Tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự của Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Tiểu đoàn súng máy tự hành 241 và Đại đội 1, Trung đoàn Pháo cao xạ 234 tại sân bay Bạch Mai, ngày 19-7-1965. Ảnh tư liệu.

1. Tư tưởng “người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh được hình thành rất sớm, từ những năm 20 của thế kỷ XX

Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong Hồ Chí Minh toàn tập - 15 tập (Nxb CTQG, HN, năm 2011), không có cụm từ “người trước, súng sau”. Chỉ có cụm từ “giáo trước súng sau” được Hồ Chí Minh sử dụng trong bài Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh, cụ thể là: “Cây cối um tùm thì dễ tránh/ Bụi rừng rậm thì dễ đánh bất thình lình/ Đường hẹp có nhiều thì dễ đánh phục kích/… Có súng có giáo, giáo trước súng sau.”[1] Bởi vậy, có thể suy đoán cụm từ “người trước, súng sau” là do những nhà nghiên cứu khái quát để chỉ tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự hoặc cũng có thể cụm từ ấy do nhân chứng lịch sử nhớ lại đại ý về lời nói, căn dặn của Hồ Chí Minh trong một lần gặp nào đó. Thực tế, các đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… từ lâu đã đề cập tới “tư tưởng” “người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh”[2].

Ngay từ năm 1923, trong Thư gửi những người bạn cùng hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập tự do”[3]. Năm 1940, khi chuẩn bị về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Người xác định: “nếu bây giờ có vũ khí thì lấy ai mà vác vũ khí? Cho nên cứ tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng đã giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí”[4]. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tháng 12 năm 1944)  Người khẳng định: “ Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền… Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu qui mô còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[5]. Thực hiện Chỉ thị của Hồ Chí Minh ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập và cử hành trọng thể, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng). Bản Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là một tài liệu ngắn gọn, súc tích, có tính chất như một cương lĩnh quân sự vắn tắt, bao gồm những vấn đề chủ yếu trong đường lối quân sự của Đảng như: vũ trang toàn dân, kháng chiến toàn dân, nguyên tắc và phương châm xây dựng các đội quân chủ lực và phát triển các lực lượng vũ trang địa phương, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị, nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân không ngừng phát triển, trưởng thành, trở thành Quân đội quốc gia Việt Nam và từ năm 1950 đến nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam. Như vậy, tư tưởng “ người trước, súng sau” trở thành phương châm chiến lược xuyên suốt trong xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.

2.  Tư tưởng “người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh có sự kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam và tinh hoa quân sự thế giới

Trải qua hàng nghìn năm, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên chống lại những kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình và đã chiến thắng, hình thành truyền thống dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh sớm hiểu biết những giá trị văn hