ?
Gia đình to (là cả nước) và gia đình nhỏ: cái nào nặng, cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to. Vì người cách mạng biết nếu gia đình to bị áp bức, bóc lột thì gia đình nhỏ sẽ suy sụp, không phát triển được. Vì vậy không thể bo bo giữ gia đình nhỏ mà không nghĩ đến gia đình to.
Đấy là cách hiểu xa thấy rộng.
Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn.
Phải hy sinh cái riêng cho cái chung.
Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng. Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một. Mà phải chọn cái ích chung.
Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung đã có hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc.
Vì vậy trong lúc cách mạng gay go phải chọn cái lớn. Nếu phải hy sinh gia đình nhỏ cho gia đình lớn cũng phải làm. Phải dứt khoát, tuyệt đối không được chọn gia đình nhỏ.
Có một số cán bộ không yên tâm công tác là vì không hiểu cái đó. Phải hy sinh cái riêng, cái nhỏ để phục vụ cái chung, cái to.
Bây giờ trở lại phe thiện, phe ác trong mình. Thí dụ: phe thiện làm cho mình cực khổ, gay go, nguy hiểm như trèo núi; còn phe ác thì nó như đưa mình xuống núi một cách êm dịu, nhưng cái xuống đó là xuống hố.
Vì vậy phải đấu tranh.
Nếu để phe ác thắng thì gây ra chứng bệnh nói chung là cá nhân chủ nghĩa. Từ đó gây ra nhiều bệnh khác.
Vì cá nhân chủ nghĩa nên đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu, v.v..
Phải đấu tranh để anh thiện thắng. Nếu anh thiện trong mình thắng thì phe thiện trong nước, ngoài nước sẽ mạnh.
Làm sao để cho anh thiện thắng?
Phải học tập, học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ, việc cao cũng như việc thấp. Phải nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và áp dụng vào công tác hằng ngày.
Phải học hỏi quần chúng.
Có người cho là "dân ngu khu đen". Thế là tầm bậy. Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều. Chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi.
Một cái giúp cho mình nữa là phê bình và tự phê bình.
Trong năm nay, có một cơ hội để cho tất cả các cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng thử thách tư tưởng, lập trường, thái độ. Tức là phát động quần chúng.
Có một câu hỏi phải trả lời dứt khoát:
Anh đứng về phe nào? Cách mạng ta là cách mạng dân tộc dân chủ. Cách mạng dân tộc dân chủ tức là cách mạng dân cày (do vô sản lãnh đạo) mà cách mạng dân cày là phải có chính sách ruộng đất đúng.
Kháng chiến tức là cách mạng, muốn kháng chiến thắng lợi thì phải có chính sách ruộng đất đúng.
Ta có tán thành kháng chiến thắng lợi không?
Đã tán thành kháng chiến thắng lợi thì phải tán thành chính sách ruộng đất. Không có nước đôi.
Phải thực hiện cho kỳ được chính sách ruộng đất. Phải dứt khoát. Không được đứng chông chênh. Không có phe thứ ba. Thế giới có hai phe. Trong nước có hai phe. Trong mình cũng có hai phe. Phải rõ ràng. Có những cán bộ hoặc là mình, hoặc bố mẹ, anh em, chú bác, có ruộng. Đối với anh em đó, việc dứt khoát không phải dễ. Nó khó như trèo núi.
Nhưng có trèo không? Trèo thì phải khó nhọc. Không phải không ai giúp anh, anh có Đảng, có nhân dân bên cạnh. Có trèo thì mới lên được đỉnh núi. Vậy phải có quyết tâm.
Tóm lại, có hai con đường ở thế giới, ở trong nước và ở trong mình.
Theo con đường ác thì dễ dàng, nhưng lăn xuống hố.
Theo con đường thiện thì khó nhọc, nhưng vẻ vang.
Quyết tâm là làm được.
Cái gì khó bằng làm cách mạng, bằng đánh Tây, bằng cải tạo xã hội? Thế mà ta làm được.
Cán bộ có quyết tâm thì cải tạo được mình, được nước nhà, được xã hội.
Cái bí quyết thành công là có quyết tâm.
Các cô các chú có làm được như vậy không?
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 59-63.
THƯ GỬI CÁC ĐƠN VỊ BỘ ĐỘI TA
CÓ NHIỆM VỤ TÁC CHIẾN Ở THƯỢNG LÀO
Thân ái gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ,
Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình.
Để làm tròn nhiệm vụ chiến đấu, từ trên xuống dưới các chú cần phải:
Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên đó cũng như ở ta;
Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn;
Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam;
Tất cả phải có quyết tâm rất cao, rất bền, tranh nhiều thắng lợi.
Bác chờ tin thắng lợi của các chú và đang chuẩn bị giải thưởng cho những đơn vị và cá nhân nào có thành tích nhất.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 3 tháng 4 năm 1953
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 64.
PHẢI CHỐNG BỆNH QUAN LIÊU...
Từ ngày Đảng và Chính phủ mở phong trào chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí bằng cách giáo dục, tự phê bình và phê bình, quần chúng đã biết phê bình, báo chí đã đăng những lời phê bình của quần chúng. Đó là một tiến bộ. Nhưng báo chí đăng rồi mà không kiểm tra, những cán bộ và những cơ quan bị phê bình thì cứ im lặng. Đó là một khuyết điểm cần sửa chữa.
- Các báo chí thì cần nêu những việc kiểu mẫu, phân tách rõ ràng, làm cho mọi người nhận rõ: quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Và do đó mà khuyến khích quần chúng, mở rộng phong trào phê bình từ dưới lên trên.
Khi nhận được thư phê bình của quần chúng, thì không nên vội đăng, mà phải lựa chọn, điều tra. Khi phải trái đã rõ ràng, mới đăng lên báo. Như vậy, phê bình mới có kết quả thiết thực.
Phải làm cho quần chúng hăng hái phê bình, nhưng đồng thời phải lãnh đạo việc phê bình của quần chúng. Như vậy, thì mối liên hệ giữa báo chí với quần chúng càng thêm chặt chẽ; và việc quần chúng và báo chí giúp giáo dục cán bộ cũng có kết quả thêm.
- Các cơ quan và các cán bộ lãnh đạo thì cần liên hệ những việc kiểu mẫu ấy với công tác của ngành mình và do đó mà mở rộng phong trào phê bình từ trên xuống dưới. Không nên vì việc phê bình ấy không quan hệ trực tiếp với ngành mình mà không nghiên cứu. Cũng không nên tách rời việc phê bình với công tác hàng ngày.
Trong việc "3 chống", các báo chí cũng như các cơ quan, cần nhằm vào cải tạo tư tưởng. Quan liêu, tham ô, lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác, nguồn gốc là vì tư tưởng không đúng. Tư tưởng trong sạch, lập trường vững, hết lòng hết sức phụng sự nhân dân thì tránh được nhiều khuyết điểm.
- Những người bị phê bình (cán bộ hoặc cơ quan), thì phải thật thà tự kiểm thảo trước quần chúng (đăng lên báo), phải quyết tâm sửa đổi. Đè nén phê bình, hoặc phớt phê bình, cũng là tội lỗi.
Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống và từ dưới lên. "Trên đe dưới búa" của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí.
Khéo lãnh đạo, thì đó là một cách rất hay để cải tạo tư tưởng cán bộ, để xây dựng đạo đức trong sạch, để đẩy mạnh công việc kháng chiến và kiến quốc.
C.B.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 80-81.
CÁCH VIẾT 1)
Hôm nay Bác nói về cách viết, đặc biệt là viết ngắn.
Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy.
Trong các báo, có những bài lằng nhằng dài mấy cột, như là rau muống kéo dây. Đọc đến khúc giữa thì không biết khúc đầu nói cái gì; đọc đến khúc đuôi thì không biết khúc giữa nói cái gì. Thế là vô ích.
- Vì ai mà mình viết?
- Mục đích viết làm gì?
Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?
- Viết cho đại đa số: Công - Nông - Binh.
Viết để làm gì?
- Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng.
Thế thì viết cái gì?
Trong vấn đề này cũng phải có lập trường vững vàng: ta, bạn, thù thì viết mới đúng.
Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra.
Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền.
Còn đối với địch thì thế nào?
Thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết là chúng nó độc ác thế nào, xấu xa thế nào, để gây lòng căm thù đối với quân địch.
Sự hung ác, xấu xa của chúng nó rất nhiều, nếu biết gom góp tài liệu thì tha hồ mà viết. Có những việc chúng nó làm, bên ngoài thì như là tốt, mà bên trong thì thật là xấu, ta phải giải thích cho nhân dân ta hiểu.
Thí dụ: Trong vùng địch, Pháp có khi "phát chẩn" hay là Mỹ "giúp" để tuyên truyền, để mua chuộc. Sự thực là chúng đã cướp chỗ này rồi "giúp" chỗ khác. Một thí dụ ấy đủ biết cái xấu của nó rõ rệt rồi. Nhưng nếu không biết xem xét thì tưởng nó làm như thế là tốt.
Lấy tài liệu đâu mà viết?
Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là:
1. Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết.
2. Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi.
3. Thấy : mình phải đi đến, xem xét mà thấy.
4. Xem: xem báo chí, xem sách vở. Xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài.
5. Ghi: những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết. Có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó.
Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi góp 2,3 vấn đề, 2,3 con số làm thành một tài liệu mà viết.
Muốn có nhiều tài liệu thì phải xem cho rộng.
Xem báo Trung Quốc, báo Liên Xô, báo Anh, báo Pháp... xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy.
Một thí dụ: bên Liên Xô có những thành công về công nghệ, về nông nghiệp, chỉ nói thế thôi có được không?
Cố nhiên là được. Nhưng nên biết cũng trong năm ấy, cũng trong mùa ấy, mà mức công nghệ, nông nghiệp ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở các nước bạn lên như thế nào, còn ở Pháp, ở Mỹ, ở Anh sút kém như thế nào để mà so sánh. Như thế thì người đọc sẽ thấy ngay bên nào tiến, bên nào thoái.
Cách viết thế nào?
Trước hết là cần phải tránh cái lối viết "rau muống" nghĩa là lằng nhằng "trường giang đại hải", làm cho người xem như là "chắt chắt vào rừng xanh". Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều. Bất đắc dĩ mới phải dùng chữ, thí dụ: "độc lập", "tự do", "hạnh phúc" là những chữ Trung Quốc, nhưng ta không có chữ gì dịch, thì cố nhiên phải dùng. Nếu quá tả không mượn, không dùng, hoặc là nói: Việt Nam "đứng một" thì không ai hiểu được.
- Chớ ham dùng chữ - các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Cán bộ cũng hay dùng chữ lắm, dùng lung tung; nhiều khi không đúng.
Vài thí dụ: 3 tháng thì không nói 3 tháng, lại nói "tam cá nguyệt". Đánh vào sâu thì nói "tung thâm", xem xét thì nói "quan sát", v.v..
Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi.
Phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng. Có nhà thơ nào nói: "Tóc cười, tay hát" thì thật là "hoang vu"! Có nhà văn nói: "cặp mắt ông cụ già dĩnh ngộ" thì thật là "ngộ nghĩnh"!
Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có, thì phải dùng tiếng ta.
Viết phải thiết thực, "nói có sách, mách có chứng", tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?
Vài thí dụ: Chống tham ô, lãng phí thì nêu rõ ai tham ô, ai lãng phí? Cơ quan nào tham ô? Lãng phí cách thế nào? ngày tháng nào, v.v.. Chớ viết lung tung.
Nói du kích đánh thắng, đánh thắng ngày nào? Thắng cách thế nào? Giết được bao nhiêu địch, bắt bao nhiêu địch, thu được bao nhiêu súng? ... Phải nói rõ ràng, đồng thời chớ lộ bí mật.
Viết rồi phải thế nào?
Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh, đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại.
Cách viết truyền đơn cũng thế, viết báo cũng thế, viết báo cáo, viết gì cũng thế.
Viết chuyện có nhiều ngóc ngạnh thì phải nắm lấy cái chính, không nên kể con cà con kê. Nhằm lấy điểm chính mà viết.
Phải giữ bí mật:
Trong lúc viết, thì phải chú ý giữ bí mật. Các báo chí của ta rất kém giữ bí mật.
Có khi số báo nào cũng có lộ bí mật.
Thí dụ: Như nói thanh niên du kích lẫn vào mấy bà con đi chợ cầm đòn gánh, lúc gặp lính giặc, thì mấy thanh niên quật giặc chết.
Về sau cứ phiên chợ nào có thanh niên là bị địch vớ.
Một thí dụ khác : Giặc vào quét làng, dân chạy hết. Có một chị phụ nữ giả ốm ở lại, mỗi tối chị ấy mang cháo cho anh thương binh ở dưới hầm bí mật. Hầm có một... 2) để cho anh ấy thở và để chị ấy đổ cháo xuống.
Đó là một việc oanh liệt đáng nêu lên. Nhưng vì viết không khéo, làm lộ bí mật, về sau Tây cứ đi tìm hầm bí mật, chỗ nào có ..., là nó nhất định đào cho được.
Thế là viết mà không biết giữ bí mật. Chớ có nêu rõ địa điểm, tên người, cho địch biết.
Viết khẩu hiệu:
Có những khẩu hiệu viết rất to, nhưng Hồ Chủ tịch cũng không hiểu vì viết tắt cả một đống. Không ai đọc được, có lẽ chỉ có anh viết khẩu hiệu ấy đọc được thôi, Hồ Chủ tịch không hiểu thì chắc dân cũng ít người hiểu.
Lại có cách viết "hoa hoè", chữ U không ra chữ U, chữ N không ra chữ N, chữ I không ra chữ I. Họ cho thế là mỹ thuật. Cách viết thế, cách nói cũng thế. Nói phải cho gọn gàng, có đầu có đuôi, có nội dung. Nói lung tung như nhiều người cán bộ nói ở các mít tinh, nói rồi không biết đường nào mà đi ra nữa, thôi đi thì cũng dở, nói nữa thì không biết nói gì! Nói ít, nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn.
Muốn nói gì phải chuẩn bị trước.
Cách viết và cách nói đại khái như thế.
Kinh nghiệm Bác viết thế nào ?
Sau Thế giới chiến tranh lần thứ nhất, Bác ở Pháp. Muốn tuyên truyền cho nước ta, nhưng không viết được chữ Pháp. Làm thế nào bây giờ ?
Nhất định phải học viết cho kỳ được.
Có một đồng chí làm trong một tờ báo Sinh hoạt công nhân 3) bảo: "Có tài liệu gì, anh cứ viết, rồi tôi đăng cho".
Bác nói: "Tài liệu thì có, chỉ tội tôi không viết được". Đồng chí ấy nói: "Anh cứ viết 3 dòng, 5 dòng cũng được. Có thế nào thì viết thế ấy. Nếu có sai mẹo mực thì tôi sửa cho".
Thế là từ đấy trở đi, mình học viết báo. Viết 3, 4 dòng. Khi viết rồi, chép ra 2 miếng, 1 miếng gửi cho nhà báo, 1 miếng mình giữ lại.
Lần đầu tiên bài mình được đăng báo, có thể nói là sướng nhất trong đời người. Mình đem bài báo đã đăng rồi với cái miếng mình đã giữ lại, so lại coi thử sai lạc chỗ nào, họ sửa cho thế nào.
Cách ít lâu, đồng chí ấy nói: "Anh viết được 3 dòng rồi, bây giờ kéo dài ra !". Mình cố gắng kéo dài mãi, cho đến lúc viết được 10 dòng.
Đồng chí ấy lại nói: "Anh kéo dài nữa đi, cho tài liệu thành một bài nhỏ !". Thế là mình cứ kéo, đồng chí cứ sửa, cứ khuyến khích mình.
Cách giáo dục như thế thật tốt. Cứ kéo, kéo, kéo đến khi viết hết một cột, rồi hơn một cột, rồi một cột rưỡi.
Thế rồi đồng chí ấy nói: "À, bây giờ anh viết được rồi, anh nên làm một cách khác. Rút ngắn lại".
Thật là rầy rà! Trước thì bắt kéo dài, bây giờ lại bắt rút ngắn! Nhưng mà đồng chí ấy nói: "Anh kéo dài được, thì bây giờ rút ngắn rút cũng được. Từ một cột rưỡi, nay chỉ viết một cột thôi. Viết cho thật chặt, xem đi xem lại, những cái gì lôi thôi, dài dòng không cần thiết thì bỏ nó đi ...". Thế rồi mình phải đếm từng chữ. Một dòng có mấy chữ, một cột thì có mấy dòng. Nó có số chữ của nó rồi, đếm từng chữ mà viết cũng khó chứ không phải dễ. Kết quả là rút được.
Cách ít lâu, đồng chí ấy lại nói: "Bây giờ rút nữa đi". Mình cứ phải rút, lần này qua lần khác, cho đến lúc rút chỉ còn 10 dòng.
Đồng chí nói: "Được rồi đấy, viết dài được, viết ngắn được, bây giờ có vấn đề gì, thì viết dài hoặc viết ngắn tuỳ ý anh".
Đồng chí ấy thường nhắc mình: "Câu kéo thì phải viết cho rõ ràng, minh bạch, chớ có lủng củng; chữ nào không hiểu mà muốn dùng thì hỏi anh em, chớ có dùng ẩu".
Đấy là đồng chí ấy cũng là một người công nhân, tự học viết văn rồi phụ trách tờ báo này.
Mình viết được là nhờ đồng chí ấy chịu khó dạy bảo, giúp đỡ.
Lúc viết được báo rồi, lại có một ý muốn là viết truyện ngắn. Đó là một sự cả gan!
Dám viết thử, là vì có một hôm xem hai quyển truyện nhỏ, một quyển của Anatôn Phrăngxơ, một quyển nữa là của ông Tônxtôi. Xem thấy các ông ấy viết giản đơn lắm, dễ hiểu lắm.
Thử viết một truyện ngắn về đời sống của công nhân Pari mà mình biết rất rõ vì tự mình cũng là công nhân. Viết xong đưa đến ban văn nghệ của báo Đảng là báo Nhân đạo12 và nói với các đồng chí ấy: "Đấy, tôi thử viết bài này, đăng được thì các đồng chí cho đăng, chỗ nào cần phải sửa, thì nhờ các đồng chí sửa cho, tôi không có tính tự ái đâu, nhờ các đồng chí sửa để tôi học thêm".
Truyện ấy được đăng lên báo. Đó là lần thứ hai mà mình thấy sung sướng!
Rồi mình chỉ viết truyện thật ở nước ta và ở các thuộc địa Pháp. Các đồng chí cũng thích là vì có những chuyện ở thuộc địa mà các đồng chí ấy không biết và những người đọc cũng không biết.
Có thể nói, từ lúc bắt đầu viết mấy dòng cho đến bây giờ, mình chỉ thích viết những truyện nước mình và các thuộc địa và chỉ để đập thực dân Pháp.
Cách mạng Tháng Tám thành công, viết bài Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó là lần thứ ba mà mình thấy sung sướng.
Bây giờ, khi Bác viết gì cũng đưa cho một số đồng chí xem lại, chỗ nào khó hiểu thì các đồng chí bảo cho mình sửa chữa.
Nói tóm lại viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ.
Quyết tâm thì việc gì khó mấy cũng làm được.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 117-124.
____________
1) Bài giảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại lớp chỉnh Đảng trung ương, ngày 17-8-1953.
2) Lỗ thông hơi.
3) La vie ouvrière.
LỜI KÊU GỌI NHÂN DỊP KỶ NIỆM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ NGÀY ĐỘC LẬP
Cùng toàn thể đồng bào,
Cùng toàn thể chiến sĩ và cán bộ,
Hôm nay chúng ta vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập.
Độc lập này là do 80 năm phấn đấu oanh liệt của nhân dân ta mà tranh được.
Độc lập này là do 8 năm anh dũng kháng chiến của nhân dân ta mà giữ vững.
Suốt gần một thế kỷ, đế quốc và phong kiến kìm hãm nhân dân ta trong địa ngục nô lệ. Chúng tưởng đã tiêu diệt hết tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Nhưng chúng đã lầm to. Trong thì nhờ khối đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh anh dũng của nhân dân ta. Ngoài thì nhờ Liên Xô đã đánh thắng đế quốc Nhật, nên Cách mạng Tháng Tám đã thành công, nước ta đã thống nhất và độc lập.
Nhưng bọn đế quốc cướp nước và lũ Việt gian bán nước "chết mà nết không chừa", gây ra chiến tranh, hòng đặt lại nền thống trị của chúng ở nước ta.
Trước hành động xâm lược đó, Đảng và Chính phủ kiên quyết lãnh đạo và đoàn kết nhân dân kháng chiến đến cùng, tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám, giữ vững thống nhất và độc lập của Tổ quốc.
*
* *
Kiểm điểm lại mấy năm kháng chiến vừa qua, chúng ta thấy rõ: Thế ta ngày càng mạnh, thế địch ngày càng yếu.
Về ta - Khi bắt đầu kháng chiến, nhân dân ta tinh thần thì rất hăng hái, nhưng vật chất thì rất thiếu thốn. Giặc thì ào ạt tiến công. Ta thì phải giữ thế thủ. Tuy hoàn cảnh rất khó khăn, Đảng và Chính phủ đã trông xa thấy rộng, đã đề ra khẩu hiệu: Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh.
Sự thật đã chứng tỏ chính sách của Đảng và Chính phủ rất đúng: càng trải nhiều thử thách thì tinh thần nhân dân và quân đội ta càng mạnh mẽ, lực lượng vật chất ta ngày càng lớn mạnh. Từ cuối năm 1950, ta đã đuổi địch khỏi biên giới Việt - Hoa, đã giải phóng Tây Bắc, đã đánh sâu vào sau lưng địch, đã thắng lợi nhiều trận vẻ vang. Bộ đội địa phương và dân quân du kích khắp nơi cũng phát triển và hoạt động mạnh.
Đó là thắng lợi về mặt quân sự. Về các ngành khác, như kinh tế, tài chính, nội chính, văn hoá, xã hội, ta cũng tiến bộ không ngừng. Thí dụ: do chính sách của Đảng và Chính phủ đúng và do đồng bào hăng hái thi đua sản xuất, chúng ta đã xây dựng được một nền kinh tế tài chính dân chủ. Trong hoàn cảnh khó khăn của thời kỳ kháng chiến, mà Chính phủ đã giảm nhẹ thuế nông nghiệp cho nông dân, đồng thời cải thiện một bước đời sống cho bộ đội, công nhân và cán bộ. Đó là những tiến bộ rõ rệt của nền kinh tế tài chính của ta.
Những kết quả tốt của những cuộc chỉnh Đảng, chỉnh quân, chỉnh huấn là một thắng lợi chính trị rất lớn của chúng ta.
Cuộc phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất có kế hoạch, từng bước một, có trật tự, có lãnh đạo, sẽ cải thiện đời sống cho nông dân, tiến tới giải phóng hàng chục triệu đồng bào nông dân khỏi ách địa chủ phong kiến, sẽ giúp cho sự phát triển kinh tế quốc dân, sẽ mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, sẽ củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, sẽ tăng cường quân đội nhân dân và sẽ đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Ngày bắt đầu kháng chiến, phong trào dân tộc giải phóng của Miên, Lào hãy còn non yếu. Ngày nay, cuộc kháng chiến của Miên và Lào đã thu được nhiều thắng lợi. Khối đoàn kết giữa ba dân tộc anh em Việt - Miên - Lào ngày thêm chặt chẽ.
Ngày bắt đầu kháng chiến, Liên Xô và các nước dân chủ mới Đông Âu đang phải ra sức hàn gắn những tổn thất nặng nề do Chiến tranh thế giới lần thứ hai gây ra; cách mạng Trung Quốc đang gặp khó khăn; phong trào hoà bình thế giới chưa tổ chức. Ngày nay, Liên Xô đang tiến mạnh sang chế độ cộng sản, các nước dân chủ Đông Âu đang ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, cách mạng Trung Quốc đã thành công và đang ra sức xây dựng dân chủ mới. Ngày nay phong trào hoà bình thế giới phát triển rất mạnh; kháng chiến Triều Tiên thắng lợi. Đó là thắng lợi lớn của phe ta. Thắng lợi của anh em ta cũng tức là thắng lợi của ta.
Về địch - Ngày bắt đầu chiến tranh, giặc Pháp hung hăng tưởng nuốt sống chúng ta. Chúng rêu rao rằng độ 5,6 tuần lễ chúng sẽ cướp lại nước ra. Chúng đã đưa hơn 1 phần 4 số sĩ quan, gần một nửa hạ sĩ quan, hàng chục vạn binh lính Pháp sang xâm lược nước ta. Nhưng mỗi năm chúng đã hao tổn hàng mấy vạn người, hàng ngàn triệu bạc, mà kết quả là chúng đã thất bại liên tiếp.
Chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho Pháp kinh tế ngày càng khủng hoảng, tài chính ngày càng thiếu hụt, thuế khoá ngày càng nặng nề, nhân dân ngày càng khổ cực, chính trị ngày càng bối rối, quân sự ngày càng suy yếu. Chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho Pháp ngày càng dân cùng tài tận, ngày càng bị phụ thuộc vào đế quốc Mỹ.
Ngày nay thậm chí báo chí và chính khách phản động Pháp cũng phải thừa nhận rằng: Chưa bao giờ tình hình quân đội Pháp ở Việt - Miên - Lào nguy ngập như ngày nay, thất bại từ trận này đến trận khác phải chạy dài hơn 500 cây số, từ biên giới Hoa - Việt đến Cánh đồng Chum. Chúng đã phải thừa nhận rằng chiến tranh ở Việt Nam đã hút hết sinh lực của Pháp. Pháp chẳng những không có hy vọng thắng lợi mà lại không tránh khỏi thất bại.
Phe đế quốc do Mỹ cầm đầu, kinh tế ngày càng khủng hoảng, giữa các đế quốc mâu thuẫn ngày càng sâu sắc. Chúng đã thất bại nặng nề ở Trung Quốc và Triều Tiên, nhân dân lao động trong nước chúng đấu tranh ngày càng mạnh chống chính sách gây chiến của đế quốc. Các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ngày càng nổi lên đấu tranh chống lại chúng. Dù Mỹ can thiệp ngày càng mạnh vào chiến tranh xâm lược Việt - Miên - Lào, nhưng chúng nhất định không tránh khỏi thất bại.
Nói tóm lại, thế của giặc ngày càng yếu, phe đế quốc Pháp - Mỹ cũng ngày càng yếu.
*
* *
Cuộc đình chiến ở Triều Tiên là một thắng lợi to lớn của nhân dân Triều Tiên và Trung Quốc, một thắng lợi to lớn của phe hoà bình dân chủ thế giới; mà cũng là một thắng lợi của nhân dân ta.
Tranh được thắng lợi ấy là vì quân và dân Triều Tiên đoàn kết một lòng. Vì quân đội giải phóng Triều Tiên và Quân chí nguyện Trung Quốc chiến đấu anh dũng. Vì có phong trào hoà bình thế giới ủng hộ. Thắng lợi ấy do chiến đấu gian khổ, hy sinh rất nhiều mới tranh được.
Đế quốc Mỹ và phe Mỹ phải nhận đình chiến vì chúng thất bại đau đớn, chúng không thể tiếp tục đánh nữa. Tuy vậy, từ đình chiến đến hoà bình còn có nhiều khó khăn, vì đế quốc Mỹ có thể tìm cách phá hoại. Cho nên quân và dân Trung - Triều cùng phe hoà bình dân chủ thế giới cần phải đấu tranh và tỉnh táo đề phòng âm mưu phá hoại của đế quốc và bọn tay sai của chúng.
Thắng lợi của Triều Tiên làm cho quân đội và nhân dân ta càng tin tưởng lực lượng của phe ta rất mạnh, càng thấy rõ thế lực của đế quốc suy yếu, càng làm cho quân và dân ta thấy rõ phải chiến đấu cực kỳ gian khổ mới tranh được thắng lợi vẻ vang.
Việc đình chiến ở Triều Tiên làm cho nhân dân Pháp đẩy mạnh hơn nữa phong trào phản đối chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, làm cho tinh thần binh lính Pháp càng lay động, làm cho nguỵ quân và nguỵ quyền thêm hoang mang và sợ sệt. Vì vậy thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bè lũ bù nhìn, một mặt tung ra luận điệu hoà bình giả dối, độc lập giả hiệu và những cải cách lừa bịp, hòng làm giảm bớt tinh thần quyết chiến của nhân dân ta. Mặt khác chúng gấp rút tập trung, tăng thêm quân đội và vũ khí để đẩy mạnh chiến tranh hơn nữa. Vậy quân và dân ta phải luôn luôn tỉnh táo, luôn luôn chuẩn bị để đánh tan âm mưu của chúng, đánh tan tư tưởng sợ Mỹ, tư tưởng sợ gian khổ, ảo tưởng hoà bình.
Chúng ta bao giờ cũng chủ trương hoà bình. Nhưng chúng ta biết rằng cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ có thắng lợi mới tranh được hoà bình. Chỉ có thống nhất và độc lập thật sự mới có hoà bình.
*
* *
Nhân dịp Quốc khánh, tôi thay mặt nhân dân, quân đội và Chính phủ ta cảm ơn sự ủng hộ của nhân dân các nước bạn, nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đấu tranh cho hoà bình.
Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc;
Tôi gửi lời thân ái an ủi các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ;
Khen ngợi: toàn thể chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương, dân quân du kích và công an;
Đồng bào dân công;
Chiến sĩ thi đua tăng gia sản xuất;
Cán bộ Quân, Dân, Chính, Đảng;
Các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng;
Đồng bào ở vùng tạm bị chiếm và kiều bào ở nước ngoài.
Nhân dịp này tôi kêu gọi những người lầm đường theo địch, hãy giác ngộ và trở về với Tổ quốc. Chính phủ và nhân dân ta bao giờ cũng khoan hồng với những người cải tà quy chính.
Tuy chúng ta đã tranh được nhiều thắng lợi lớn, nhưng chúng ta tuyệt đối không chủ quan khinh địch. Để tranh lấy độc lập và thống nhất thật sự và góp phần vào việc giữ gìn hoà bình thế giới, cuộc kháng chiến của ta vẫn còn phải trường kỳ và gian khổ, quân và dân ta phải quyết tâm vượt mọi khó khăn, thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Quân đội phải ra sức thi đua học tập chính trị và quân sự, nâng cao chí khí chiến đấu, tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa, phá tan mọi âm mưu tấn công của địch.
- Nhân dân phải thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, tham gia kháng chiến.
- Đồng bào sau lưng địch phải ra sức ủng hộ kháng chiến, đấu tranh chống địch càn quét, bắt lính, phá hoại sản xuất, phải ra sức giữ gìn tính mệnh tài sản của mình.
- Mọi người hãy sốt sắng tham gia và ủng hộ công cuộc phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất.
- Cán bộ phải ra sức học tập chỉnh huấn, phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân, thực hiện đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng.
Để làm tròn những nhiệm vụ này, quân đội, nhân dân và cán bộ ta phải:
- Nâng cao tư tưởng trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; phải nhận rõ ta, bạn, thù; phải luôn luôn tỉnh táo và ra sức phá tan mọi âm mưu của địch lừa bịp và tiến công, đập tan chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
- Toàn dân đoàn kết vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ, đẩy mạnh kháng chiến, giữ vững độc lập.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Độc lập thống nhất, nhất định thành công!
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 2 tháng 9 năm 1953
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 132-137.
BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CÁN BỘ VÙNG ĐỊCH HẬU
Hôm nay Bác thay mặt cho Đảng và Chính phủ hoan nghênh các cô, các chú.
Bác khen các cô, các chú ở đây, và khen đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở địch hậu đã cố gắng, đã bền bỉ chống giặc, tích cực vượt mọi khó khăn, tiêu diệt được nhiều giặc. Đó là công to của tất cả các cô, các chú, của tất cả đồng bào và bộ đội.
Sau Hội nghị năm ngoái, các cô, các chú đã tiến bộ nhiều; có chỗ thực hiện đúng chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời cán bộ và bộ đội đã quan tâm đến đời sống của đồng bào. Đó là đáng khen.
Nhưng khuyết điểm còn nhiều. Những khuyết điểm đó cần phải sửa, và nhất định sửa được.
Những khuyết điểm đó là gì?
1. Phần đông đánh hăng, nhưng không thấy rõ, không biết trước âm mưu địch. Trong chiến tranh, muốn thắng thì phải biết địch, biết mình. Ta đánh nhau với giặc đã 6-7 năm, nếu chú ý điều tra nghiên cứu, thì nhất định biết được âm mưu của giặc, tìm được sơ hở nó mà đánh.
2. Nhiều địa phương còn kém về chính sách đoàn kết nhân dân để chống lại giặc.
Vì không nắm vững chính sách của Đảng, cho nên đã hấp tấp phát động quần chúng, không xin phép Trung ương, không thỉnh thị báo cáo, đã đấu bậy. Đấu cả địa chủ thường, cả phú nông, cả trung nông, có khi đấu cả bần nông. Thế là phá hoại chính sách đoàn kết để đánh giặc. Giai cấp địa chủ là thù, nhưng đối với cá nhân địa chủ thì chính sách của Đảng có phân biệt đối đãi. Đối với phú nông thì khẩu hiệu của Đảng là liên hiệp với phú nông đúng mức. Trung nông là bạn đồng minh lâu dài của chúng ta. Thế mà các chú đấu tất cả.
Có nơi tăng tiền công quá đáng, định giá 1 ngày 60, 70 cân thóc, vì vậy mà phú nông địa chủ không mướn người làm, anh em bần cố nông bị thất nghiệp.
Đối với đồng bào công giáo thì chưa biết ra sức tranh thủ. Có nơi vận động đã có kết quả, nhưng rồi lại không cố gắng liên tục. Đồng bào công giáo cũng yêu nước. Nếu ta biết kiên nhẫn thuyết phục giác ngộ, thì nhất định tranh thủ được. Làm được như vậy thì phá được một phần âm mưu của địch, và rất có lợi cho việc đoàn kết nhân dân để kháng chiến.
3. Về mặt chỉ đạo thì các cấp làm việc chưa được tập thể, chưa đi sát với quần chúng. Có tỉnh cả một năm mới khai hội một lần, có xã một năm không thấy mặt Uỷ ban huyện.
Lại nhiều giấy tờ hình thức. Để công ngồi viết hàng trăm tờ giấy mà không lo việc đánh giặc, đi sát quần chúng. Báo cáo cốt để giúp cấp trên chỉ đạo, phải nêu được vấn đề để cấp trên giúp sửa chữa khuyết điểm, để phổ biến ưu điểm. Bác hay đọc báo cáo, nhưng báo cáo dài hàng trăm trang thì Bác cũng chịu.
Vậy phải làm thế nào?
1. Phải hiểu rõ tình hình của địch. Nhất định có thể hiểu được. Phải nhờ lỗ tai, con mắt của dân, dựa vào dân mà lấy tình hình và phân tách âm mưu của địch.
2. Phải nắm vững chính sách của Trung ương đưa xuống. Trung ương tổng kết, cân nhắc tình hình thế giới và trong nước, vùng tự do và địch hậu mà định ra chính sách. Nhất định phải nắm cho vững. Nắm vững chính sách thì nhất định thắng lợi.
Những việc cụ thể phải làm, đây có Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị và các cô, các chú sẽ thảo luận. Bác chỉ nói tóm tắt vài điểm:
a) Các cô, các chú phải ghi nhớ và về truyền lại cho anh em ở địa phương là phải nâng cao tinh thần đấu tranh bền bỉ, vượt mọi gian khổ khó khăn, vì địch càng thất bại thì càng hung tàn. Địch hung tàn không phải tỏ ra nó mạnh mà vì nó yếu. Chúng ta có Đảng, có Chính phủ, có toàn dân, có nhân dân tiến bộ toàn thế giới ủng hộ. Các cô, các chú kiên quyết khắc phục khó khăn, luôn luôn dựa vào đồng bào, quan tâm đến đời sống đồng bào, đi sát với đồng bào, làm đúng chính sách đoàn kết, thì ta nhất định thắng và sẽ thắng hoàn toàn.
b) Lính Tây hiện rất ít. Phần lớn bộ đội địch là nguỵ binh. Nguỵ binh là đồng bào ta bị địch mê hoặc. Nếu ta vận động khéo, giáo dục cho họ rõ mưu mô của giặc "dùng người Việt đánh người Việt" thì ta có thể làm tan rã hàng ngũ nguỵ binh, phá âm mưu của địch và thu nhiều thắng lợi.
c) Trong Hội nghị này, các cô, các chú đã hiểu rõ thêm đường lối chính sách của Trung ương và Chính phủ. Bây giờ về phải ra sức làm, làm cho đúng: ra sức đoàn kết nhân dân, đấu tranh với giặc, chống càn quét, chống bắt lính, chống dồn làng; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, chấn chỉnh cơ sở tổ chức của Đảng, chấn chỉnh sự chỉ đạo. Làm được như vậy thì chúng ta nhất định phá được âm mưu địch và giành được nhiều thắng lợi mới.
d) Cuộc đấu tranh chống giặc sẽ gay go gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Các cô, các chú phải luôn luôn nâng cao tính cảnh giác đối với âm mưu địch, luôn luôn làm cho đồng bào và cán bộ hăng hái đấu tranh và tin tưởng ở thắng lợi. Khi thắng, không được chủ quan khinh địch; khi gặp khó khăn tạm thời, không được bi quan dao động.
Bây giờ Bác hỏi các cô, các chú: tính đổ đồng mỗi đội viên du kích trong 3 tháng giết 1 tên địch, có làm được không?
Cố gắng lên thì nhất định làm được. Quyết tâm thì nhất định làm được.
Bác nhờ các chú chuyển lời Bác thân ái hỏi thăm đồng bào, bộ đội, các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng, các anh em thương binh.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 153-156.
TRẢ LỜI MỘT NHÀ BÁO THUỴ ĐIỂN
- Hỏi: Cuộc thảo luận ở Quốc hội Pháp đã chứng tỏ rằng một số lớn người chính trị Pháp muốn dàn xếp một cách hoà bình vấn đề xung đột ở Việt Nam bằng cách thương lượng trực tiếp với Chính phủ Việt Nam. Ý nguyện ấy càng rộng khắp trong nhân dân Pháp. Thế thì Cụ và quý Chính phủ hoan nghênh ý nguyện ấy hay không?
- Trả lời : Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hoà bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó.
- Hỏi: Một sự ngừng bắn hoặc một cuộc đình chiến có thể có được không ? Và trên căn bản nào ?
- Trả lời: Miễn là Chính phủ Pháp đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược thì cuộc đình chiến ở Việt Nam thực hiện. Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam.
- Hỏi: Nếu một nước trung lập đứng ra dàn xếp để những đại biểu của tư lệnh đối phương được gặp Cụ thì Cụ có nhận không ? Nước Thuỵ Điển có thể đứng ra làm việc ấy hay không ?
- Trả lời: Nếu có những nước trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng cách thương lượng, thì sẽ được hoan nghênh, nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Chính phủ Pháp.
- Hỏi: Theo ý Cụ, có phương pháp nào khác để chấm dứt cuộc chiến tranh không ?
- Trả lời : Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã đem lại tai hoạ cho nhân dân Việt Nam đồng thời cũng làm cho nhân dân Pháp đau khổ nhiều, cho nên nhân dân Pháp đấu tranh chống lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Đối với nhân dân Pháp và các chiến sĩ hoà bình Pháp, tôi xưa nay vẫn đồng tình và tỏ lòng quý mến. Hiện nay, chẳng những nền độc lập của dân tộc Việt Nam bị xâm phạm nghiêm trọng, mà chính nền độc lập của nước Pháp cũng bị uy hiếp nặng. Đế quốc Mỹ một mặt thúc đẩy thực dân Pháp tiếp tục và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm cho Pháp càng đánh càng yếu đi, hòng thay thế địa vị Pháp ở Đông Dương, một mặt khác lại bắt buộc Pháp phê chuẩn bản điều ước về việc phòng thủ ở châu Âu, nghĩa là để cho chủ nghĩa quân phiệt Đức sống lại.
Vì thế cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp đòi độc lập, dân chủ, hoà bình cho nước Pháp và đòi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng để giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hoà bình.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 168-169.
BÁO CÁO TRƯỚC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, KHOÁ I, KỲ HỌP THỨ BA
Thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Tôi xin thay mặt Chính phủ, vui mừng hoan nghênh các vị đã đến dự phiên họp đặc biệt của Quốc hội lần này.
Tôi xin gửi lời thân ái hỏi thăm các đại biểu Quốc hội vì bận nhiều công việc kháng chiến, mà không đến họp được.
Tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn những vị đại biểu Quốc hội đã anh dũng hy sinh vì kháng chiến, vì Tổ quốc.
Tôi cũng xin thay mặt Chính phủ hoan nghênh các vị đại biểu Mặt trận đã đến chào mừng Quốc hội.
Thưa các đại biểu,
Bảy, tám năm nay, toàn dân ta có một nhiệm vụ to nhất là kháng chiến.
Từ nay, chúng ta có một nhiệm vụ trung tâm nữa là cải cách ruộng đất.
Phải ra sức đẩy mạnh kháng chiến để đảm bảo cải cách ruộng đất thành công.
Phải ra sức thực hiện cải cách ruộng đất để đảm bảo kháng chiến hoàn toàn thắng lợi.
Phiên họp đặc biệt này, Quốc hội sẽ nghe báo cáo công việc kháng chiến mấy năm qua, và sẽ thảo luận chính sách cải cách ruộng đất và thông qua Luật cải cách ruộng đất.
Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta. Cho nên trước khi báo cáo về công việc kháng chiến và chính sách cải cách ruộng đất, tôi xin báo cáo tóm tắt về tình hình thế giới và tình hình trong nước.
TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
Chúng ta có thể nói ngay rằng: phe ta ngày càng mạnh, phe địch ngày càng yếu.
Liên Xô, thành trì hoà bình và dân chủ thế giới, đang tiến mạnh từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa cộng sản. Lòng mong ước hạnh phúc từ bao nhiêu thế kỷ của loài người đang dần dần thực hiện trên một phần sáu thế giới.
Vì giữ gìn hoà bình thế giới, Liên Xô đã có bom nguyên tử và bom khinh khí, nhưng luôn luôn đề nghị với các nước cấm dùng những vũ khí ấy.
Với sự giúp đỡ tận tâm của Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu đang ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trung Quốc, đã thắng lợi to trong cuộc chống Mỹ, giúp Triều, đã liên tiếp thu nhiều thành tích vĩ đại trong việc xây dựng năm đầu của kế hoạch 5 năm, trong mọi công việc xây dựng.
Những thắng lợi to lớn của hai Đảng Cộng sản Ý và Pháp trong các cuộc tuyển cử, những cuộc bãi công khổng lồ (tháng 8, tháng 9 năm 1953) ở hai nước ấy, những cuộc đấu tranh của giai cấp lao động các nước và phong trào dân tộc giải phóng ở Mã Lai, Phi Luật Tân, Bắc Phi, Trung Phi, Guyan... chứng tỏ rằng phong trào đấu tranh của nhân dân khắp thế giới ngày càng phát triển.
Hội nghị hoà bình châu Á và Thái Bình Dương (10-1952) và Hội nghị nhân dân thế giới bảo vệ hoà bình (11-1952) đã nêu rõ lực lượng vô cùng to lớn của phe hoà bình dân chủ thế giới.
Trong thời kỳ vừa qua, thắng lợi to lớn nhất của phe hoà bình dân chủ thế giới là cuộc đình chiến ở Triều Tiên. Quân và dân Triều Tiên cùng Quân tình nguyện Trung Quốc đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, đã tiêu diệt hơn 1 triệu binh sĩ của Mỹ và phe Mỹ. Lực lượng dân chủ hoà bình thế giới cực kỳ mạnh. Hai lực lượng ấy kết hợp lại thành cái gọng kìm kẹp vào cổ Mỹ và phe Mỹ, bắt buộc chúng phải chịu đình chiến ở Triều Tiên.
Tháng 10 vừa rồi, Đại hội công đoàn thế giới lần thứ ba, thay mặt cho hơn 88 triệu công nhân của 79 nước, đã quyết định lấy ngày 19-12 năm nay làm "Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh dũng và đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam". Đó là tinh thần quốc tế nồng nàn, là tình nghĩa giai cấp tích cực, nó làm cho nhân dân ta càng thêm hăng hái kháng chiến, càng thêm tin chắc thắng lợi cuối cùng.
Đó là tóm tắt tình hình của phe ta.
Tình hình phe đế quốc do Mỹ cầm đầu thì thế nào? Mỹ và 16 nước phe Mỹ (trong đó gồm có Anh và Pháp) đã thất bại nhục nhã ở Triều Tiên. Từ cuối thế kỷ 19 đến ngày nay, Mỹ đã nhiều lần nhờ chiến tranh mà làm giàu và chiếm được địa vị anh chị. Lần này là lần đầu tiên (nhưng chưa phải là lần cuối cùng) mà Mỹ thất bại to, đã hao người (hơn 390.500 binh sĩ Mỹ chết và bị thương), tốn của (hơn 20 nghìn triệu đôla), lại mất mặt với các nước. Thế Mỹ ngày càng yếu ở Liên hợp quốc, phe Mỹ càng thêm lủng củng chia rẽ, kinh tế Mỹ ngày càng khủng hoảng thêm.
Các nước tư bản phụ thuộc vào Mỹ, như Anh, Pháp, v.v., ngày càng gặp khó khăn về kinh tế và chính trị, bởi vì chính sách chạy đua binh bị, vì phong trào nhân dân trong nước và phong trào dân tộc giải phóng ở các thuộc địa.
Âm mưu của Mỹ hiện nay là: gây chiến tranh để hòng làm chủ thế giới.
Ở châu Á: Phá hoại việc triệu tập hội nghị chính trị, hòng gây lại chiến tranh ở Triều Tiên. Võ trang lại Nhật Bản.
Ngăn cản Trung Hoa tham gia Liên hợp quốc.
Can thiệp mạnh hơn nữa vào chiến tranh ở Việt - Miên - Lào.
Ở châu Âu: Phá hoại việc thống nhất nước Đức, và võ trang lại Tây Đức làm cột trụ cho "quân đội châu Âu".
*
* *
Phe ta ngày càng mạnh, càng đoàn kết nhất trí trong mặt trận dân chủ hoà bình do Liên Xô lãnh đạo.
Mục đích chính của phe ta hiện nay là: làm cho tình hình thế giới bớt căng thẳng; chủ trương giải quyết các cuộc tranh chấp trên thế giới bằng cách thương lượng.
Nhiệm vụ của nhân dân thế giới hiện nay là: củng cố thắng lợi đã thu được, tỉnh táo đề phòng âm mưu của Mỹ, đẩy mạnh phong trào hoà bình thế giới.
Tình hình thế giới thuận lợi cho ta. Chúng ta ủng hộ phong trào hoà bình thế giới. Nhưng chúng ta tuyệt đối chớ có ảo tưởng rằng hoà bình là một việc dễ dàng. Hoà bình phải do đấu tranh gian khổ mới giành được. Trong khi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ vẫn đeo đuổi chiến tranh xâm lược nước ta, thì chúng ta phải vượt mọi khó khăn, tự lực cánh sinh, đẩy mạnh kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi.
TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
BÊN ĐỊCH:
Quân sự - Lực lượng địch bị tiêu hao nhiều (tính đến tháng 11-1953, độ 32 vạn). Quân số Âu - Phi ngày càng thiếu. Trên chiến trường chính, địch càng bị động. Mới đây, địch cố thọc ra vùng tự do ở Liên khu III và một vài nơi bờ biển Liên khu IV, nhưng thế của địch căn bản vẫn là bị động.
Tuy vậy, hiện nay lực lượng địch vẫn còn mạnh. Ta không được khinh địch.
Chính trị - Mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa Pháp và bù nhìn, giữa bù nhìn thân Pháp và thân Mỹ, ngày càng sâu sắc.
Ở những vùng tạm bị chiếm, chúng dùng chính sách lừa bịp và bóc lột, bị nhân dân ta kiên quyết chống lại.
Ở Pháp, phong trào chống chiến tranh ngày càng lan rộng.
Kinh tế tài chính - Chiến tranh làm cho địch hao tổn ngày càng nhiều (từ năm 1946 đến nay, tổn hơn 3.000 tỷ phrăng).
Nhưng chúng vẫn lấy được cao su và than đá, xuất cảng một số lúa gạo, thu thuế và cướp của ở những vùng tạm bị chiếm, chúng lại được Mỹ "giúp" thêm.
Về mặt khác, chúng ra sức phá hoại sản xuất và giao thông của ta ở vùng tự do, ở các căn cứ du kích và vùng du kích.
Văn hoá xã hội - Trong vùng tạm bị chiếm, chúng ra sức truyền bá văn hoá truỵ lạc và lưu manh để đầu độc nhân dân ta, nhất là thanh niên ta. Chúng lợi dụng tôn giáo để chia rẽ nhân dân ta.
Mưu mô chính của địch là "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
*
* *
Hiện nay, địch đang làm gì và dự định làm gì?
Mỹ thì càng can thiệp vào chiến tranh ở Việt - Miên - Lào, càng tăng thêm tiền bạc và võ trang cho Pháp và bù nhìn. Chúng lôi kéo bù nhìn Việt - Miên - Lào và đẩy mạnh việc tổ chức nguỵ quân. Mỹ buộc Pháp nhượng bộ cho bù nhìn, tức là nhượng bộ cho Mỹ, Mỹ có kế hoạch thay thế Pháp từng bước, nhưng vẫn dùng Pháp làm tay sai thi hành chính sách chiến tranh của Mỹ.
Ngoài chính sách bóc lột, cướp giật về kinh tế, đế quốc Pháp - Mỹ dùng những chính sách lừa bịp về chính trị như:
Tuyên bố "độc lập" và "dân chủ" giả hiệu, tổ chức những cuộc tuyển cử gian dối.
Giả "cải cách điền địa" để lừa bịp nông dân ở vùng tạm bị chiếm.
Tổ chức những công hội "vàng" để lừa bịp công nhân.
Đưa ra luận điệu hoà bình hòng che mắt nhân dân Pháp và nhân dân thế giới, và hòng lừa bịp nhân dân ta.
Trong lúc chúng làm những việc đó, thì tướng giặc Nava ráo riết tập trung quân cơ động để tấn công ta, quấy rối hậu phương ta, mở rộng hoạt động biệt kích, đẩy mạnh chiến tranh gián điệp.
Nói tóm lại, Pháp - Mỹ đang ra sức thực hiện âm mưu của chúng là: mở rộng chiến tranh bằng cách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
Chúng ta không được chủ quan khinh địch. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng, luôn luôn sẵn sàng phá tan âm mưu của địch. Nhưng chúng ta có thể nói rằng: những hoạt động của địch, không phải chứng tỏ là chúng mạnh, mà chứng tỏ là chúng yếu thế. Chúng sợ chính sách kháng chiến trường kỳ của ta. Chúng sợ phong trào hoà bình thế giới.
Để phá tan âm mưu của địch, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh kháng chiến. Để đẩy mạnh kháng chiến, chúng ta phải thực hiện cải cách ruộng đất.
BÊN TA:
Quân sự - Từ Thu - Đông năm 1950, ta đã thắng to trong 7 chiến dịch và đã nắm được chủ động trên chiến trường chính. Ta đã giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc to rộng. Phong trào du kích lên mạnh khắp các nơi.
Những đợt chỉnh quân về chính trị và kỹ thuật có kết quả tốt. Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng.
Nhiều bộ đội chủ lực, địa phương và du kích đã lập chiến công rất oanh liệt, vẻ vang.
Chính trị - Những lớp chỉnh Đảng, chỉnh huấn cho cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng có kết quả tốt (ngót 15.800 cán bộ từ trung ương đến xã đã được chỉnh huấn).
Mặt trận Liên - Việt được củng cố và mở rộng.
Khối liên minh Việt - Miên - Lào ngày thêm chặt chẽ.
Hoạt động ngoại giao của Chính phủ và nhân dân ta được mở rộng, tranh được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, nhất là của nhân dân các nước bạn và nhân dân Pháp.
Kinh tế tài chính - Nhân dân ta đã vượt nhiều khó khăn, cố gắng thi đua sản xuất, đóng góp cho kháng chiến nhiều sức của và sức người. Tài chính của ta được ổn định dần dần. Ta đã xây dựng mậu dịch với Trung Quốc, rất có lợi cho nhân dân.
Văn hoá xã hội - Nhân dân lao động tham gia học tập ngày càng nhiều. Số trường phổ thông và số học sinh tăng gấp bội. Việc đào tạo cán bộ chuyên môn được chấn chỉnh và mở rộng dần dần.
So sánh mọi mặt, thì thấy rõ thế địch ngày kém sút, thế ta ngày mạnh thêm.
Đó là tóm tắt những thành tích đáng kể của nhân dân ta, của Chính phủ và của Đảng, nhưng chúng ta vẫn có khuyết điểm như: Về chính sách ruộng đất, trong thời kỳ trước, chúng ta đã nặng về đoàn kết địa chủ để kháng chiến, mà không xem trọng đầy đủ vấn đề nông dân và vấn đề ruộng đất.
Gần đây, Chính phủ và Đảng đã sửa chữa khuyết điểm ấy, nay đã tiến bộ nhiều. Nhưng có nơi chưa chấp hành hoàn toàn đúng chính sách của Trung ương. Có một số cán bộ thì tư tưởng và hành động trái với chính sách của Chính phủ và của Đảng, thiếu tổ chức, kém kỷ luật. Có cán bộ thì chỉ thấy chống phong kiến mà coi nhẹ chống đế quốc...1)
Chúng ta cần phải sửa chữa những khuyết điểm ấy, cần phải ngăn ngừa những lệch lạc tả hoặc hữu.
CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
Về vấn đề này, đây tôi chỉ tóm tắt nêu ra một vài điểm:
Ý nghĩa của cải cách ruộng đất là:
Cách mạng ta là cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân chống đế quốc xâm lược và chống phong kiến, chỗ dựa của đế quốc.
Khẩu hiệu của ta trong thời kỳ kháng chiến là: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng". Kháng chiến càng phát triển thì đòi hỏi sức người, sức của ngày càng nhiều; nông dân đã cung cấp sức người, sức của nhiều nhất cho kháng chiến. Phải giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến, phải bồi dưỡng cho nông dân thì mới động viên đầy đủ lực lượng to lớn đó, dốc vào kháng chiến để tranh thắng lợi.
Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Chỉ có phát động quần chúng cải cách ruộng đất, ta mới tiến hành những công việc đó được thuận lợi.
Địch tích cực dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh; chúng ra sức lừa bịp chia rẽ và bóc lột nhân dân ta. Ta cải cách ruộng đất thì sẽ ảnh hưởng và khuyến khích đồng bào nông dân ở sau lưng địch càng thêm hăng hái đấu tranh chống giặc, để tự giải phóng mình và càng hăng hái ủng hộ Chính phủ kháng chiến và dân chủ; đồng thời ảnh hưởng và làm tan rã nguỵ quân, vì đại đa số lính nguỵ là nông dân ở vùng tạm bị chiếm.
Tối đại đa số nhân dân ta là nông dân. Mấy năm nay nhờ lực lượng nông dân mà kháng chiến tranh được thắng lợi. Sau này cũng nhờ lực lượng nông dân mà kháng chiến được hoàn toàn thắng lợi, kiến quốc đi đến thành công.
Nông dân ta chiếm gần 90 phần trăm dân số mà chỉ được độ 3 phần 10 ruộng đất, mà quanh năm khó nhọc, suốt đời nghèo nàn.
Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết độ 7 phần 10 ruộng đất, ngồi mát ăn bát vàng. Tình trạng ấy thật là không công bằng. Nước ta bị xâm lược, dân ta lạc hậu và bần cùng cũng vì đó. Trong mấy năm kháng chiến, tuy Chính phủ đã thực hiện chính sách giảm tô, thoái tô, tạm cấp ruộng đất của Pháp và Việt gian, và tạm chia ruộng công điền cho nông dân ở vùng tự do, nhưng vấn đề mấu chốt là vấn đề quần chúng nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất vẫn chưa giải quyết. Vì vậy mà ảnh hưởng đến lực lượng tham gia kháng chiến và tăng gia sản xuất của nông dân.
Chỉ có thực hiện cải cách ruộng đất, người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn khỏi ách trói buộc của giai cấp địa chủ phong kiến, mới có thể chấm dứt tình trạng bần cùng và lạc hậu của nông dân, mới có thể phát động mạnh mẽ lực lượng to lớn của nông dân để phát triển sản xuất và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Mục đích cải cách ruộng đất là: tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến.
Đường lối chính sách chung là: dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến.
Để thích hợp với đặc điểm của kháng chiến và của Mặt trận dân tộc thống nhất là vừa thoả mãn yêu cầu của nông dân về ruộng đất, vừa củng cố và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất; lợi cho kháng chiến và lợi cho sản xuất; trong khi thực hiện cải cách ruộng đất, phải phân biệt đối đãi với các địa chủ tuỳ thái độ chính trị của mỗi người. Nghĩa là dùng chính sách phân biệt: tịch thu, trưng thu, trưng mua; mà không dùng chính sách tịch thu cả loạt hay trưng thu cả loạt.
Phương châm cải cách ruộng đất là: phóng tay phát động quần chúng nông dân, dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, tổ chức, giáo dục và lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ.
Ruộng đất mà địa chủ đã phân tán từ ngày có Sắc lệnh giảm tô (14-7-1949) đều là không chính đáng (trừ những tình hình đặc biệt đã nói trong thông tư của Thủ tướng phủ ngày 1-6-1953).
Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua đều chia hẳn cho những nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất. Nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó.
Nguyên tắc chia ruộng đất là: lấy xã làm đơn vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu cố những nông dân trước đã cày những ruộng đất ấy.
Những bọn ngoan cố kiên quyết phá hoại việc cải cách ruộng đất và những bọn Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì những tên nào bị án tù trên 5 năm, sẽ không được hưởng phần ruộng đất.
*
* *
Những cuộc phát động quần chúng năm nay là để thí nghiệm và chuẩn bị cho việc cải cách ruộng đất năm sau. Trong những cuộc thí nghiệm ấy, chúng ta đã thu được một số kinh nghiệm. Những nơi nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng (dù một số cán bộ ở một vài nơi còn sai lầm, lệch lạc) nói chung đã thu kết quả tốt.
Còn những nơi Trung ương chưa định phát động, mà địa phương nóng nảy, hấp tấp tự phát, đều bị thất bại.
Cải cách ruộng đất là chính sách cho cả nước, nhưng phải làm từng bước, tuỳ điều kiện mà nơi thì làm trước, nơi thì làm sau.
Sau khi Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất, sang năm Chính phủ sẽ chỉ định rõ địa phương nào ở vùng tự do và thời hạn bao lâu, để thực hiện cải cách ruộng đất.
Những vùng đồng bào thiểu số, Liên khu V, Nam Bộ và những căn cứ du kích, Chính phủ sẽ định sau.
Những vùng du kích và những vùng tạm bị chiếm khi nào được giải phóng sẽ thi hành chính sách ruộng đất.
Những nơi chưa phát động quần chúng triệt để giảm tô, thì nhất định phải kinh qua phát động quần chúng triệt để giảm tô, rồi mới chuyển sang cải cách ruộng đất. Làm như vậy là để tổ chức nông dân, nâng cao giác ngộ chính trị của nông dân, xây dựng ưu thế chính trị của nông dân ở trong làng xã, đồng thời để rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn tổ chức, chuẩn bị điều kiện chính trị cho việc cải cách ruộng đất.
Những nơi chưa được Chính phủ chỉ định phát động quần chúng, thì tuyệt đối không được tự phát.
Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc giai cấp đấu tranh ở nông thôn, rất rộng lớn, gay go và phức tạp, cho nên chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt chẽ, địa điểm phải định cẩn thận, thời hạn phải nắm chắc chắn, thi hành phải thật đúng đắn. Đó là những điều kiện để đi đến thành công.
Kinh nghiệm quốc tế cho chúng ta thấy rằng: cải cách ruộng đất thành công sẽ giúp chúng ta khắc phục được nhiều khó khăn, giải quyết được nhiều công việc.
Về quân sự, đồng bào nông dân sẽ thêm hăng hái tham gia kháng chiến, do đó mà việc mở rộng quân đội, và huy động dân công sẽ được dễ dàng hơn. Bộ đội ta càng yên tâm đối với gia đình, và đánh giặc càng thêm hăng.
Về chính trị, quyền chính trị và kinh tế ở nông thôn sẽ do nông dân nắm, nhân dân dân chủ chuyên chính sẽ thật thà thực hiện, khối công nông liên minh sẽ càng vững chắc, Mặt trận dân tộc thống nhất sẽ bao gồm hơn 90 phần trăm nhân dân ở nông thôn và trở nên vô cùng rộng lớn, mạnh mẽ.
Về kinh tế, được giải phóng khỏi ách địa chủ phong kiến, nông dân sẽ vui vẻ tăng gia sản xuất và tiết kiệm, sức tiêu thụ tăng thêm, công thương nghiệp sẽ phát triển, toàn bộ kinh tế quốc dân được mở mang.
Nhờ tăng gia sản xuất mà đời sống của nông dân, công nhân, bộ đội, cán bộ đều được cải thiện mau hơn.
Về văn hoá xã hội, đại đa số nhân dân sẽ đủ ăn đủ mặc, "có thực mới vực được đạo", sẽ hăng hái học tập hơn và do đó sẽ phát triển mỹ tục thuần phong. Kinh nghiệm những nơi đã phát động quần chúng chứng tỏ rằng: đồng bào rất ham học, và các nhà trí thức sẽ có nhiều cơ hội để phục vụ nhân dân.
Như trên đã nói, cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp rộng lớn, phức tạp, gay go. Nó càng phức tạp, gay go vì chúng ta đang kháng chiến. Nhưng chính vì để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi, mà chúng ta phải kiên quyết làm cho việc cải cách ruộng đất thành công.
Cũng vì nó là một cuộc đấu tranh phức tạp, gay go, cho nên trong tư tưởng, trong hành động và trong khi chấp hành chính sách, một số cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) có thể xảy ra sai lầm lệch lạc. Để ngăn ngừa và sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm ấy, chúng ta cần phải nắm vững chính sách của Đảng và của Chính phủ, dựa hẳn vào quần chúng và đi đúng đường lối quần chúng.
Chính phủ và Đảng kêu gọi toàn thể cán bộ và đảng viên: phải theo đúng chính sách của Chính phủ và Đảng, phục tùng kỷ luật, đứng hẳn về phía nông dân, lãnh đạo nông dân đấu tranh, gặp lúc quyền lợi cá nhân và gia đình mâu thuẫn với quyền lợi của kháng chiến, của quần chúng nông dân thì phải hy sinh quyền lợi riêng cho quyền lợi chung của kháng chiến, của quần chúng.
Chúng ta phải động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân để đảm bảo thực hiện cải cách ruộng đất, để làm tròn nhiệm vụ to lớn ấy.
Đối với đảng viên, cán bộ các đảng phái dân chủ, các nhân sĩ yêu nước, đó là một cuộc thử thách to lớn. Tất cả chúng ta phải thắng lợi trong cuộc thử thách ấy, cũng như chúng ta đang thắng lợi trong cuộc thử thách to lớn là kháng chiến chống đế quốc xâm lược.
Vậy hai nhiệm vụ trung tâm của chúng ta năm sau là: ra sức đánh giặc và thực hiện cải cách ruộng đất.
Ra sức đánh giặc trên các chiến trường, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đập tan âm mưu quân sự mới của địch.
Phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất ở những vùng Chính phủ chỉ định.
Cải cách ruộng đất để đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi.
Ra sức đánh giặc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch để đảm bảo cho việc cải cách ruộng đất được thành công.
Mọi công tác khác đều phải kết hợp xung quanh hai nhiệm vụ trung tâm đó và phục vụ hai nhiệm vụ đó. Trong năm 1954, phải đặc biệt chú trọng ba công tác lớn:
Kết hợp tăng cường xây dựng lực lượng võ trang (chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) về mọi mặt: tổ chức, huấn luyện, tiếp tục nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và sức chiến đấu của bộ đội.
Kết hợp việc rèn luyện, nâng cao tư tưởng của cán bộ, và việc cất nhắc điều chỉnh cán bộ, chỉnh đốn cơ sở đảng ở nông thôn.
Kết hợp việc tăng gia sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nhu cầu cho kháng chiến và lương thực cho nhân dân, làm cho nền kinh tế quốc dân hoạt động mạnh.
Thực hiện đầy đủ hai nhiệm vụ trung tâm và ba công tác lớn ấy thì càng có điều kiện thuận tiện để thực hiện những công tác khác như: giữ vững và phát triển công tác và đấu tranh trong vùng sau lưng địch, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân ở xã, chấn chỉnh công tác công an, phát triển và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, thu thuế nông nghiệp, phát triển kinh tế tài chính, tuyên truyền giáo dục, văn hoá xã hội...
*
* *
Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng tổ chức và lãnh đạo, để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan. Chúng ta có thể kết luận rằng dưới sự lãnh đạo đúng đắn, chắc chắn của Chính phủ và của Đảng, với sự giúp đỡ tận tâm của Quốc hội và Mặt trận, cuộc cải cách ruộng đất thành công sẽ làm cho chúng ta tiến một bước rất dài đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 172-185.
___________
1. Nguyên bản có ba chấm.
LỜI KÊU GỌI NHÂN DỊP KỶ NIỆM 7 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Bước sang năm thứ 8 của cuộc kháng chiến toàn quốc, tôi rất vui mừng báo cáo với toàn thể đồng bào và chiến sĩ một thắng lợi chính trị rất to lớn của chúng ta: Đầu tháng 12 vừa qua, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhất trí nhiệt liệt thông qua Luật cải cách ruộng đất, để thực hiện người cày có ruộng.
Từ ngày thực dân Pháp bội ước gây ra chiến tranh xâm lược nước ta và nhân dân ta kiên quyết đứng lên kháng chiến để giữ gìn độc lập của Tổ quốc, thì tình hình đã thay đổi nhiều: lúc đầu tình hình thế giới và tình hình trong nước đều khó khăn cho ta. Nhưng tình hình thế giới phát triển ngày càng rất có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Lực lượng hoà bình dân chủ thế giới do Liên Xô đứng đầu ngày càng vững vàng và phát triển, đã mạnh hơn nhiều lực lượng của phe đế quốc gây chiến.
Ở trong nước thì cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta ngày càng thêm mạnh và đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá. Chúng ta đã đánh cho địch những đòn nặng nề, đã làm cho địch thua thiệt đau đớn. 7 năm qua, chúng ta đã tiêu diệt hơn 32 vạn quân địch, đã làm cho địch thiếu hụt binh sĩ. Để cứu vớt thất bại ấy, địch ra sức thực hiện âm nưu "dùng người Việt đánh người Việt", gấp rút mở rộng nguỵ quân; song như thế thì khác nào uống thuốc độc cho đỡ khát. 7 năm qua, địch đã hao tổn 3 triệu triệu bạc Pháp. Vì vậy mà kinh tế tài chính của địch đã kiệt quệ, chúng phải quỵ luỵ, xin xỏ Mỹ, ngày càng phụ thuộc vào Mỹ, đế quốc Mỹ thì nhân đó mà nô dịch nhân dân Pháp và trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Việt - Miên - Lào hòng thay thế địa vị Pháp ở Đông Dương .
Những sự thật đó đã chứng tỏ thế địch ngày càng yếu, thế ta ngày càng mạnh.
Vì cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa, cho nên nhân dân Pháp và nhân dân các nước bị Pháp thống trị cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ ta, và đấu tranh ngày thêm mạnh chống cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam .
Nhân dịp này, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam gửi lời thân ái chào nhân dân Pháp và nhân dân các nước bị Pháp thống trị. Tôi cảm ơn giai cấp công nhân thế giới đã lấy ngày hôm nay là "Ngày quốc tế tích cực đoàn kết với nhân dân Việt Nam" và cảm ơn nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đã hăng hái ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam.
Vì độc lập dân tộc và hoà bình thế giới mà quân và dân ta kháng chiến rất anh dũng và đã thu nhiều thắng lợi to lớn. Với sức đoàn kết kháng chiến ngày thêm mạnh của nhân dân ta, với sự ủng hộ ngày càng thêm tích cực của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, cuộc kháng chiến của ta nhất định thắng lợi.
Bởi vì thực dân Pháp cứ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, cho nên nhân dân Việt Nam quyết đánh mạnh hơn nữa, tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa, quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình, thì nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng sẵn sàng nói chuyện.
Vậy, để thực hiện độc lập thật sự và hoà bình thật sự, quân và dân ta phải ra sức làm tròn hai nhiệm vụ trung tâm là: đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất. Hai nhiệm vụ ấy gắn liền chặt chẽ với nhau: Phải cải cách ruộng đất để bồi dưỡng lực lượng nhân dân, đảm bảo kháng chiến thắng lợi. Phải đẩy mạnh kháng chiến để bảo đảm cải cách ruộng đất thành công.
Cũng như công việc kháng chiến, cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh to lớn; cho nên công tác phát động quần chúng phải rất cẩn thận, phải có kế hoạch đầy đủ, phải có lãnh đạo chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh tự ý phát động, thì cải cách ruộng đất sẽ chắc chắn thành công.
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Hỡi toàn thể chiến sĩ và cán bộ!
Chúng ta hãy ra sức thi đua làm tròn hai nhiệm vụ trung tâm ấy, để thực hiện độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc ta và hoà bình thật sự cho nhân dân ta.
Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Kiến quốc nhất định thành công!
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 1191-193.
THƯỜNG THỨC CHÍNH TRỊ
Viết năm 1953.
Ký tên Đ.X.
Nxb. Sự thật xuất bản
lần đầu năm 1954.
In theo bản của
Nhà xuất bản Sự thật.
1- GIAI CẤP LÀ GÌ?
Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng cho dân tộc ta khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp. Mọi người đều được bình đẳng, tự do. Để làm cho đại đa số nhân dân, tức là công nhân và nông dân, được sung sướng hơn, chúng ta phải ra sức kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn và thực hiện dân chủ mới.
Tất cả của cải vật chất trong xã hội, đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển. Song những người lao động thì suốt đời nghèo khó, mà có một số người không lao động thì lại "ngồi mát ăn bát vàng". Vì đâu có nỗi chẳng công bằng này? Vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội.
Tư liệu sản xuất tức là ruộng đất, hầm mỏ, công cụ và nguyên liệu. Họ có tư liệu sản xuất nhưng họ không làm lụng, họ bắt buộc người khác làm cho họ hưởng. Do đó mà có giai cấp.
Những người chiếm tư liệu sản xuất không làm mà hưởng, là giai cấp bóc lột. Những người lao động mà không được hưởng là giai cấp bị bóc lột.
2 - CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN LÀ GÌ ?
Từ mấy nghìn năm nay, xã hội Việt Nam bị chế độ phong kiến thống trị.
Chế độ phong kiến tức là chế độ địa chủ bóc lột nông dân.
Địa chủ chiếm tư liệu sản xuất, tức là ruộng đất, nông cụ, vân vân, làm của riêng, nhưng họ không cày cấy. Nông dân buộc phải mướn ruộng đất của địa chủ, phải nộp tô cho địa chủ, lại còn phải hầu hạ và lễ lạt địa chủ. Nông dân không khác gì nô lệ.
Nông dân quanh năm tay lấm chân bùn, đầu tắt mặt tối, nhưng vẫn nghèo khổ. Địa chủ thì không nhắc chân động tay, mà lại cửa cao nhà rộng, phú quý phong lưu. Đó là một chế độ cực kỳ không công bằng.
Nông dân vì nghèo khó, không thể nâng cao mức sản xuất. Địa chủ thì chỉ lo lấy địa tô, không lo cải thiện sự sản xuất. Vì vậy, sản xuất không thể nâng cao.
Đặc điểm của chế độ phong kiến là: nông dân sản xuất một cách rời rạc. Địa chủ bóc lột một cách tàn tệ.
Nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp địa chủ. Nó lấy vua chúa làm trung tâm. Nó dùng mồ hôi nước mắt của nông dân để nuôi một bầy quan lại và quân lính, đặng áp bức bóc lột nông dân.
Trải mấy nghìn năm, nông dân nhiều phen nổi lên chống chế độ phong kiến địa chủ, nhưng kết quả thất bại, vì họ không biết tổ chức chặt chẽ. Nông dân cần có một giai cấp tiền tiến lãnh đạo - tức là giai cấp công nhân, thì mới chắc chắn được giải phóng.
Từ ngày kháng chiến, nông dân ta được chia ruộng đất của thực dân Pháp và của Việt gian, được giảm tô giảm tức. Nhưng đó chỉ mới là bước đầu. Muốn hoàn toàn giải phóng, thì với sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nông dân ta phải hăng hái và kiên quyết tiến lên nữa.
3 - CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÀ GÌ ?
Chủ nghĩa tư bản là chế độ một bọn ít người bóc lột và thống trị đại đa số nhân dân. Song bọn ấy là bọn tư bản, chứ không phải là bọn phong kiến.
Cách đây vài trăm năm, các nước phương Tây bắt đầu có máy móc, có công nghệ và có chế độ tư bản.
Dưới chế độ ấy, bọn tư bản chiếm các tư liệu sản xuất (như nhà máy, nguyên liệu...) làm của riêng. Nhưng tự họ không lao động, mà thuê công nhân sản xuất để bóc lột công nhân.
Công nhân phải bán sức lao động mới có ăn. Ngoài sức lao động, họ không có máy móc và nguyên liệu gì cả. Cho nên công nhân là giai cấp vô sản.
Công nhân sản xuất các thứ của cải, song của cải ấy đều thành của cải của nhà tư bản. Bọn tư bản chỉ trả cho công nhân một số tiền công rất ít. Nhà tư bản thuê công nhân mục đích là cốt kiếm lãi. Công nhân vì không có tư liệu sản xuất, mà phải chịu bọn tư bản bóc lột. Vì vậy, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là:
1- Máy móc là chủ chốt của tư liệu sản xuất. Dùng máy móc phải tập trung đông người. Do đó, để sản xuất, thì sức lao động hoá ra tập thể.
2- Nhà tư bản chiếm hết mọi tư liệu sản xuất, họ dùng chế độ tiền công để bóc lột công nhân.
Về mặt sản xuất, so với chế độ phong kiến thì chế độ tư bản là một tiến bộ to. Phong kiến, chỉ nhờ sức người và sức súc vật mà sản xuất. Tư bản thì dùng máy móc mà sản xuất. Dùng máy móc tái sản xuất gấp 10, gấp 100, mà người ta lại ít khó nhọc hơn.
Tư bản sản xuất rất nhiều, song không phải để cho mọi người được hưởng. Vì các tư liệu sản xuất đã bị nhà tư bản chiếm làm của riêng. Đó là một tình trạng rất không hợp lý. Tình trạng đó sinh ra nhiều khó khăn mà nhà tư bản không thể giải quyết: nhà tư bản sản xuất là cốt để bán. Thí dụ, họ sản xuất hàng vạn đôi giầy, không phải để họ dùng, mà để bán. Trong xã hội tư bản, đại đa số nhân dân đã thành nghèo khó, thì bán cho ai ? Vì vậy, mà thường có khủng hoảng kinh tế, vì sản xuất quá nhiều.
Lao động đã tập thể, thì các tư liệu sản xuất và những thứ sản xuất ra, phải là của chung mới đúng.
Nhà tư bản chẳng những bóc lột công nhân trong nước họ, mà còn xâm lược và bóc lột các nước khác. Do đó, chủ nghĩa tư bản trở nên chủ nghĩa đế quốc.
4 - CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC LÀ GÌ ?
Muốn phát triển công nghệ, nhà tư bản cần có rất nhiều tiền vốn. Phần lớn tiền vốn ấy là do họ bóc lột, cướp giật các nước lạc hậu. Họ không bán hết hàng hoá ở trong nước họ, họ áp bức các nước lạc hậu mua của họ. Họ thiếu nguyên liệu, thì họ lấy nguyên liệu của nước lạc hậu. Muốn có nhân công rất rẻ, họ áp bức nhân dân các nước lạc hậu làm công cho họ. Vì vậy, họ dùng vũ lực để chiếm các nước lạc hậu làm thuộc địa.
Các nhà tư bản tranh giành nhau. Cá lớn nuốt cá bé. Kết quả là các công nghệ tập trung vào trong tay một số nhà tư bản to: Bọn này liên kết với nhau, bao biện tất cả các công nghệ. Thế là Tư bản độc quyền.
Bọn này đã nắm quyền kinh tế, họ cũng nắm cả quyền chính trị, cho nên chính phủ các nước tư bản đều là tay sai của bọn tư bản độc quyền. Thế là nước đế quốc chủ nghĩa.
Tư bản độc quyền ra sức tranh nhau nguyên liệu, tranh nhau thị trường, tranh nhau thuộc địa. Do đó, các nước đế quốc chủ nghĩa xung đột lẫn nhau, rồi sinh ra chiến tranh.
Bị bóc lột quá tệ, giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các dân tộc bị áp bức nổi lên đấu tranh, nổi lên cách mệnh. Cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc bị đánh tan.
5 - ĐẾ QUỐC PHÁP XÂM LƯỢC NƯỚC TA
Hơn 80 năm trước, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến Việt Nam (vua, quan, đại địa chủ) thì hủ bại đê hèn, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc.
Khi đã cướp được nước ta, đế quốc Pháp liền mở nhà máy và hầm mỏ, để thu hút nguyên liệu của ta và bóc lột công nhân ta. Chúng lập ra ngân hàng để khống chế kinh tế của ta. Chúng mở xe lửa và tầu thuỷ để chuyên chở hàng hoá của chúng và vận tải quân đội của chúng đặng đàn áp nhân dân ta. Chúng mở một ít trường học, để nhồi sọ thanh niên ta, biến họ thành những người nô lệ dễ sai khiến.
Thế là đế quốc Pháp cướp hết quyền kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá của nước ta, và thu hút hết mồ hôi nước mắt của nhân dân ta.
Đế quốc Pháp ra sức duy trì chế độ phong kiến Việt Nam để làm tay sai cho chúng, vì thế lực phong kiến rải khắp cả nước, và thống trị đại đa số nhân dân là nông dân. Giai cấp phong kiến thì dựa vào thế lực đế quốc mà sống còn.
Từ đó, nhân dân Việt Nam vừa bị đế quốc vừa bị phong kiến áp bức bóc lột.
Song nhân dân Việt Nam là một nhân dân anh hùng oanh liệt, trong lịch sử đã nhiều phen nổi lên đánh đổ ngoại xâm. Lần này nhân dân ta lại đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt mọi khó khăn gian khổ, để đánh tan thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn; kiên quyết tranh lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho đồng bào.
6 - TƯ BẢN MẠI BẢN LÀ GÌ ?
Đế quốc quyết không để cho tư bản dân tộc phát triển. Vì nếu tư bản Việt Nam phát triển, thì sẽ tranh mất mối lợi của chúng.
Chế độ phong kiến cũng ngăn trở tư bản dân tộc phát triển, vì lẽ này: dưới chế độ phong kiến, bao nhiêu của cải do nông nghiệp làm ra, đều lọt vào tay giai cấp địa chủ. Địa chủ không làm lụng mà vẫn được hưởng của cải, cho nên họ không muốn mạo hiểm bỏ vốn vào công nghệ. Vả chăng, công nghệ thì cần có thị trường để buôn bán; song đại đa số nhân dân ta là nông dân mà nông dân thì bị địa chủ bóc lột thậm tệ, còn tiền đâu mà mua. Nếu họ có chút đỉnh tiền, thì lại bị hàng hoá của đế quốc thu hút hết.
Thế là vì đế quốc áp bức, vì phong kiến ngăn trở mà tư bản nước ta không phát triển được.
Có một bọn tư bản Việt Nam dựa vào đế quốc mà làm giàu. Họ giúp việc các hiệu buôn, ở nhà băng, nhà máy của đế quốc. Họ giúp đế quốc bóc lột nhân dân ta, do đó họ phát tài. Rồi họ cũng mở cửa hàng, thậm chí mở nhà máy hoặc nhà băng nho nhỏ. Những doanh nghiệp ấy, tiếng là của người Việt Nam, kỳ thực vẫn là thế lực của đế quốc, nó nhờ vào đế quốc mà sống, nó làm theo mệnh lệnh của đế quốc. Vì vậy, nó cũng là tay sai của đế quốc, chống lại lợi ích của nhân dân.
Đó là tư bản mại bản.
7 - KINH TẾ LẠC HẬU LÀ THẾ NÀO?
Kinh tế chủ yếu gồm có công nghệ và nông nghiệp. Công nghệ gồm có công nghệ nhẹ như nhà máy dệt vải, làm diêm, xà phòng, và công nghệ nặng như nhà máy sắt, gang, đóng tầu thuỷ, làm xe hơi, v.v..
Một nước độc lập, ắt phải có công nghệ nặng. Vì đế quốc và phong kiến áp bức, mà Việt Nam ta không phát triển được công nghệ và không có công nghệ nặng.
Về nông nghiệp: Đất đai ta rất rộng, nông dân ta rất siêng năng chịu khó, nhưng phần lớn đất ruộng đều tập trung trong tay bọn thực dân và địa chủ phong kiến. Nông dân thì thiếu ruộng hoặc không có ruộng, thiếu cả trâu bò. Vì vậy nông thôn ngày càng sa sút.
Do đó kinh tế Việt Nam thành lạc hậu và phụ thuộc vào kinh tế của đế quốc Pháp. Tình hình ấy khiến số rất đông nhân dân, tức là công nhân và nông dân, cực khổ, khó khăn.
8- VÌ SAO NHÂN DÂN VIỆT NAM CỰC KHỔ?
Phong kiến địa chủ và tư sản mại bản, thà chịu kinh tế nước nhà phụ thuộc vào đế quốc, chứ không muốn giải phóng nông dân, không muốn công nghệ nước ta được phát triển.
Thêm vào đó, trước Cách mạng Tháng Tám, công nhân, nông dân, học sinh, công chức và những nhà tư sản dân tộc Việt Nam không có quyền chính trị, không có quyền tự do.
So với công nhân các nước, thì công nhân Việt Nam rất khổ, nhất là công nhân vùng tạm bị chiếm. Làm nhiều giờ tiền lương ít. Lại thêm chế độ phải lễ lạt đút lót cho bọn cai là một chế độ bóc lột có tính chất phong kiến. Nạn thất nghiệp thường xảy ra.
Nông dân thì nghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao thuế nặng. Địa chủ lấy địa tô quá nặng, cho vay cắt họng, làm cho nông dân nhiều khi phải bán vợ đợ con. Nếu gặp hạn hán bão lụt, là chết đói đầy đường.
So với công nhân, nông dân, thì giai cấp tiểu tư sản sướng hơn nhưng sinh hoạt của họ cũng không chắc chắn:
Người có tiệm buôn, người có xưởng thủ công hoặc xưởng công nghệ nhỏ thì bị hàng ngoại hoá đè lên, không phát triển được. Lại bị thuế khoá nặng nề và tiền lãi cắt họng uy hiếp.
Người làm thầy giáo, thầy thuốc, văn nghệ, vân vân, cũng không thể sung sướng trong lúc cả nước bần cùng.
Những nhà tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến đè nén ngăn trở, không có đường ra, doanh nghiệp của họ rất bấp bênh và thường dễ phá sản.
Vì lẽ đó, muốn giải phóng thì nhân dân, tức là công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, phải đoàn kết để đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến và tư sản mại bản.
9 - CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG
Không chịu nổi đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột, nhân dân Việt Nam nhiều lần nổi lên đấu tranh, song kết quả thất bại, vì lúc đó chưa có giai cấp công nhân lãnh đạo. Từ ngày Cách mạng Nga thành công, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, thì nhân dân Việt Nam tiến lên con đường giải phóng đúng đắn.
Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tuỳ theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần.
Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện "người cày có ruộng", xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến, và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp. Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.
Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới (tức là cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân hiện nay). Cách mạng Nga thành công, mặt trận đế quốc và tư bản thế giới đã tan vỡ một phần sáu trên quả đất, đồng thời đã lập thành một chế độ xã hội chủ nghĩa vững chắc. Tiếp đến cách mạng các nước dân chủ nhân dân Trung, Đông Âu thành công, mở rộng thêm chủ nghĩa xã hội. Gần đây cách mạng Trung Quốc thành công, xây dựng và phát triển nền dân chủ mới. Từ đó mọi phong trào cách mạng của giai cấp lao động và của nhân dân các thuộc địa đều nhằm đánh đổ kẻ thù chung là đế quốc, và có hai người bạn trung thành và to lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc.
Vì vậy, cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới, chứ không thể là dân chủ cũ.
10. "CANH GIẢ HỮU KỲ ĐIỀN"
Nghĩa là dân cày có ruộng.
Phải chăng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội?
Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại "canh giả hữu kỳ điền" là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hữu, đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất.
Cách đây hơn 150 năm, Cách mạng tư sản Pháp đã chia ruộng cho nông dân. Cách đây độ 50 năm, lãnh tụ tư sản Trung Quốc là cụ Tôn Trung Sơn đã để lại khẩu hiệu ấy. Ngày nay, các nước dân chủ nhân dân đều thực hành chính sách ấy. Có những nước không phải dân chủ, (thậm chí bọn bù nhìn) cũng nêu ra khẩu hiệu ấy.
Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ. Ruộng đất do tay nông dân khai khẩn và cày cấy. Phong kiến địa chủ chiếm đoạt làm của họ, rồi áp bức bóc lột dân cày. Lại do phong kiến địa chủ mà công nghệ và thương nghiệp của giai cấp tư sản không phát triển được, và nước nhà lâm vào kinh tế lạc hậu.
Vậy "canh giả hữu kỳ điền" là ruộng đất của dân cày lại trả lại cho dân cày. Song phong kiến địa chủ "ngồi mát ăn bát vàng" đã quen, chắc họ không tự nguyện trả đất ruộng lại cho dân cày. Cho nên dân cày cần phải đoàn kết chặt chẽ, tổ chức vững vàng, hăng hái đấu tranh, mới đòi lại được ruộng đất của mình.
11 - ĐỘNG LỰC CÁCH MẠNG
Cách mạng tức là giai cấp tiến bộ đánh đổ giai cấp phản tiến bộ.
Những giai cấp ủng hộ và tham gia cách mạng tức là động lực cách mạng.
Theo tính chất cách mạng của mỗi nước mà quyết định động lực cách mạng bao gồm những giai cấp nào. Tính chất cách mạng của ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng gồm có những giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản.
Trong một thời kỳ và một trình độ nhất định, giai cấp tư sản dân tộc cũng là động lực cách mạng.
Vì bị đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột tàn tệ, cho nên giai cấp công, nông, tiểu tư sản nhiệt liệt mong muốn đánh đổ chúng. Tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức ngăn trở, cho nên họ cũng có thể đứng về phe cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động, 4 giai cấp ấy đoàn kết thành mặt trận thống nhất, đánh đế quốc và phong kiến đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Tuy vậy, trong công việc sản xuất, địa vị của mỗi giai cấp khác nhau, cho nên đặc tính của mỗi giai cấp cũng khác nhau. Đặc tính khác nhau cho nên vai trò cách mạng cũng khác nhau.
12- VÌ SAO CÔNG NHÂN LÀ GIAI CẤP LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG?
Tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động mà sống, là công nhân. Bất kỳ họ lao động trong công nghệ hay là trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì, cũng đều thuộc về giai cấp công nhân.
Chủ chốt của giai cấp ấy, là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa, vân vân... Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông, vân vân..., cũng thuộc về giai cấp công nhân. Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân.
Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo.
Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng.
Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến. Lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản hoá. Thành thử đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Mai sau, công nghệ của ta ngày càng phát triển, thì số công nhân ngày càng tăng thêm.
Tuy hiện nay ở nước ta giai cấp công nhân còn nhỏ, song ở thế giới thì giai cấp công nhân rất to lớn. Cho nên quyền lãnh đạo cách mạng chỉ do giai cấp công nhân nắm.
13- GIAI CẤP NÔNG DÂN
Giai cấp nông dân, chủ chốt là bần nông và trung nông là quân đội chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới (cố nông thuộc về giai cấp công nhân).
Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất, và nghèo khổ nhất. Họ chân bùn tay lấm quanh năm, mà vẫn suốt đời đói rách, vì họ bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần nông hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng, và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy họ là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân.
Trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, không bóc lột ai, cũng không phải làm thuê cho ai. Họ sinh sống khá hơn bần nông. Song gặp mất mùa thì họ cũng chật vật. Vả lại họ cũng bị bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, và bọn đế quốc áp bức bóc lột. Thực hiện chính sách "dân cày có ruộng" thì họ cũng có lợi. Cho nên họ cũng hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc chắn của giai cấp công nhân.
Cách mạng ta hiện nay là chống đế quốc, chống phong kiến. Nông dân là lớp người đông nhất trong nhân dân, cho nên họ là quân chủ lực của cách mạng.
Trong cuộc kháng chiến của ta, nông dân đóng góp nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất. Trong quân đội ta, tối đại đa số là nông dân. Trong công cuộc xây dựng dân chủ mới, muốn phát triển công nghệ và thương nghiệp, ắt phải do nông dân được giải phóng, thi đua sản xuất, cung cấp nguyên liệu và lương thực, đồng thời tiêu thụ dồi dào những thứ công nghệ sản xuất ra.
Nhưng vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp tổ chức họ, và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là công nông liên minh.
14- GIAI CẤP TIỂU TƯ SẢN
Giai cấp này gồm có: phần tử trí thức, các nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những người làm nghề tự do (như thầy thuốc, luật sư...), công chức.
Đại đa số trí thức và học sinh thuộc giai cấp tiểu tư sản. Nói chung, thì họ cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức, thường bị thất nghiệp, thất học.
Họ có học thức, dễ có cảm giác chính trị. Họ không trực tiếp bóc lột lao động. Vì vậy, họ dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông.
Song trí thức và học sinh thường mắc những nhược điểm rất to, như: lý luận không đi đôi với thực hành, xem khinh lao động, tư tưởng mơ hồ, lập trường không vững, khi hành động thì hay lung lay.
Những lớp tiểu tư sản khác (những nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, những người làm nghề tự do, v.v.) cũng bị đế quốc và phong kiến bóc lột. Kinh tế của họ bấp bênh, thường bị thất nghiệp, phá sản. Cho nên số đông cũng tham gia và ủng hộ kháng chiến, cách mạng. Họ cũng là đồng minh quan trọng của giai cấp công nhân.
Nói chung là giai cấp tiểu tư sản có những nhược điểm: tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết... Cho nên đối với họ, giai cấp công nhân cần phải tuyên truyền, tổ chức họ, giúp họ phát triển ưu điểm, sửa chữa nhược điểm, cần phải khôn khéo lãnh đạo họ, làm cho họ quyết tâm phụng sự nhân dân, cải tạo tư tưởng, cùng với công nông kết thành một khối, thì họ mới trở nên tác dụng to lớn trong công cuộc kháng chiến, cách mạng.
15 - GIAI CẤP TƯ SẢN DÂN TỘC
Là giai cấp tư sản không dính líu với đế quốc, hoặc dính líu rất ít. Một mặt thì họ bị đế quốc và phong kiến ngăn trở, cho nên họ cũng muốn chống đế quốc và phong kiến. Nhưng mặt khác, họ là giai cấp bóc lột, cho nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh. Vả lại về mặt kinh tế, họ còn dính líu ít nhiều với địa chủ phong kiến, cho nên đối với việc cải cách ruộng đất, họ còn do dự. Do đó mà tư sản dân tộc vừa muốn cách mạng vừa muốn thoả hiệp. Bởi vậy, giai cấp công nhân cần phải vừa đoàn kết với họ, vừa đấu tranh với họ để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Có như vậy, giai cấp tư sản dân tộc mới phát triển được tác dụng cách mạng của họ, và phát triển kinh tế của họ.
Dù đặc điểm khác nhau, tác dụng khác nhau, song trong kháng chiến, trong cách mạng dân chủ mới, các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, đều có lợi ích chung, mục đích chung, cần phải đoàn kết lại thành mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính đảng của giai cấp ấy tức là Đảng Lao động Việt Nam. Như thế, thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.
16 - CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN
Trước đây Việt Nam ta là một nước thuộc địa và phong kiến. Cho nên cách mạng của ta là cách mạng dân tộc và dân chủ mới, tức là chống đế quốc, chống phong kiến. Rồi tiến dần đến chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng ta đã trường kỳ và gian khổ, mới đến thành công.
Năm 1917, cách mạng Nga thành công. Chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần truyền đến nước ta. Chính đảng của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập năm 1930. Đảng ra sức tuyên truyền, tổ chức. Phong trào công nông bắt đầu tiến mạnh. Cách mạng Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất lớn đến cách mạng ta.
Trải 15 năm đấu tranh gian khổ, bị đế quốc và phong kiến khủng bố, giết chóc, tù đầy, nhưng Đảng Cộng sản chẳng những không bị tiêu diệt, mà lại được thử thách dùi mài, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Năm 1939, Thế giới chiến tranh lần thứ hai nổ bùng. Năm 1945, Liên Xô đánh thắng phát xít Đức và Nhật. Nhờ đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, nổi lên cách mạng, tranh lấy chính quyền, lập thành Nhà nước dân chủ cộng hoà.
Nhưng đế quốc Pháp - Mỹ muốn cướp nước ta. Đồng minh của chúng là địa chủ phong kiến muốn bán nước ta. Cho nên ta phải kháng chiến cứu nước.
Năm 1945, Đảng còn nhỏ, Việt Minh còn yếu, song nhờ sức đoàn kết của nhân dân, mà cách mạng ta thắng lợi.
Ngày nay, ta có chính quyền nhân dân mạnh mẽ, có Mặt trận dân tộc vững chắc, có Quân đội nhân dân hùng mạnh. Có Đảng Lao động tiếp tục truyền thống anh dũng của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh qua những cuộc chỉnh Đảng, chỉnh phong làm cho tổ chức và tư tưởng của Đảng thêm mạnh mẽ và trong sạch. Nhân dân ta ngày thêm đoàn kết chặt chẽ. Đó là những điều kiện làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.
17 - CHẾ ĐỘ NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đánh đổ nền thống trị tối tăm của đế quốc và phong kiến, đã đưa nhân dân ta lên con đường sáng sủa, vẻ vang. Nhà nước ta đã thành nhà nước của nhân dân.
Nhà nước là gì? Trải mấy muôn năm, xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có chế độ tư hữu, không có sự bóc lột, không có giai cấp, thì không có nhà nước.
Từ khi có chế độ tư hữu, người giàu thành giai cấp bóc lột, người nghèo thành giai cấp bị bóc lột. Giai cấp người giàu xây dựng bộ máy thống trị gồm có chính phủ, quân đội, toà án, cảnh sát, v.v.. Bộ máy ấy gọi là nhà nước để thống trị giai cấp bị bóc lột. Nhà nước phong kiến là công cụ của địa chủ để thống trị nông dân. Nhà nước tư bản là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị giai cấp công nhân.
Song từ cách mạng Nga thành công, một xã hội mới ra đời, nhà nước đã trở nên công cụ thống trị của nhân dân lao động.
Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân.
18 - NHÂN DÂN DÂN CHỦ CHUYÊN CHÍNH
Trước kia Việt Nam ta vẫn có Nhà nước và chính phủ. Song đó là công cụ của đế quốc và phong kiến để áp bức nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra chính phủ mới, quân đội, công an, toà án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.
Nhà nước mới của ta và Nhà nước cũ, tính chất khác nhau.
Tính chất của một Nhà nước là: trong nhà nước ấy, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị. Nhà nước ấy bảo vệ lợi ích của giai cấp nào, đàn áp giai cấp nào.
Nhà nước cũ nằm trong tay đế quốc và phong kiến, tính chất nó là đế quốc và phong kiến, là phản động.
Nhà nước ta ngày nay là nằm trong tay nhân dân chống đế quốc và phong kiến. Tính chất nó là nhân dân dân chủ chuyên chính.
Nhân dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp ấy đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình. Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ. Đối với đế quốc, phong kiến và lũ phản động, thì thực hành chuyên chính chống lại chúng, đàn áp chúng.
Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, tức là của các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính.
19 - MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT (LIÊN - VIỆT)
Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc đều là động lực của cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, bốn giai cấp đoàn kết và tổ chức thành mặt trận thống nhất to lớn mạnh mẽ. Vì trong công cuộc cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến, trong sự nghiệp kiến quốc, phát triển kinh tế, bốn giai cấp ấy đều có lợi, cho nên bốn giai cấp ấy cần phải đoàn kết, cần phải hợp tác, cùng nhau xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.
Vì sao cần phải lấy công nông liên minh làm nền tảng?
Vì giai cấp công nông là đông nhất, hơn 9 phần 10 trong nhân dân. Vì trong cuộc đấu tranh cách mạng, hai giai cấp ấy là kiên quyết nhất. Liên minh của hai giai cấp ấy là nền tảng rộng rãi và chắc chắn nhất của dân chủ chuyên chính. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, hai giai cấp ấy cũng đóng góp nhiều nhất, hy sinh to nhất, thành tích lớn nhất. Giai cấp công nông là lực lượng chủ chốt để giữ gìn Tổ quốc, xây dựng nước nhà. Vì vậy công nông liên minh là nền tảng tự nhiên của mặt trận dân tộc thống nhất.
20 - DÂN CHỦ TẬP TRUNG
Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.
Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hoá, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình.
Chế độ xô viết ở Liên Xô và chế độ nhân dân đại biểu đại hội ở các nước dân chủ mới đại khái cũng như vậy. Ở Liên Xô không có giai cấp tư sản nữa. Xô viết tức là đại biểu cho toàn thể nhân dân: công nhân, nông dân trong các nông trường tập thể và tầng lớp trí thức.
Ở Trung Quốc và ở nước ta, thì ngoài liên minh công nông, còn có giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc tham gia.
Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.
Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.
Từ Hội đồng nhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.
Chế độ dân chủ tập trung khiến cho toàn thể nhân dân (công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc) đều trở nên chủ nhân chân chính của nước nhà, đều đoàn kết để kháng chiến kiến quốc.
21 - QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA NHÂN DÂN
Dưới sự thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi. Câu tục ngữ dân ngu khu đen, đập đi hò đứng, đã nói rõ tình trạng ấy.
Dưới chế độ dân chủ cộng hoà, thì khác hẳn. Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, v.v. có quyền ứng cử và bầu cử. Đàn bà có mọi quyền lợi như đàn ông. Các dân tộc trong nước đều có quyền lợi như nhau.
Nhân dân được hưởng những quyền lợi ấy, cho nên mọi người cần phải hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi công việc kháng chiến, cứu nước, xây dựng nước nhà.
Nhân dân và quốc dân khác nhau.
Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân.
Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân.
Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới - (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, vân vân) - là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.
Đối với bọn phản động, thì những tổ chức ấy là để bắt buộc chúng phải làm tròn mọi nghĩa vụ.
22- NHIỆM VỤ CỦA NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ MỚI
Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang.
Muốn đạt mục đích ấy, thì phải ra sức kháng chiến, đánh tan bọn đế quốc xâm lược và tiêu diệt bọn phong kiến phản quốc.
Để kháng chiến thắng lợi, nước nhà phải xây dựng nhiều mặt:
- Xây dựng quân đội - một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng. Quân đội ta phải được trang bị đầy đủ, phải học tập nhiều để tiến bộ mãi về mặt kỹ thuật. Phải luôn tăng cường công tác chính trị để bảo đảm là quân đội cách mạng, quân đội quyết chiến quyết thắng.
- Xây dựng chính quyền - Phải cải tiến công tác trong các cơ quan chính quyền, tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Phải giáo dục nhân dân biết sử dụng quyền lợi của mình và hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mình. Phải đàn áp nghiêm ngặt bọn phản động, ngăn ngừa và trừng trị mọi hoạt động phá hoại.
- Xây dựng kinh tế - Phát triển nông nghiệp, công nghệ, thủ công nghệ, thương nghiệp, giao thông vận tải, để cải tiến kinh tế và tài chính của Nhà nước, cải thiện đời sống của nhân dân.
- Xây dựng văn hoá - Phải xây dựng một nền văn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân. Phải đề xướng đạo đức công dân tức là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, bảo vệ của công... Phải chống văn hoá nô lệ của đế quốc và phong kiến. Phải tăng cường công việc vệ sinh, phải phát triển báo chí...
Những công việc xây dựng đó quan hệ mật thiết với nhau, lại quan hệ mật thiết với cuộc phát động quần chúng triệt để thi hành chính sách ruộng đất.
23 - THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở NƯỚC TA (VÙNG TỰ DO)
Hiện nay, kinh tế nước ta có những thành phần như sau:
- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô.
- Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội. Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng. Trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởng trưởng, công trình sư, và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân. Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân.
- Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội. Nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các người con buôn, không bị họ bóc lột.
Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xã.
- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán, và cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu.
- Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế.
- Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội.
24 - CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ
Gồm có mấy điều:
1- Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị.
Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.
2- Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.
Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.
3- Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.
4- Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hoá ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.
Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta.
25 - ÔN CŨ VÀ BIẾT MỚI
Chúng ta đã nghiên cứu những mục:
1) Giai cấp là gì?
2) Phong kiến là gì?
3) Chủ nghĩa tư bản là gì?
4) Chủ nghĩa đế quốc là gì?
5) Đế quốc Pháp xâm lược nước ta.
6) Tư sản mại bản là gì?
7) Kinh tế lạc hậu là thế nào?
8) Vì sao nhân dân Việt Nam cực khổ?
9) Con đường giải phóng.
10) "Canh giả hữu kỳ điền".
11) Động lực cách mạng.
12) Vì sao công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng?
13) Giai cấp nông dân.
14) Giai cấp tiểu tư sản.
15) Giai cấp tư sản dân tộc.
16) Cách mạng và kháng chiến.
17) Chế độ Nhà nước dân chủ cộng hoà.
18) Nhân dân dân chủ chuyên chính.
19) Mặt trận dân tộc thống nhất (Liên - Việt).
20) Dân chủ tập trung.
21) Quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân.
22) Nhiệm vụ của Nhà nước dân chủ mới.
23) Thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do).
24) Chính sách kinh tế của Đảng và của Chính phủ.
Học thì phải ôn cái cũ và biết thêm cái mới. Nếu không ôn lại thì những cái đã học được, sẽ quên mất.
Vậy Đ.X. xin đề nghị:
a) Các đồng chí ôn lại những bài ấy, và liên hệ những bài ấy với công tác của mình. Có chỗ nào không hiểu rõ, hoặc không đồng ý xin các đồng chí gửi thư cho Báo.
b) Xin những cơ quan, bộ đội, xưởng máy, trường học và cá nhân nào đã nghiên cứu những bài ấy, viết thư cho Báo, để Báo biết rõ những bài ấy đã giúp ích được chừng mực nào. Rồi chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm những mục khác.
26 - THỜI ĐẠI MỚI
Thời đại của chúng ta là thời đại mới, thời đại cách mạng thắng lợi.
Trước kia, tư bản đánh đổ phong kiến, phát triển công nghệ; lúc đó tư bản có tính tiến bộ. Nhưng ngày nay tư bản đã thành đế quốc chủ nghĩa, tức là tư bản chủ nghĩa đã mục nát và gần chết.
Vì sao mà mục nát? Vì đế quốc chủ nghĩa tức là tư bản độc quyền. Mấy nhóm đại tư bản choán hết thị trường; không ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng gia sản xuất nữa. Vì đại đa số nhà tư bản đã biến thành bọn đầu cơ và nhờ vào bóc lột các thuộc địa mà sống.
Vì sao mà gần chết? Vì cách sản xuất đã xã hội hoá đến mức rất cao (một nhà máy có hàng vạn công nhân), nó tạo điều kiện cho việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì mâu thuẫn giữa các đế quốc rất sâu sắc nó tạo điều kiện cho việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản. Có ba mâu thuẫn chính là:
1) Mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Vô sản ngày càng cùng khổ, mà giác ngộ ngày càng cao, càng kiên quyết làm cách mạng để đánh đổ chủ nghĩa tư bản.
2) Mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc thuộc địa. Đế quốc bóc lột ngày càng tàn tệ. Nhân dân các thuộc địa ngày càng đau khổ, càng giác ngộ và càng kiên quyết làm cách mạng đánh đổ đế quốc chủ nghĩa. Vô sản các nước cùng với dân tộc các thuộc địa kết thành bạn đồng minh để đánh đổ kẻ thù chung là đế quốc chủ nghĩa.
3) Mâu thuẫn giữa các nhóm tư bản độc quyền và giữa các nước đế quốc. Vì chúng tranh nhau thị trường, tranh nhau thuộc địa, rồi đi đến đánh nhau.
Kết quả ba mâu thuẫn ấy làm cho cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc nổ bùng, và thắng lợi.
27 - XÃ HỘI MỚI
Năm 1914, Thế giới chiến tranh lần thứ nhất nổ bùng.
Năm 1917, cách mạng vô sản thắng lợi ở Nga, một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã thành lập - tức là Liên Xô. Từ đó thế giới chia làm hai phe.
Trước kia, toàn thế giới đều bị tư bản thống trị. Nay, tư bản đã bị đánh đổ ở một nước rất to và vô sản trở nên giai cấp thống trị.
Trước kia, nhiều dân tộc bị đế quốc Nga áp bức. Nay những dân tộc ấy hoàn toàn được giải phóng.
Vì vậy, cách mạng Nga đã khuyến khích giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa cả thế giới nổi lên cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng Mười, đế quốc Pháp, Anh, Mỹ cùng 11 nước khác tiến công Liên Xô. Dưới sự lãnh đạo của Lênin và Xtalin, quân và dân Liên Xô đã đánh thắng bọn đế quốc và bè lũ phản động trong nước. Năm 1928, Liên Xô bắt đầu kế hoạch 5 năm thứ nhất, trong lúc các nước tư bản đang lâm vào kinh tế khủng khoảng. Hiện nay, Liên Xô đang thực hiện kế hoạch 5 năm thứ 5, tiến mạnh đến chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1940, Thế giới chiến tranh thứ hai bùng nổ. Kết quả là:
- Đế quốc Đức, Nhật, Ý sụp đổ. Đế quốc Pháp và Anh suy yếu. Đế quốc Mỹ cô độc. Vậy là thế lực đế quốc càng thu hẹp.
- Các nước Tiệp, Hung, Bảo, Lỗ, Đông Đức, Ba Lan, Anbani, Bắc Triều Tiên đã được quân đội Liên Xô giải phóng, và thành những nước dân chủ mới. Nhờ Liên Xô thắng Nhật, mà Cách mạng Tháng Tám ta thành công, Việt Nam ta cũng thành một nước dân chủ mới. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, 500 triệu nhân dân Trung Quốc đang thực hiện dân chủ mới.
Thế là phe dân chủ và chủ nghĩa xã hội, do Liên Xô lãnh đạo ngày càng mạnh mẽ vẻ vang.
28 - TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NGÀY NAY
Hiện nay, thế giới chia thành hai phe rõ rệt. Phe đế quốc do Mỹ cầm đầu. Phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo.
Đế quốc Mỹ - Trong hai cuộc thế giới chiến tranh, Mỹ ít chết người hại của. Trái lại, Mỹ bán được nhiều hàng hoá, choán được nhiều thị trường, phát tài to. Do đó, Mỹ trở nên đế quốc số 1. Nhờ chiến tranh mà phát tài cho nên Mỹ thành một đế quốc gây chiến bậc nhất. Nếu không bán được vũ khí thì Mỹ sẽ lâm vào kinh tế khủng hoảng.
Chính sách của Mỹ là "lấy máu người, phát tài ta". Song Mỹ sẽ thất bại vì:
- Nạn kinh tế khủng hoảng luôn luôn đe doạ Mỹ.
- Mỹ cô độc, không có một đồng minh mạnh mẽ, mà mâu thuẫn trong phe Mỹ lại rất sâu sắc.
- Chính sách xâm lược là trái với chính nghĩa, nhân dân nước nào cũng ghét.
- Quân đội Mỹ non nớt, ít kinh nghiệm.
Người địch của đế quốc Mỹ, là phe dân chủ hoà bình thế giới, rất to và ngày càng to.
Phe dân chủ hoà bình - Liên Xô là một phần sáu quả đất với 200 triệu nhân dân, ngày càng giàu mạnh. Quân đội hùng mạnh và nhiều kinh nghiệm. Quân và dân đoàn kết nhất trí, trình độ chính trị rất cao.
Trung Quốc - Đất đai rộng bằng cả châu Âu. Nhân dân đông gấp ba Mỹ, gấp 12 Pháp. Người đông, đất rộng, của nhiều, đoàn kết.
Cộng với các nước dân chủ nhân dân khác, cộng với nhân dân yêu chuộng hoà bình ở khắp thế giới, đó là một lực lượng vô cùng to lớn, mạnh hơn phe đế quốc, đủ đánh tan âm mưu đế quốc và đẩy mạnh thế giới tiến lên.
29- TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
Nước ta đang kháng chiến chống đế quốc xâm lược, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Thực dân Pháp yếu dần, nhưng vì chúng được phe đế quốc giúp sức nhất là đế quốc Mỹ, cho nên tạm thời địch còn mạnh.
Tuy vậy, ta nhất định thắng lợi. Vì phe ta, phe dân chủ ngày càng mạnh. Vì phe địch nhiều mâu thuẫn, và ngày càng yếu. Vì ta có chính nghĩa, mà địch là bọn đi cướp nước. Vì nội bộ địch lủng củng, mà nhân dân ta thì đoàn kết một lòng.
Đoàn kết là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ. Ngoài thì ta đoàn kết với nhân dân Miên, Lào, Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác. Trong thì đoàn kết toàn thể nhân dân yêu nước, tức là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những thân sĩ kháng chiến nghĩa là 99 phần trăm toàn dân ta. Đó là một sức mạnh vô địch.
Tối đại đa số trong nhân dân là nông dân. Nông dân hăng hái tham gia là điều kiện chính cho kháng chiến thắng lợi. Vì vậy, Đảng và Chính phủ phát động quần chúng, thực hành chính sách ruộng đất, để đưa lại quyền lợi kinh tế và chính trị cho nông dân.
Thực hiện đúng chính sách ruộng đất, tức là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
30- TINH THẦN YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC TẾ
Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn quyền độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình.
Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hoà bình thế giới, chống chính sách xâm lược và chính sách chiến tranh của đế quốc. Trước đây nước ta bị đế quốc Pháp xâm chiếm. Nhờ nhân dân ta đoàn kết, nhờ Liên Xô đánh thắng đế quốc Nhật mà Cách mạng Tháng Tám thành công, từ đó dân ta làm chủ nước ta.
Song kẻ thù là đế quốc Pháp - Mỹ thông đồng với bọn phong kiến địa chủ do bù nhìn Bảo Đại đứng đầu, mong cướp nước ta một lần nữa.
Để giữ quyền tự do độc lập của Tổ quốc, chúng ta phải kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Đánh đuổi đế quốc Pháp - Mỹ không những là lợi ích riêng cho nước ta, mà cũng làm yếu thế lực đế quốc góp phần vào giữ gìn hoà bình thế giới.
Mà giữ gìn hoà bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí. Họ phải đoàn kết để giải phóng mình khỏi ách đế quốc. Vì vậy cách mạng nước nào cũng phải có nhân dân lao động thế giới ủng hộ mới thắng lợi. Và khi đã thắng lợi, ắt phải giúp đỡ cách mạng của nhân dân nước khác.
Đó là lập trường quốc tế cách mạng. Ngày nay, thế giới có hai phe: phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo và Trung Quốc giúp sức. Đứng về phe này thì tranh được độc lập và tự do. Phe đế quốc do Mỹ cầm đầu. Đi theo phe này hại dân mất nước. Ta phải cương quyết đứng về một phe, không thể đứng chông chênh giữa hai phe. Quyết không có con đường thứ ba.
Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới.
31- ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN VÀ KIẾN QUỐC
Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vì sao ?
Kinh nghiệm thế giới và trong nước chứng tỏ rằng: những cuộc đấu tranh "tự phát" của nhân dân, thường không có mục đích rõ ràng, kế hoạch đầy đủ, tổ chức chắc chắn. Vì vậy mà lực lượng rời rạc nơi này lên thì nơi khác xẹp. Kết quả là thất bại.
Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi.
Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối , và định phương châm cho đúng.
Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền.
Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì:
- dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn.
- vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hoá, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn.
32 - ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải thật mạnh mẽ, trong sạch, sáng suốt, thống nhất.
Nền tảng tổ chức của Đảng tóm tắt gồm 6 điều:
1) Đảng là bộ đội tiền tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc).
2) Mỗi đảng viên nhất định phải phụ trách một công tác của Đảng. Toàn thể đảng viên phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phải phục tùng sự lãnh đạo và chấp hành những nghị quyết của Đảng.
3) Đảng phải lãnh đạo tất cả những tổ chức khác của nhân dân lao động.
4) Đảng phải liên lạc thật chặt chẽ với quần chúng.
5) Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương.
6) Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản.
Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu. Mỗi đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi.
Đảng viên phải toàn tâm toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác kháng chiến và kiến quốc.
33 - TÍNH CHẤT CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Đảng Lao động là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao, và đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc. Vì những điều sau này mà quyết định tính chất ấy.
1- Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng giác ngộ giai cấp công nhân rành mạch, lập trường giai cấp dứt khoát, tác phong giai cấp đúng đắn.
Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân.
2- Đảng có chính cương rõ rệt: hiện nay thì giai cấp công nhân lãnh đạo toàn dân chống đế quốc và phong kiến, để giải phóng dân tộc và thực hiện dân chủ mới. Ngày sau thì tiến đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
3- Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều phải tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ.
4- Tất cả đảng viên phải kiên quyết phục tùng sự lãnh đạo tập trung của Đảng. Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát lung lay.
5- Đảng phải luôn luôn giáo dục đảng viên về lý luận cách mạng. Đối với những đảng viên xuất thân là trí thức, tiểu tư sản, nông dân thì Đảng phải ra sức cải tạo tư tưởng khiến cho những đồng chí ấy thành những chiến sĩ của giai cấp công nhân.
Đảng có hàng chục vạn đảng viên. Ở các cấp chính quyền, ở trong bộ đội, ở các xí nghiệp, các trường học, các nông thôn, Đảng đều liên hệ chặt chẽ với quần chúng như chân tay ruột thịt. Ở Trung ương Đảng thì có những đồng chí nhiều kinh nghiệm, giàu quyết tâm, một lòng một chí phụng sự giai cấp và nhân dân. Vì vậy, Đảng là đảng của giai cấp lao động, mà cũng là đảng của toàn dân.
34- ĐẢNG LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC (A)
Đảng dùng cách gì và làm thế nào để lãnh đạo?
1- Đảng đã truyền bá lý luận Mác - Lênin vào trong nhân dân ta.
Đối với công việc kháng chiến và kiến quốc, lý luận là rất quan trọng. Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm.
Lý luận làm cho quần chúng giác ngộ, bày cho quần chúng tổ chức, động viên quần chúng để đấu tranh cho đúng. Nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch.
Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình.
Đảng kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam. Đảng áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lênin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách mạng Việt Nam.
Không phải chỉ học thuộc lòng vài bộ sách của Mác - Lênin mà làm được như vậy. Đảng phải có tinh thần khoa học và tinh thần cách mạng rất cao, phải hiểu rõ lịch sử xã hội, phải quyết tâm phấn đấu cho giai cấp và nhân dân, phải tin tưởng vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng, phải gom góp tư tưởng, kinh nghiệm, sáng kiến và ý chí của quần chúng, sắp xếp nó thành hệ thống, rồi lại áp dụng vào trong quần chúng.
Đảng phân tích rõ ràng tình hình trong nước và trên thế giới, rồi áp dụng lý luận vào các chính sách : chính sách ruộng đất, chính sách Mặt trận dân tộc, chính sách kháng chiến kiến quốc, chính sách xây dựng Đảng...
Vì Đảng lãnh đạo đúng, cho nên lòng tự tin và sức chiến đấu của nhân dân ta ngày càng cao, và lực lượng cách mạng ngày càng to lớn.
35- ĐẢNG LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC (B)
2.- Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng căn cứ vào tình hình trong nước và trên thế giới, đề ra những khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh. Đảng quy định ở giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, đoàn kết lực lượng nào, cô lập và phân hoá lực lượng nào, để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân.
Khẩu hiệu chính trị đúng, thì toàn dân thấy rõ phương hướng, nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng, để đánh thắng kẻ thù của cách mạng.
Có khẩu hiệu chung, cũng chưa đủ, Đảng còn phải căn cứ theo lợi ích của nhân dân trong giai đoạn đó, đề ra những khẩu hiệu mới, để động viên quần chúng, để làm mục đích và vạch đường lối cho quần chúng đấu tranh; đồng thời để huấn luyện, giáo dục quần chúng. Thực hiện những khẩu hiệu này, tức là đẩy cách mạng tiến tới và giúp cho khẩu hiệu chung thực hiện. Thí dụ: để đẩy mạnh kháng chiến kiến quốc, Đảng đề ra khẩu hiệu "Phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất", "Thi đua sản xuất", v.v.. Những khẩu hiệu ấy làm cho hàng triệu nhân dân lao động càng thêm hăng hái tham gia kháng chiến kiến quốc.
Trong mỗi giai đoạn quan trọng, Đảng đề ra những khẩu hiệu đúng để động viên và lãnh đạo nhân dân đấu tranh, cho nên nhân dân tranh được nhiều thắng lợi.
3- Kinh qua đảng viên và các tổ chức của Đảng, Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng, lãnh đạo các đoàn thể cách mạng của quần chúng.
Đảng viên và cán bộ không thể chỉ hô khẩu hiệu và nói lý luận suông.
Đảng viên và cán bộ nhất định phải làm cho quần chúng thấm nhuần tư tưởng cách mạng. Nhất định phải theo nhu cầu của quần chúng mà xây dựng những tổ chức cách mạng hợp với trình độ của quần chúng. Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc. Nhất định phải vào sâu trong quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo.
Đảng đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải: học hiểu lý luận, chính sách, tình hình trong nước và trên thế giới để giáo dục cho quần chúng. Phải học hiểu nghề nghiệp chuyên môn mà Đảng và Chính phủ giao cho mình phụ trách. Phải có tinh thần hy sinh cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm để vượt mọi khó khăn.
Đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.
Phải nắm vững chính sách của Đảng và của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng như thế mới xứng đáng là đảng viên và cán bộ của Đảng, như thế mới lãnh đạo được quần chúng.
36- XÂY DỰNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc. Đối với vận mệnh của nước nhà và dân tộc, Đảng có trách nhiệm vô cùng to lớn. Cho nên xây dựng Đảng là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của nhân dân ta.
Về mặt lãnh đạo, đường lối, công tác, tư tưởng, chính trị, tổ chức, có thể nói Đảng đã có tính toàn quốc, tính quần chúng. Trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng đang lãnh đạo nhân dân đấu tranh thắng lợi. Có thể nói: Đảng là to lớn, vẻ vang, đứng đắn; nước ta xưa nay chưa có một đảng nào như thế.
Đảng cần phải phát triển và củng cố. Cần phải phát triển thêm thành phần công nhân. Cần phải giáo dục những đảng viên mới. Cần phải cải tạo tư tưởng cho đảng viên nông dân và tiểu tư sản trí thức.
Xây dựng Đảng, có ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức.
Về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin.
Đồng chí Lênin nói: "Chỉ có lý luận tiên tiến, Đảng mới có thể thực hiện vai trò chiến sĩ tiên tiến".
Đồng chí Xtalin nói: "Chỉ có thông suốt lý luận Mác - Lênin, Đảng mới chắc tiến lên, mới lãnh đạo được giai cấp công nhân tiến lên".
Vì vậy, giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng.
Đảng phải tăng cường tư tưởng giai cấp công nhân, và rửa gột những tư tưởng trái với nó. Nước ta đã lâu ở dưới chế độ thực dân và phong kiến, cho nên những tư tưởng bất chính có thể ảnh hưởng vào trong Đảng. Số đông đảng viên là nông dân và tiểu tư sản trí thức (điều đó tuy là tốt và hợp lý), cho nên cũng mang vào Đảng những tư tưởng "phi vô sản". Vì vậy Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh với những tư tưởng "phi vô sản".
Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là "mù chính trị", thậm chí hủ hoá, xa rời cách mạng.
Về đường lối chính trị, Đảng chống khuynh hướng "tả" và khuynh hướng "hữu".
37- TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH
Để nâng cao trình độ lý luận và chính trị thì mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình. Đảng thì dùng cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên.
Nâng cao trình độ lý luận và chính trị, cải tạo mình là một việc trường kỳ và gian khổ. Nhưng đó là một công tác chủ chốt trong việc xây dựng Đảng mà mỗi đảng viên phải cố gắng.
Về mặt tổ chức: Đảng phải có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức.
Đảng phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn.
Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng.
Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân ta. Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình.
Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh. Như vậy thì nhất định được nhân dân ủng hộ, và việc gì to mấy, khó mấy làm cũng nên.
Một đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin, có kỷ luật nghiêm khắc, thật thà tự phê bình và phê bình, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; một đảng đúng đắn về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức như Đảng Lao động Việt Nam, đó là đảm bảo chắc chắn cho kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.
38.- TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện. Vì vậy, Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động. Phải nâng cao trình độ lý luận và chính trị của đảng viên. Phải tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của đảng viên. Phải phát triển tính hăng hái và hoạt động chính trị của đảng viên.
Vì những lẽ ấy, mà lựa chọn đảng viên là nền tảng của tổ chức Đảng. Chúng ta lần lượt nghiên cứu 4 vấn đề: Người vào Đảng phải thế nào? Nghĩa vụ và quyền lợi của đảng viên. Chế độ dân chủ tập trung của Đảng. Hệ thống tổ chức của Đảng.
Người vào Đảng phải thừa nhận Đảng cương và Đảng chương. Phải tham gia công tác trong một tổ chức của Đảng. Phải tuyệt đối phục tùng nghị quyết của Đảng. Phải nộp đảng phí.
Đảng cương là một văn kiện nó quy định: Tính chất của Đảng, mục đích đấu tranh và đường lối cách mạng của Đảng, phương pháp lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đảng cương là lý luận nền tảng, Đảng dùng để lãnh đạo cách mạng. Nó đảm bảo cho chính trị thống nhất, tư tưởng thống nhất của Đảng. Vì vậy, mỗi đảng viên nhất định phải thừa nhận và theo đúng Đảng cương. Nếu không vậy, thì tư tưởng sẽ rối loạn, ý kiến sẽ lung tung, Đảng sẽ yếu đuối, rời rạc, không làm được gì.
Đảng chương là một văn kiện quy định: Phương pháp hành động, hình thức tổ chức, khuôn phép sinh hoạt nội bộ của Đảng. Nó đảm bảo tổ chức thống nhất, hành động thống nhất của Đảng. Vì vậy, mỗi đảng viên phải tuyệt đối thừa nhận và làm đúng Đảng chương. Nếu không vậy, nếu ai muốn làm sao thì làm, thì kết quả sẽ đưa Đảng đến chỗ tan rã.
Trong Đảng chương có quy định: mỗi đảng viên phải tuyệt đối tuân theo kỷ luật của Đảng. Có như vậy mới thành một Đảng đoàn kết chặt chẽ, ý chí thống nhất, hành động nhất trí.
Đảng cương và Đảng chương là để đảm bảo sự thống nhất của Đảng về chính trị, về tư tưởng, về tổ chức, về hành động. Đó là cái nguồn gốc của lực lượng Đảng.
Thừa nhận Đảng cương, Đảng chương không phải chỉ thừa nhận bằng lời nói, mà phải đấu tranh thực sự. Vì vậy, mỗi đảng viên nhất định phải tham gia một tổ chức của Đảng, phải sinh hoạt chính trị trong một tổ chức của Đảng và phải ra sức công tác dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng.
Nộp đảng phí là để giúp Đảng về kinh tế. Đó là trách nhiệm của mỗi đảng viên. Đồng thời cũng để làm cho mỗi đảng viên luôn luôn nhớ đến Đảng.
39- TIÊU CHUẨN ĐẢNG VIÊN ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc, giải phóng giai cấp và nhân dân, là sự nghiệp rất vẻ vang nhưng rất nặng nề. Để hoàn thành sự nghiệp ấy, Đảng phải thật trong sạch, thật mạnh mẽ. Vì vậy, đảng viên cũng phải thật trong sạch, thật mạnh mẽ, tức là phải đúng những tiêu chuẩn sau đây:
- Không bóc lột người. - Đảng chống chế độ "người bóc lột người". Lẽ tự nhiên, ai bóc lột người thì không thể làm đảng viên.
- Suốt đời kiên quyết đấu tranh cho nhân dân, cho chủ nghĩa.
- Luôn luôn rèn luyện tư tưởng của giai cấp công nhân. Vì chỉ có tư tưởng ấy là tư tưởng cách mạng triệt để.
- Đặt lợi ích của Đảng, tức là lợi ích của nhân dân, lên trên hết, lên trước hết.
- Phải tuyệt đối chấp hành những nghị quyết của Đảng, giữ gìn kỷ luật của Đảng và của Chính phủ.
- Phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Nghĩa là: phải toàn tâm toàn lực phụng sự quần chúng; luôn luôn nghe ngóng những yêu cầu và ý kiến của quần chúng và báo cáo cho Đảng rõ; phải tuyên truyền giải thích cho quần chúng rõ chính sách và nghị quyết của Đảng, làm cho quần chúng nhận chính sách và nghị quyết ấy là của họ, để quần chúng vui vẻ và ra sức thi hành; phải phụ trách trước quần chúng; phải tin tưởng vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng; phải học hỏi quần chúng; phải đi đúng đường lối quần chúng để lãnh đạo quần chúng.
- Phải thường xuyên thật thà tự phê bình, hoan nghênh quần chúng phê bình mình và thành khẩn phê bình anh em - để sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Phải luôn luôn cố gắng học tập để tiến bộ mãi.
Đối với những đảng viên đúng tiêu chuẩn, thì Đảng phải bồi dưỡng thêm.
Đối với những đảng viên gần đúng (và những đảng viên xuất thân từ giai cấp bóc lột), thì Đảng ra sức giáo dục, giúp đỡ để họ tiến đúng tiêu chuẩn.
Đối với những đảng viên đã được giáo dục nhiều mà vẫn không tiến đúng tiêu chuẩn, thì Đảng sẽ khuyên họ rút lui, nhưng vẫn giữ cảm tình với họ.
40- NGHĨA VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN
Nghĩa vụ của đảng viên đã nói trong tiêu chuẩn tức là:
1- Cố gắng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao trình độ giác ngộ.
Vì nếu không hiểu chủ nghĩa, trình độ giác ngộ thấp, thì nhất định không thể hăng hái đấu tranh cho nhân dân, cho cách mạng.
Muốn hiểu, muốn tiến thì phải cố gắng học hỏi. Vì vậy, học hỏi là một nghĩa vụ của đảng viên đối với Đảng, đối với nhân dân. Cho nên không gắng học hỏi, tự kiêu, tự mãn, không cầu tiến bộ - tức là không phụ trách với Đảng.
2- Giữ gìn kỷ luật của Đảng, hăng hái tham gia sinh hoạt nội bộ và công tác cách mạng, kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, đấu tranh chống những hiện tượng trái với lợi ích của Đảng.
Nhờ kỷ luật mà Đảng đoàn kết, nhất trí, mạnh mẽ, để lãnh đạo nhân dân đến thắng lợi. Sự nghiệp cách mạng của Đảng do đảng viên mà hoàn thành, cho nên mọi đảng viên phải thật thà chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng. Lợi ích của Đảng là lợi ích chung, đảng viên phải ra sức giữ gìn nó, cái gì trái với nó, thì đảng viên phải kiên quyết đấu tranh chống lại.
Không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ của đảng viên.
3- Ra sức phụng sự nhân dân, củng cố mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, kịp thời cho Đảng biết những nhu cầu của nhân dân, giải thích cho nhân dân thấm nhuần và thực hiện chính sách của Đảng.
4- Giữ vững kỷ luật của Chính phủ và của các đoàn thể cách mạng, thông thạo công việc mình phụ trách; làm gương mẫu trong mọi công việc cách mạng.
Phải làm tròn những nghĩa vụ đó mới xứng đáng là người đảng viên.
41- QUYỀN LỢI CỦA ĐẢNG VIÊN
Mọi đảng viên có những quyền lợi như sau:
1) Có quyền tự do và thiết thực thảo luận cách thi hành chính sách của Đảng, trên các báo chí và trong các cuộc hội nghị của Đảng.
Để thi hành triệt để chính sách và công tác của Đảng, mọi đảng viên có quyền tự do phát biểu ý kiến của mình (trên báo chí và trong hội nghị của Đảng), dù ý kiến ấy không đồng ý với ý kiến của đại đa số, không ai được ngăn cấm.
2) Có quyền tuyển cử và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng.
3) Có quyền đưa ra những đề nghị, những thanh minh, những lời kêu nài trước các cơ quan của Đảng, từ chi bộ đến Trung ương, không ai được ngăn trở.
4) Trong các cuộc hội nghị của Đảng có quyền phê bình đảng viên và cán bộ, phê bình công tác của các cơ quan Đảng.
Vì quyền phê bình ấy có thể nâng cao tính hăng hái và tinh thần phụ trách của các đảng viên; có thể đảm bảo sự đấu tranh của đảng viên chống những cái gì có hại đến Đảng; quyền phê bình là một vũ khí chống quan liêu, mệnh lệnh; nó cải thiện sự quan hệ giữa cán bộ và đảng viên; nó giúp cải thiện các công việc của Đảng.
Vì vậy, mọi người phải tôn trọng quyền phê bình của đảng viên.
42- CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ TẬP TRUNG CỦA ĐẢNG
Tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ. Chi bộ do chi uỷ lãnh đạo; các đảng viên chịu sự lãnh đạo của chi uỷ. Trên chi uỷ thì có huyện uỷ, tỉnh uỷ, khu uỷ lên đến Trung ương. Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung. Nghĩa là:
A- Tập trung trên nền tảng dân chủ.
Cơ quan lãnh đạo của Đảng có uy tín và quyền lực chân chính. Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung. Nhưng tập trung ấy không phải là cá nhân chuyên chính; nó là xây dựng trên nền tảng dân chủ. Nghĩa là:
1- Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử lên.
2- Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành. Rồi lại do các cuộc hội nghị của Đảng thảo luận giải quyết, chứ không ai được tự ý độc đoán.
3. Quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do quần chúng đảng viên giao phó cho, chứ không phải tự ai tranh giành được. Vì vậy, người lãnh đạo phải gần gũi và học hỏi quần chúng đảng viên, nghe ngóng ý kiến của họ. Nếu lên mặt với quần chúng, lạm dụng quyền lực - thế là sai lầm.
4. Trật tự của Đảng là: cá nhân phải phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng số nhiều; cấp dưới phải phục tùng cấp trên; các địa phương phải phục tùng Trung ương.
B. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung.
Ở trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng. Quyết chống: không xét thời gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn.
1- Chỉ có cơ quan lãnh đạo có quyền khai các cuộc hội nghị.
2- Tất cả các nghị quyết của Đảng phải do cơ quan lãnh đạo chuẩn bị kỹ càng, rồi giao cho các cấp thảo luận. Không được làm qua loa, sơ sài,
3- Khi bầu cử các cơ quan lãnh đạo trong Đảng, phải xem xét rất kỹ lưỡng để lập danh sách những đảng viên ứng cử.
4- Toàn thể đảng viên phải theo đúng Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất của Đảng. Toàn thể đảng viên phải theo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.
Nói tóm lại: Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật.
43- HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Toàn quốc đại biểu đại hội.
Đại hội có quyền:
1- Nghe, thảo luận và phê chuẩn các báo cáo của Trung ương.
2- Quyết định và sửa đổi Đảng cương, Đảng chương.
3- Quyết định chính sách và phương châm chính của Đảng.
4- Bầu cử Trung ương.
Trong khoảng từ Đại hội này đến Đại hội khác, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Trung ương.
Trung ương không thể ngày ngày khai hội. Để lãnh đạo mọi công tác, Trung ương cử ra Bộ Chính trị và Ban Bí thư.
Để chỉ đạo những địa phương xa, Trung ương có thể đặt những Cục Trung ương.
Khi cần, Trung ương có thể họp Toàn quốc đại biểu hội nghị. Hội nghị có quyền:
1- Quyết định chính sách trước mắt của Đảng.
2- Cử thêm một số Uỷ viên Trung ương mới, hoặc cất chức Uỷ viên nào không làm tròn nhiệm vụ.
Những nghị quyết của Hội nghị phải có Trung ương phê chuẩn mới được thi hành.
Các cấp xã, huyện, tỉnh, khu cũng có đại hội của cấp mình; do đại hội cử ra chi uỷ, huyện uỷ, tỉnh uỷ, khu uỷ.
Trung ương và các cấp có thể họp những cuộc hội nghị cán bộ và hội nghị những phần tử hoạt động, để giải thích và thảo luận những nghị quyết quan trọng, sắp xếp công tác và kiểm tra công tác.
Trung ương và các cấp có thể lập ra những ban: Quản lý việc Đảng, Tuyên truyền giáo dục, Dân vận, Kinh tế, Quân sự ... Ban của cấp nào, do uỷ viên hội cấp ấy lãnh đạo.
Chi bộ là gốc rễ của Đảng. Bài sau chúng ta sẽ nói kỹ về chi bộ.
44- CHI BỘ
Ở mỗi xưởng máy, hầm mỏ, xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, đại đội - có 3 đảng viên trở lên thì lập một chi bộ. Chi bộ là đồn luỹ của Đảng chiến đấu ở trong quần chúng.
Mỗi chi bộ có thể chia làm mấy tiểu tổ, để công tác cho dễ. Nhưng không nên chia nhiều tiểu tổ quá.
Nơi nào đảng viên quá đông (ở nông thôn quá 50, ở nhà máy, cơ quan, v.v., quá 100 đảng viên) thì có thể lập Tổng chi bộ, dưới Tổng chi bộ, lập mấy Phân chi bộ.
Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Nhiệm vụ của chi bộ là:
- Luôn luôn tuyên truyền cho nhân dân và tổ chức nhân dân, để thực hiện khẩu hiệu và chính sách của Đảng.
- Luôn luôn chú ý đến tư tưởng và nhu cầu của nhân dân và kịp thời báo cáo cho cấp trên biết rõ.
- Luôn luôn quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của nhân dân, đồng thời giáo dục nhân dân, tổ chức nhân dân để giải quyết các vấn đề cho nhân dân.
Chỉ có làm đầy đủ những công việc ấy, thì Đảng mới liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
- Chọn lọc đảng viên mới cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Chi bộ cần thường xuyên giáo dục quần chúng, bồi dưỡng những phần tử hăng hái, nâng cao trình độ giác ngộ của họ đến tiêu chuẩn đảng viên. Khi giới thiệu họ vào Đảng, thì phải hết sức cẩn thận.
- Chi bộ phải hiểu rõ lý lịch, mặt mũi chính trị, trình độ giác ngộ, ưu điểm và khuyết điểm của mỗi đảng viên cũ. Phải đôn đốc họ học tập và tham gia mọi công tác của Đảng.
Đối với những phần tử xấu chui vào trong Đảng, chi bộ phải điều tra nghiên cứu cẩn thận, cùng với chính quyền và quần chúng tẩy trừ họ ra. Trách nhiệm của chi bộ là chấp hành kỷ luật của Đảng.
Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh. Các chi uỷ vững tức là chi bộ mạnh.
45- CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Mục đích của Đảng là lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thực hiện dân chủ mới, tiến đến chủ nghĩa xã hội, rồi đến chủ nghĩa cộng sản.
Cộng sản là gì? Lênin đã trả lời rất giản đơn vắn tắt: Cộng sản là nhà máy, ruộng đất đều là của chung; lao động cũng chung của toàn dân.
Cộng sản là không có chế độ tư hữu, không có giai cấp áp bức bóc lột. Là của cải đều là của chung, sức sản xuất rất cao, nhân dân lao động hoàn toàn giải phóng và sống rất tự do, sung sướng.
Cộng sản có hai giai đoạn.
Giai đoạn thấp, tức là chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn cao, tức là chủ nghĩa cộng sản.
Hai giai đoạn ấy giống nhau ở nơi: Sức sản xuất đã phát triển cao; nền tảng kinh tế thì tư liệu sản xuất đều là của chung; không có giai cấp áp bức bóc lột.
Hai giai đoạn ấy khác nhau ở nơi: Chủ nghĩa xã hội vẫn còn chút ít vết tích xã hội cũ. Xã hội cộng sản thì hoàn toàn không còn vết tích xã hội cũ.
Ở Liên Xô, năm 1936 đã tuyên bố chủ nghĩa xã hội thành công; ngày nay đang tiến mạnh sang giai đoạn chủ nghĩa cộng sản.
Căn cứ theo tình hình thực tế ở Liên Xô, thì thấy đặc điểm của chủ nghĩa xã hội là:
1- Công cụ sản xuất và tư liệu sản xuất đều là của chung. Ở nông thôn thì có nông trường chung. Ngoài nông trường, nông dân vẫn có ít của riêng như: nhà ở, lợn gà, vườn trồng rau, một con bò sữa, nghề phụ, v.v..
2- Tư bản, địa chủ, phú nông không có nữa.
Chỉ có công nhân và nông dân. Không ai bóc lột họ; cố nhiên họ cũng không bóc lột ai.
Khoa học ngày càng phát triển, máy móc ngày càng nhiều, cho nên công nhân và nông dân ngày càng đỡ khó nhọc.
3- Nguyên tắc sinh hoạt là: "Ai không làm thì không được ăn" và "làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít".
4- Kinh tế có kế hoạch. Cả nước có một kế hoạch chung. Mỗi ngành theo kế hoạch chung đó mà đặt kế hoạch riêng: Sản xuất thứ gì và bao nhiêu. Mục đích là nâng cao đời sống của nhân dân và củng cố quốc phòng của Tổ quốc. Do kinh tế có kế hoạch, mà không có nạn khủng hoảng, không có nạn thất nghiệp; mà sức sản xuất thì phát triển mau chóng.
5- Không có sự đối lập giữa thành thị và thôn quê, giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Vì thôn quê ngày càng văn minh, công nông ngày càng thông thái.
Đặc điểm của chủ nghĩa xã hội tóm tắt là như vậy.
46- CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Chủ nghĩa xã hội tiến lên cao nữa là chủ nghĩa cộng sản.
Đồng chí Xtalin nói: chủ nghĩa xã hội tiến sang chủ nghĩa cộng sản, cần có ba điều:
1- Mọi ngành sản xuất phát triển rất cao và không ngừng.
2- Nông trường công cộng biến dần thành của chung cả nhân dân.
3- Nâng văn hoá lên thật cao (bớt giờ làm việc, mỗi ngày chỉ làm độ 5, 6 giờ, để cho mọi người đủ thì giờ học văn hoá và kỹ thuật).
Đồng thời phải tăng lương bổng cho công nhân và công chức, tiếp tục giảm giá hàng, luôn luôn nâng cao mực sinh hoạt của mọi người.
Dưới chế độ cộng sản, nguyên tắc là "Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy".
Nghĩa là: lúc đó mọi người đều có đạo đức; đối với mọi việc, ai cũng xung phong. Sản xuất thứ gì cũng phong phú. Cho nên ai cần gì có nấy. Cố nhiên tiêu dùng hợp lý và đúng mực, chứ không phải vì giàu mà lãng phí.
Liên Xô đã chứng tỏ chủ nghĩa cộng sản đã thực hiện dần dần, chứ không phải là mộng tưởng. Vài thí dụ: Hiện nay, giáo dục phổ thông ở Liên Xô là 10 năm, thành thử văn hoá của nhân dân rất cao.
Ở Mạc Tư Khoa có những nhà máy tự động, một công tác trước kia cần 58 người, nay chỉ cần 2 người. Có công tác trước kia cần 90 phút đồng hồ, nay chỉ trong 3 phút thì làm xong. Có những công tác trước kia phải một tháng, nay chỉ một đêm đã làm rồi. Nghĩa là kỹ thuật rất cao. Từ sau Thế giới đại chiến thứ hai đến nay, Liên Xô đã 6 lần giảm giá hàng hoá, cái gì cũng rẻ, cho nên dân rất sung sướng.
Đến ngày cộng sản thực hiện khắp thế giới, thì sẽ không còn giai cấp chống nhau, dân tộc chống nhau; sẽ hết áp bức, hết chiến tranh. Toàn thế giới sẽ sống như anh em. Mọi người đều tự do, bình đẳng, sung sướng.
Lúc đó, thì bộ máy nhà nước cũng không cần nữa. Song xã hội vẫn cần có những cơ quan để lãnh đạo công việc kinh tế và văn hoá; chứ không phải cộng sản là hoàn toàn không tổ chức, không kỷ luật.
47- CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN NHẤT ĐỊNH THÀNH CÔNG
Từ đời xưa đến nay, chế độ công cộng nguyên thuỷ sụp đổ do chế độ nô lệ thay thế.
Chế độ nô lệ sụp đổ, do chế độ phong kiến thay thế. Chế độ phong kiến sụp đổ, do chế độ tư bản thay thế. Đó là quy luật nhất định trong sự phát triển của xã hội.
Lịch sử loài người là do người lao động sáng tạo ra. Người lao động sáng tạo ra của cải, luôn luôn nâng cao sức sản xuất. Sản xuất phát triển tức là xã hội phát triển. Chế độ nào hợp với sức sản xuất thì đứng vững. Nếu không hợp thì giai cấp đại biểu của sức sản xuất mới sẽ nổi lên cách mạng lật đổ chế độ cũ.
Hiện nay, chế độ tư bản có những mâu thuẫn to, nó không giải quyết được. Một là nhà tư bản sản xuất hàng hoá quá nhiều, quá mau, nhưng không bán hết được; vì công nhân thì nghèo khổ, lớp trung và tiểu tư sản thì nhiều người đã phá sản. Hai là tính chất sản xuất là công cộng - hàng nghìn hàng vạn công nhân cùng làm ở một nhà máy. Mà tư liệu sản xuất thì lại nằm trong tay một số rất ít người. Mâu thuẫn ấy gây ra nạn thất nghiệp và nạn kinh tế khủng hoảng.
Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa (cộng sản chủ nghĩa) mới giải quyết được mâu thuẫn ấy.
Mác và Lênin đã vạch rõ con đường để giải quyết: phải kinh qua giai cấp công nhân tổ chức, đấu tranh cách mạng. Kinh qua trường kỳ xây dựng, để thực hiện chế độ cộng sản.
Ngày nay, Liên Xô đang tiến mạnh đến chủ nghĩa cộng sản. Các nước dân chủ mới Đông Âu và Trung Quốc đang tiến mạnh đến chủ nghĩa xã hội. Ngay ở các nước tư bản cũng có những đảng cộng sản và đang đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản. Thế là chủ nghĩa cộng sản không chỉ ở trong lý luận mà đã thực hiện dần dần ở phần khá lớn trong thế giới. Phong trào cách mạng ngày càng cao, giai cấp lao động đấu tranh ngày càng hăng cho nên chúng ta có thể đoán chắc rằng: chủ nghĩa cộng sản nhất định thành công khắp thế giới.
48- DÂN CHỦ MỚI
Từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tuỳ hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau.
Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta, v.v..
Những đặc điểm của dân chủ mới là gì?
1) Dưới sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân đánh đổ đế quốc và phong kiến. Trên nền tảng công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính (trừng trị) bọn phản động.
2) Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).
B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).
D- Tư bản của tư nhân.
E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh).
Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản.
3) Tư tưởng của giai cấp công nhân (tư tưởng Mác - Lênin) là tư tưởng lãnh đạo, ngày càng phát triển và củng cố.
4) Đảng Lao động kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động. (Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân có đoàn thể cách mạng chắc chắn của nó như: công đoàn, nông hội, hội thanh niên, hội phụ nữ...) thực hiện dân chủ mới và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản).
5) Trong nước thì nhân dân ta hăng hái kháng chiến, thi đua sản xuất; quyết tâm phấn đấu, quyết tâm tiến lên. Trên thế giới thì có phe dân chủ hoà bình ủng hộ ta. Vì những lẽ đó ta nhất định thành công.
49- ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang. Trừ những bọn phản động quá sá, thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản.
Hiểu rõ quy luật phát triển của xã hội, ra sức đấu tranh để thực hiện chế độ cộng sản tức là nhân sinh quan của người cách mạng.
Để thực hiện hoàn toàn dân chủ mới (là bước đầu để tiến dần đến chế độ cộng sản) thì mọi người, trước hết là những người đảng viên phải làm kiểu mẫu:
1- Ra sức đoàn kết đánh đổ thực dân và phong kiến, kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, ra sức củng cố chính quyền nhân dân.
2- Ra sức thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, chống quan liêu, tham ô, lãng phí.
3- Ra sức nâng cao trình độ văn hoá và giác ngộ chính trị của nhân dân lao động. Giúp đỡ anh em trí thức cải tạo tư tưởng, cải tạo con người, thành người trí thức của cách mạng.
4- Ra sức củng cố Đảng, làm cho Đảng ngày càng lớn, càng mạnh, để lãnh đạo nhân dân đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn.
Chúng ta cần phải đấu tranh lâu dài và gian khổ để đạt mục đích ấy. Nhưng chúng ta nhất định đạt được, vì Đảng ta kiên quyết, dân ta hăng hái.
Liên Xô đang tiến mạnh đến chủ nghĩa cộng sản. Trung Quốc và các nước Đông Âu đang nhanh chóng thực hiện chủ nghĩa xã hội. Các nước bạn dẫn đường đi trước cho chúng ta kinh nghiệm và ủng hộ chúng ta. Chúng ta có quyết tâm: quyết tâm học tập, quyết tâm kháng chiến, quyết tâm công tác, quyết tâm vượt mọi khó khăn, thì chúng ta nhất định thắng lợi.
50- KẾT LUẬN
Chúng ta đã cùng nhau nghiên cứu Thường thức chính trị 49 lần, hôm nay chúng ta kết thúc.
Chúng ta đã nghiên cứu những vấn đề chính mà mọi người phải biết như:
- Giai cấp là gì?
- Phong kiến là gì?
- Tư bản là gì?
- Đế quốc chủ nghĩa là gì? vân vân... Và đường lối cách mạng và các tổ chức cách mạng như:
- Chính quyền nhân dân.
- Mặt trận dân tộc thống nhất.
- Đảng Lao động.
Chúng ta cũng đã nghiên cứu: chế độ và cách thực hiện dân chủ mới, chủ nghĩa xã hội và cộng sản. Vì muốn cho những bài ấy giản đơn và tóm tắt, dễ hiểu, dễ nhớ mà không đào sâu vào các vấn đề. Nhưng nếu các bạn đọc kỹ nhớ suốt, và khéo liên hệ với công việc hàng ngày của mình, thì chắc rằng, những bài ấy giúp ích cho các bạn khá nhiều. Mong rằng các bạn xem lại, ôn lại cho kỹ.
Cái tinh thần nó xuyên khắp các bài ấy là: quyết tâm và tin tưởng.
Quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Quyết tâm vượt khó khăn gian khổ, làm tròn nhiệm vụ, bất kỳ ở địa vị nào, hoàn cảnh nào, phụ trách việc to việc nhỏ. Quyết tâm đứng hẳn về phe lao động, phe cách mạng. Quyết tâm đưa hết tinh thần, lực lượng mà phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Tin tưởng vào lực lượng vô cùng to lớn của giai cấp, của nhân dân. Tin tưởng vào tương lai vẻ vang của dân tộc, của thế giới lao động. Tin tưởng vào kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh. Tin tưởng vào chính sách đúng đắn và lãnh đạo sáng suốt của Đảng và của Chính phủ ta. Tin tưởng vào mình cố gắng thì nhất định thành công.
Nắm vững tinh thần ấy, thấm nhuần tinh thần ấy, là cái chìa khoá để hiểu và để giải quyết các vấn đề.
Chúng ta có hơn 25 triệu đồng chí trong các Đảng Cộng sản và Đảng Lao động.
Chúng ta có hơn 800 triệu anh em là nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới khác.
Chúng ta có hàng trăm triệu bầu bạn là công, nông, lao động trí óc khắp các nước tư bản.
Sức ta rất to, thế ta rất mạnh, thời đại ta rất oanh liệt, tiền đồ ta rất vẻ vang. Chủ nghĩa cộng sản nhất định sẽ thành công khắp thế giới.
Vậy, mỗi một người chúng ta cần phải cố gắng cho xứng đáng là một chiến sĩ cách mạng, một người thợ xây dựng xã hội mới, đầy hạnh phúc và tự do.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 201-251.
Năm 1954 Năm 1954 (*)
THƠ CHÚC TẾT
Ngày Nguyên đán năm Giáp Ngọ
Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:
- Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,
- Cải cách ruộng đất là công việc rất to.
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,
Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.
Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông,
Năm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều .
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 225.
___________________
(*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
THƯ GỬI CÁN BỘ VÀ CHIẾN SĨ Ở MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Thân ái gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận,
Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang.
Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới.
Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất.
Chúc các chú thắng to.
Bác hôn các chú.
Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 năm 1954
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 265.
THƯ KHEN NGỢI BỘ ĐỘI, DÂN CÔNG,
THANH NIÊN XUNG PHONG VÀ ĐỒNG BÀO TÂY BẮC ĐÃ CHIẾN THẮNG VẺ VANG Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ
Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ. Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.
Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 8 tháng 5 năm 1954
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 272.
TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI CỦA HÃNG THÔNG TẤN NAM DƯƠNG 1) ANTARA
- Hỏi: Mục đích chiến đấu của nhân dân Việt Nam là gì ?
- Trả lời: Nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu mục đích là thực hiện một nước hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do.
- Hỏi: Nhân dân Việt Nam có thể theo con đường nào để đấu tranh thắng lợi ?
- Trả lời: Nhân dân Việt Nam luôn luôn muốn giành độc lập và giải phóng nước Việt Nam bằng con đường hoà bình.
Vì vậy cho nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký với Pháp hiệp ước Pháp - Việt trong năm 1946. Chỉ sau khi thực dân Pháp đã phản bội hiệp ước và gây chiến với nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam mới phải đứng lên cầm vũ khí để kháng chiến.
Ngày nay nhân dân Việt Nam vẫn chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hòa bình.
- Hỏi: Đối với việc Mỹ viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương, ý kiến của Cụ thế nào ?
- Trả lời: Giới thống trị Mỹ đang cố phá hoại việc giải quyết vấn đề Đông Dương một cách hoà bình, đang tích cực can thiệp vào chiến tranh Đông Dương và làm cho chiến tranh lan rộng để biến Đông Dương thành một thuộc địa của Mỹ, để bắt nhân dân Đông Dương làm nô lệ và để phá hoại hoà bình ở Viễn Đông và thế giới.
Nhân dân Việt Nam kiên quyết chống lại những hành động và những âm mưu xâm lược của giới thống trị Mỹ.
- Hỏi: Điều kiện gì là điều kiện căn bản để thương thuyết với Pháp ?
- Trả lời: Lập trường của chúng tôi để thương thuyết với Pháp đặng ngừng bắn, đình chiến và lập lại hoà bình ở Đông Dương là: thật sự độc lập, thống nhất và dân chủ tự do.
- Hỏi: Theo ý Cụ, để thực hiện thế giới hoà bình lâu dài thì phải có những điều kiện cần thiết gì ?
- Trả lời: Thế giới hoà bình có thể thực hiện nếu các nước trên thế giới, nhất là những nước lớn, đều sẵn sàng giải quyết những xích mích giữa các nước bằng cách thương lượng và nếu nhân dân thế giới không chịu để bọn gây chiến lừa phỉnh, mà tự nhận lấy trách nhiệm bảo vệ hoà bình thế giới.
- Hỏi: Cụ có nghĩ rằng Hội nghị Giơnevơ19 có thể thành công trong việc giải quyết những xung đột ở Đông Dương và Triều Tiên bằng một cách thương lượng hoà bình hay không ?
- Trả lời: Tôi thành thật mong cho Hội nghị Giơnevơ có thể đi đến giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương và Triều Tiên, hoặc giúp cho việc giải quyết ấy.
- Hỏi: Theo ý kiến Cụ, Nam Dương có thể làm gì để giúp cho chiến tranh Đông Dương chấm dứt sớm?
- Trả lời: Mọi cố gắng của nhân dân Nam Dương để đấu tranh cho hoà bình ở Viễn Đông và thế giới tức là giúp để giải quyết vấn đề Đông Dương. Theo ý kiến tôi, nhân dân Nam Dương kiên quyết chống âm mưu của Mỹ thành lập những liên minh quân sự ở châu Á và đẩy mạnh cuộc đoàn kết, hoà bình chung sống giữa các nước châu Á tức là có tác dụng lớn đến việc lập lại hoà bình ở Đông Dương.
- Hỏi: Đối với chính sách ngoại giao tích cực và độc lập của các Chính phủ Ấn Độ, Nam Dương và Diến Điện, ý kiến Cụ thế nào?
- Trả lời: Chúng tôi hoan nghênh chính sách của Chính phủ Ấn Độ, Nam Dương và Diến Điện đeo đuổi để chống lại việc mở rộng chiến tranh xâm lược và bênh vực cách giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương và Triều Tiên. Chính sách ấy sẽ giúp cho nền hoà bình Viễn Đông và thế giới. Tất cả các nước Á châu đã bị hoặc đang bị ngoại quốc nô dịch và biến thành thuộc địa phải cùng nhau đoàn kết để đấu tranh chống lại chính sách nô lệ và xâm lược ấy.
- Hỏi: Về đề nghị của Thủ tướng Nam Dương họp cuộc hội nghị giữa các nước Á châu và Phi châu, ý kiến của Cụ thế nào?
- Trả lời: Chúng tôi hoan nghênh một cuộc hội nghị quốc tế giúp cho việc xây dựng hoà bình ở Viễn Đông và thế giới.
- Hỏi: Về âm mưu của Mỹ thành lập những liên minh quân sự ở Á châu và Thái Bình Dương, ý kiến của Cụ thế nào?
- Trả lời: Việc bọn gây chiến Mỹ cố gắng tổ chức liên minh quân sự ở Đông - Nam Á và vùng Tây Thái Bình Dương là một hành động đầy tội ác để mở rộng chiến tranh xâm lược ở Á châu đặng phá hoại hoà bình Á châu và bắt nhân dân Á châu làm nô lệ. Chắc rằng toàn thể nhân dân Á châu sẽ kiên quyết chống lại hành động ấy.
- Hỏi: Về việc nhân dân Nam Dương đòi lại Tây Irian vì đấy là miếng đất của nước Cộng hoà Nam Dương, ý kiến của Cụ thế nào?
- Trả lời: Nhân dân Nam Dương đòi lại Tây Irian vì đấy là mảnh đất của nước Cộng hoà Nam Dương, là đúng. Chúng tôi ủng hộ việc đòi hỏi ấy của nhân dân Nam Dương.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 280-282.
______________
1. Inđônêxia.
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA VIỆT NAM THÔNG TẤN XÃ
- Hỏi: Thưa Chủ tịch, đối với sự tiến triển của Hội nghị Giơnevơ về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và tiền đồ của Hội nghị đó, Chủ tịch nhận xét như thế nào ?
- Trả lời: Hội nghị Giơnevơ thảo luận vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương tiến triển tuy chậm, nhưng với những vấn đề đã thoả thuận, Hội nghị cũng đã mở đường cho việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối phương cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta mà cũng cố gắng để lập lại hoà bình ở Đông Dương, thì hoà bình Đông Dương có thể thực hiện. Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông - Nam Á.
- Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý nghĩa của những lời tuyên bố chung gần đây của Thủ tướng hai nước Trung - Ấn và Thủ tướng hai nước Trung - Diến ?
- Trả lời: Bản tuyên bố chung mà Thủ tướng hai nước Trung- Ấn và Thủ tướng hai nước Trung - Diến vừa phát biểu rất quan trọng. Hai bản tuyên bố chung đó phù hợp với nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới, nhất là nhân dân châu Á. Năm nguyên tắc trọng yếu đề ra trong bản tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước Trung - Ấn và Thủ tướng hai nước Trung - Diến là: cùng tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội chính của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, cùng sống chung trong hoà bình. Những nguyên tắc ấy cũng thích hợp cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh hai bản tuyên bố chung đó. Tôi tin rằng hai bản tuyên bố chung đó nhất định có lợi cho hoà bình châu Á và thế giới.
- Hỏi: Ngày 17-6, trong bài diễn văn nhận chức của Thủ tướng Pháp Măngđét Phrăngxơ đọc trước Quốc hội Pháp, khi nói đến vấn đề Đông Dương, ông ta nói việc ngừng bắn ở Đông Dương phải thực hiện mau chóng. Ý kiến của Chủ tịch đối với những lời tuyên bố đó của ông Măngđét Phrăngxơ như thế nào ?
- Trả lời: Chúng ta hoan nghênh nguyện vọng của ông Măngđét Phrăngxơ, nhưng phải bài trừ chính sách của đế quốc Mỹ ngăn cản và phá hoại Hội nghị Giơnevơ, mới có thể thực hiện nhanh chóng ngừng bắn ở Đông Dương được.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr. 305-306.
BÁO CÁO TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
(Khoá II)
Hội nghị Trung ương lần thứ sáu mở rộng cho một số cán bộ cao cấp bàn về tình hình và nhiệm vụ mới.
Tôi thay mặt Trung ương thân ái hỏi thăm chiến sĩ và cán bộ ở các mặt trận, khuyến khích đồng bào vùng tự do và vùng mới giải phóng, an ủi đồng bào vùng chưa giải phóng.
Tôi thay mặt Trung ương cảm ơn các đảng anh em và nhân dân các nước bạn đã giúp đỡ ta kháng chiến và tranh thủ hoà bình, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đã ủng hộ ta.
Bây giờ tôi báo cáo trước Hội nghị về tình hình mới và nhiệm vụ mới.
I- TÌNH HÌNH MỚI
1. Tình hình thế giới
Vì Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân phát triển, củng cố và tiến bộ về mọi mặt, phong trào hoà bình dân chủ thế giới ngày càng lớn mạnh. Vì ngoại giao của Liên Xô đúng đắn và khôn khéo nên đã buộc các đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ phải họp Hội nghị Béclin và Hội nghị Giơnevơ. Chỉ việc họp hai hội nghị này đã là một thắng lợi của phe ta và thất bại của phe đế quốc.
Nội bộ của phe đế quốc do Mỹ cầm đầu mâu thuẫn ngày càng sâu sắc và mở rộng, thí dụ:
Mâu thuẫn Anh - Mỹ: Giành nhau quyền lợi ở Địa Trung Hải, Trung Đông và Cận Đông. Mỹ kéo Pakixtan, Tân Tây Lan và Úc là ba nước trước đây thuộc phe Anh. Ở Viễn Đông thì chính sách của Anh, Mỹ đối với Trung Quốc và Nhật Bản mâu thuẫn với nhau, v.v..
Mâu thuẫn Mỹ - Pháp: Ngoài mặt thì Mỹ giúp Pháp, nhưng giúp đỡ để bắt chẹt Pháp. Mỹ cố ép Pháp ký Hiệp ước Đức - Pháp và Hiệp ước quân đội châu Âu. Nếu Pháp ký những hiệp ước đó thì khác nào Pháp tự thắt cổ. Ở Đông Dương, đối với kháng chiến của ta thì Mỹ và Pháp hình như là thống nhất, nhưng sự thật thì Mỹ muốn nắm bù nhìn để hất Pháp; Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm là tay sai đắc lực của Mỹ lên nắm chính phủ bù nhìn.
Chính sách của Mỹ về "Hiệp ước quân đội châu Âu" làm cho các nước Tây Âu và nội bộ các nước đó chia rẽ. Nhân dân các nước ấy thì chống các chính phủ thân Mỹ, giữa bọn tư bản thân Mỹ và không thân Mỹ cũng mâu thuẫn lẫn nhau. Đối với châu Á thì Mỹ muốn lập "khối phòng thủ Đông - Nam Á" hòng dùng người châu Á đánh người châu Á. Chính sách của Mỹ rất phản động nhưng Mỹ gặp nhiều thất bại. Đế quốc Mỹ dùng "chính sách bạo lực", dùng bom nguyên tử và bom khinh khí để doạ các nước. Nhưng phong trào hoà bình thế giới chống chính sách vũ lực của Mỹ, chống bom nguyên tử và bom khinh khí ngày càng mạnh; thậm chí Giáo hoàng cũng phải chống chính sách bom nguyên tử và bom khinh khí. Thế là phong trào hoà bình đã kéo được đại đa số nhân dân các nước, kéo được số đông người trong giai cấp tư sản các nước và kéo được cả Giáo hoàng.
Trước Hội nghị Giơnevơ và trước thắng lợi của ta ở Điện Biên Phủ, Mỹ định ra "tuyên bố chung" giữa Mỹ, Pháp, Anh và một số nước khác đe doạ Trung Quốc, đổ cho Trung Quốc can thiệp vào chiến tranh Đông Dương. Nhưng Mỹ thất bại trong âm mưu đó vì Anh phản đối và các nước khác cũng không theo Mỹ; Mỹ lại chủ trương "liên hiệp hành động" để cứu Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng Anh không chịu và các nước khác cũng không chịu, Mỹ lại thất bại. Mỹ tìm hết cách để phá Hội nghị Giơnevơ tức là phá hoà bình. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ họp mấy ngày rồi chuồn. Nhưng các đại biểu khác cứ tiếp tục họp như thường và đã đưa Hội nghị Giơnevơ đến một số kết quả.
Tuy thất bại, nhưng Mỹ vẫn chưa chịu, vẫn ngoan cố. Mỹ đang đẩy tới việc lập "khối phòng thủ Đông - Nam Á". Thất bại của đế quốc Mỹ tức là thắng lợi của phe ta. Mỹ là kẻ thù chính của hoà bình thế giới, ta phải tập trung lực lượng chống đế quốc Mỹ.
2. Tình hình trong nước
Nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào đoàn kết, cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước ngày càng phát triển. Lực lượng du kích của ta ở Nam, Trung, Bắc chẳng những đứng vững mà ngày càng phát triển mạnh. Quân đội chủ lực của ta thì tiếp tục thắng lợi từ Chiến dịch Biên giới đến Chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, v.v.. Những thắng lợi trước cộng với thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ làm cho tình hình biến đổi một cách quan trọng. Ta phá tan kế hoạch Nava làm cho Chính phủ Lanien - Biđôn đổ, quân đội Pháp phải thu hẹp phạm vi chiếm đóng.
Ta thắng lợi vì chính sách của Đảng, của Chính phủ đúng, vì bộ đội và nhân dân ta anh dũng, vì ta có nhân dân các nước bạn và nhân dân thế giới ủng hộ. Thắng lợi của ta cũng là thắng lợi chung của phong trào hoà bình dân chủ thế giới.
Bên cạnh thắng lợi quân sự, ta cũng thu được những thắng lợi bước đầu ở mặt trận chống phong kiến. Thắng lợi quân sự có ảnh hưởng đến cuộc phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất. Thắng lợi của mặt trận chống phong kiến lại ảnh hưởng đến mặt trận chống đế quốc. Những thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho địa vị ngoại giao của ta ở Giơnevơ vững chắc, những thắng lợi của ta buộc địch phải nói chuyện với ta. So với những điều mà Bôlae đưa ra hồi 1947, thì thái độ của Pháp ngày nay thay đổi khá lớn. Thế là từ ngày kháng chiến đến nay, thế ta ngày càng mạnh, thế địch ngày càng yếu. Nhưng chúng ta cần hết sức chú ý: Thế mạnh và yếu ấy là tương đối, không phải tuyệt đối. Ta chớ chủ quan khinh địch. Thắng lợi của ta làm cho đế quốc Mỹ tỉnh dậy.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, âm mưu và kế hoạch can thiệp của Mỹ cũng thay đổi để kéo dài chiến tranh Đông Dương, quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương, phá hoại Hội nghị Giơnevơ, tìm hết cách hất cẳng Pháp để chiếm ba nước Việt, Miên, Lào, biến nhân dân Việt, Miên, Lào thành nô lệ của Mỹ và gây thêm tình hình căng thẳng trên thế giới.
Thế là: Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào.
Vì tình hình thế giới và trong nước có biến đổi như trên cho nên mới có Hội nghị Giơnevơ. Qua Hội nghị Giơnevơ, mâu thuẫn của các đế quốc càng rõ rệt; Pháp thì muốn nói chuyện, Anh thì nhập nhằng, Mỹ thì phá hoại. Đến nay Mỹ càng bị cô lập.
Việt - Trung - Xô thì rất đoàn kết. Vì mâu thuẫn giữa đế quốc và vì cố gắng của ta và phe ta, chúng ta đã tranh được một vài hiệp định khá quan trọng. Hiện nay Chính phủ Pháp do phe chủ hoà nắm, việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương có nhiều khả năng hơn.
Trong khi Hội nghị Giơnevơ tạm nghỉ, các trưởng đoàn đại biểu về nước, công việc giao lại cho các phó trưởng đoàn. Nhân lúc ấy, Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là đồng chí Chu Ân Lai từ Giơnevơ sang thăm Ấn Độ và Diến Điện. Đồng chí Chu đã cùng Thủ tướng Ấn Độ và Thủ tướng Diến Điện ra lời tuyên bố hoà bình. Năm nguyên tắc trong lời tuyên bố đó tuy vắn tắt nhưng rất rõ ràng đúng đắn, được nhân dân thế giới nhất là nhân dân châu Á hoan nghênh, đồng thời đánh tan được âm mưu của Mỹ phá hoại sự đoàn kết của nhân dân châu Á. Năm nguyên tắc ấy là:
1) Tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau;
2) Không xâm phạm nhau;
3) Không can thiệp nội chính của nhau;
4) Đối đãi nhau bình đẳng thân thiện;
5) Ăn ở hoà bình với nhau.
Cuộc gặp gỡ của đồng chí Chu với tôi cũng mang lại những kết quả tốt 1). Những cuộc gặp gỡ thân mật giữa đồng chí Chu Ân Lai và các đại biểu ba nước Ấn, Diến, Việt đã làm cho tình đoàn kết của nhân dân châu Á thêm chặt chẽ. Đó là một thắng lợi của phe ta.
Tình hình thế giới, tình hình châu Á và tình hình trong nước hiện nay làm cho nước ta có thể đi đến hoà bình. Nhưng đế quốc Mỹ cố phá hoại, ở Pháp vẫn còn phe hiếu chiến, bọn bù nhìn thân Mỹ cũng cố phá hoại cho nên khả năng tiếp tục chiến tranh vẫn còn. Đó là đặc điểm của tình hình mới ở nước ta.
II- NHIỆM VỤ MỚI
Tình hình mới đã đặt ra những nhiệm vụ mới, phương châm mới, sách lược mới. Trong tám, chín năm kháng chiến, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo nhân dân và quân đội khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng, đã thu được những thắng lợi vẻ vang. Lực lượng của ta đều tiến bộ về mọi mặt. Nhờ chính sách của Đảng và Chính phủ đúng, cho nên đã thu được kết quả tốt. Hiện nay, tình hình đã đổi mới, nhiệm vụ của ta do đó cũng có thay đổi, chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi, cho hợp với tình hình mới. Cho đến bây giờ ta tập trung lực lượng để tiêu diệt lực lượng đế quốc xâm lược Pháp. Bây giờ Pháp thì đang nói chuyện với ta, đế quốc Mỹ thì đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp, mũi nhọn của ta phải chĩa vào đế quốc Mỹ. Từ nay đến khi thực hiện hoà bình, ta vẫn tiếp tục đánh Pháp. Nhưng mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của thế giới đều chĩa vào Mỹ. Chính sách của Mỹ là mở rộng và quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương. Chính sách của ta là tranh thủ hoà bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ. Tám, chín năm nay cương lĩnh của Đảng nêu rõ: Việt - Miên - Lào hoàn toàn độc lập, thoát ly Pháp, không thừa nhận Liên hiệp Pháp, đuổi hẳn bộ đội Pháp ra khỏi Đông Dương, tiêu diệt nguỵ quyền và nguỵ quân, tịch thu tài sản của đế quốc và Việt gian, gây phong trào giảm tô giảm tức để đi đến cải cách ruộng đất, thực hiện dân chủ ở toàn quốc, kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Cương lĩnh ấy đã thu được nhiều thắng lợi. Cương lĩnh đó là đúng.
Nhưng trước tình hình mới hiện nay, ta không thể giữ cương lĩnh cũ. Trước kia khẩu hiệu của ta là: "Kháng chiến đến cùng". Nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là "hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ". Để chống đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp, kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, ta phải nắm vững lá cờ hoà bình, chính sách của ta có thay đổi: trước ta tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, nay đã đàm phán thì có thể theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, mà giữ lợi ích kinh tế và văn hoá của Pháp ở Đông Dương. Dùng lối nói chuyện thì phải nhân nhượng nhau đúng mức. Trước nói: đánh đuổi và tiêu diệt hết quân Pháp; nay đã nói chuyện, ta đã đòi và Pháp đã bằng lòng định kỳ rút quân. Trước kia ta không đếm xỉa đến Liên hiệp Pháp, nay ta nhận bàn việc tham gia Liên hiệp Pháp một cách bình đẳng và tự nguyện. Trước kia ta chủ trương tiêu diệt nguỵ quân, nguỵ quyền để thống nhất, bây giờ ta dùng chính sách khoan đãi, dùng cách toàn quốc tuyển cử để đi đến thực hiện thống nhất toàn quốc.
Muốn hoà bình thì phải chấm dứt chiến tranh, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải ngừng bắn. Muốn ngừng bắn thì phải điều chỉnh khu vực, nghĩa là quân đội địch phải tạm tập trung vào một vùng để rút dần, quân đội ta cũng tập trung vào một vùng. Ta phải có vùng rộng lớn, đủ những phương tiện để xây dựng, để củng cố và phát triển lực lượng của ta để ảnh hưởng đến các vùng khác, do đó để đi đến thống nhất. Điều chỉnh khu vực không phải là chia cắt, đó là việc tạm thời để đi tới thống nhất. Khi điều chỉnh và trao đổi khu vực, vùng xưa nay tự do mà nay địch sẽ đến tạm đóng thì đồng bào vùng ấy thắc mắc, có người sẽ bi quan thất vọng, dễ bị địch lợi dụng. Ta phải nói cho đồng bào biết rõ: vì lợi ích toàn quốc, lợi ích lâu dài mà tạm thời phải chịu đựng, đó là một điều vẻ vang, toàn quốc đều biết ơn. Ta phải làm cho mọi người không bi quan tiêu cực, mà tiếp tục hăng hái đấu tranh đòi Pháp rút quân để đi đến độc lập.
Dùng điều chỉnh khu vực đóng quân để đi đến hoà bình, dùng cách toàn quốc tuyển cử để đi đến thống nhất, đó là chủ trương của ta. Ta kháng chiến để độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình. Ngay thực hiện hoà bình cũng là để tranh thống nhất, độc lập, dân chủ. Tình hình mới, phải có chủ trương mới để tranh lấy thắng lợi mới.
Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước.
Tranh lấy hoà bình không phải là một việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ, phức tạp, nó có những điều kiện có lợi, cũng có những khó khăn. Những điều kiện lợi cho ta là: các nước bạn ủng hộ ta, nhân dân thế giới cũng ủng hộ ta, nhân dân ta hăng hái và tin tưởng vào Đảng và Chính phủ ta. Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo khéo thì nhân dân ta nhất định đoàn kết đấu tranh trong hoà bình cũng như trong kháng chiến. Những điều khó khăn là: Mỹ ra sức phá hoại việc lập lại hoà bình ở Đông Dương, phe chủ hoà Pháp thì vẫn chưa dứt khỏi ảnh hưởng của Mỹ.
Tính chất của tình hình mới không những khó khăn mà còn phức tạp, thí dụ: ta phải có chính sách khác nhau đối với vùng giải phóng mới và vùng tự do cũ, chính sách khác nhau đối với vùng tự do của ta và vùng địch tạm đóng quân; trước đây ta chỉ công tác ở nông thôn, bây giờ phải có chính sách thành thị. Chính sách đối với Pháp trước đây và bây giờ cũng khác nhau; đối với bọn Việt gian thân Mỹ và thân Pháp chính sách cũng khác nhau. Trước ta chỉ lo nội chính và ngoại giao với các nước bạn, bây giờ phải ngoại giao với các nước khác, v.v..
Ta phải phân biệt lợi ích trước mắt và lợi ích tương lai, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn bộ. Tình hình đang ở lúc chuyển biến lớn, lại nhiều khó khăn và phức tạp, cho nên tư tưởng của nhân dân và cán bộ cũng có chuyển biến. Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng, không kịp thời lãnh đạo, thì tư tưởng sẽ hỗn loạn, hành động sẽ hỗn loạn.
Những tư tưởng sai lầm có thể nảy ra như sau: "tả” khuynh, có người thấy thắng luôn, muốn đánh bừa, đánh đến cùng, họ chỉ thấy cây không thấy rừng, chỉ thấy Pháp rút mà không thấy âm mưu của chúng; chỉ thấy Pháp không thấy Mỹ; thiên về tác chiến, xem khinh ngoại giao. Họ không biết rằng ở chiến trường ta cũng đấu tranh, ở hội nghị quốc tế ta cũng đấu tranh để đi đến mục đích chung. Đối với những khẩu hiệu mới họ sẽ chống lại, cho là hữu, cho là nhượng bộ quá. Họ đề ra những điều kiện quá cao, địch không thể nhận được. Việc gì họ cũng muốn mau, không biết đấu tranh cho hoà bình là gian khổ và phức tạp. "Tả" khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân ta và nhân dân thế giới, và sẽ thất bại. Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc. Không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, làm nhụt tinh thần phấn đấu của nhân dân. Quên tác phong gian khổ; chỉ mong muốn một đời sống yên ổn dễ dàng.
Khuynh hướng "tả" cũng như hữu đều là sai lầm, đều sẽ bị địch lợi dụng, đều có hại cho ta mà lợi cho địch.
Nhiệm vụ và công tác.
Tình hình mới định ra ba nhiệm vụ mới là:
1- Tranh thủ và củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.
2- Tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình thế mới.
3- Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng; ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà.
Ba nhiệm vụ đó định ra 10 công tác:
1. Thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân về tình hình và nhiệm vụ mới.
2. Tăng cường lãnh đạo đấu tranh ngoại giao.
3. Ra sức tăng cường lực lượng của quân đội nhân dân.
4. Tiếp thu vùng mới giải phóng, đặc biệt là tiếp thu và quản lý các thành thị.
5. Chuyển hướng công tác trong vùng địch tạm đóng quân.
6. Tiếp tục củng cố vùng tự do cũ.
7. Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.
8. Tăng cường công tác kinh tế tài chính và chuẩn bị điều kiện để kiến quốc.
9. Giúp đỡ Pathét Lào và Khơme.
10. Tiếp tục chỉnh Đảng và cải tạo Đảng trong vùng mới giải phóng.
Toàn bộ 10 công tác này do Trung ương lãnh đạo. Mỗi địa phương và mỗi ngành thì có những công tác nhất định, chứ không phải ở đâu cũng có 10 công tác.
Trong 10 công tác trên thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi.
Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới, và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ. Bất kỳ người nào, nước nào không thân Mỹ đều có thể làm mặt trận thống nhất (dù là tạm thời) với ta. Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Các công tác phải phối hợp và liên hệ với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục, v.v.. Mỗi công tác phải hợp với từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh.
Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và của Chính phủ, với sự đoàn kết và cố gắng của toàn thể cán bộ và nhân dân, với sự đồng tình của nhân dân các nước bạn và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, chúng ta nhất định thắng lợi trong ba nhiệm vụ và 10 công tác nói trên.
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr.311-320.
____________
1. Từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai đã gặp gỡ ở biên giới Việt - Trung. Hai bên đã trao đổi ý kiến về tình hình tiến triển của Hội nghị Giơnevơ, về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương và những vấn đề khác liên quan đến Hội nghị Giơnevơ.
LỜI KÊU GỌI SAU KHI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ THÀNH CÔNG
Cùng đồng bào toàn quốc,
Cùng toàn thể quân đội và cán bộ,
Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to.
Tôi thay mặt Chính phủ thân ái kêu gọi toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ
1. Vì hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc mà 8, 9 năm nay, nhân dân, quân đội, cán bộ và Chính phủ ta, đoàn kết chặt chẽ, trên dưới một lòng, chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn, kiên quyết kháng chiến và đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ ngỏ lời thân ái khen ngợi toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ từ Nam đến Bắc. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời an ủi anh em thương binh, bệnh binh.
Chúng ta giành được thắng lợi to lớn cũng là do nhân dân các nước bạn, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta.
Vì những thắng lợi ấy và do sự cố gắng của đại biểu Liên Xô tại Hội nghị Béclin, mà có cuộc đàm phán giữa ta và Pháp ở Hội nghị Giơnevơ. Ở Hội nghị Giơnevơ, do sự đấu tranh của đoàn đại biểu ta và sự giúp đỡ của hai đoàn đại biểu Liên Xô và Trung Quốc, ta đã thu được thắng lợi lớn: Chính phủ Pháp đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta, thừa nhận quân đội Pháp sẽ rút khỏi nước ta, v.v..
Từ nay, chúng ta phải ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc.
2. Để thực hiện hoà bình, bước đầu tiên là quân đội hai bên phải ngừng bắn.
Để ngừng bắn, thì cần phải tách quân đội hai bên ra hai vùng khác nhau: tức là điều chỉnh khu vực.
Điều chỉnh khu vực là việc tạm thời, là bước quá độ để thực hiện đình chiến, lập lại hoà bình, và tiến đến thống nhất nước nhà bằng cách tổng tuyển cử. Điều chỉnh khu vực quyết không phải là chia xẻ đất nước ta, quyết không phải là phân trị.
Trong khi đình chiến, quân đội ta tập trung vào miền Bắc, quân đội Pháp tập trung vào miền Nam, nghĩa là có sự đổi vùng. Một số địa phương trước kia là vùng Pháp chiếm, nay thành vùng giải phóng của ta. Ngược lại, một số vùng giải phóng cũ của ta, nay sẽ là nơi Pháp tạm đóng quân trước khi rút về Pháp.
Đó là một việc cần thiết. Nhưng Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng.
Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn theo dõi sự cố gắng của đồng bào và tin chắc đồng bào sẽ thắng lợi.
3. Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí.
Chúng ta quyết làm đúng những điều đã ký kết với Chính phủ Pháp, đồng thời chúng ta đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng những điều họ đã ký kết với ta.
Chúng ta phải ra sức củng cố hoà bình, tỉnh táo đề phòng âm mưu của những kẻ phá hoại hoà bình.
Chúng ta phải ra sức đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đặng thống nhất nước nhà.
Chúng ta phải ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta.
Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự.
Chúng ta thắt chặt thêm mối tình nghĩa anh em với hai nước Miên và Lào.
Chúng ta củng cố tình hữu nghị vĩ đại giữa ta với Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác. Chúng ta đoàn kết hơn nữa với nhân dân Pháp, nhân dân châu Á và nhân dân toàn thế giới để giữ gìn hoà bình.
4. Tôi thân ái kêu gọi toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ hãy theo đúng đường lối, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.
Tôi thiết tha kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta hãy thật thà cộng tác, vì dân vì nước mà phấn đấu để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.
Cả nước đồng lòng, muôn người như một, chúng ta nhất định thắng lợi.
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn năm!
Ngày 22 tháng 7 năm 1954
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh: Toàn tập,
t.7, tr.321-323.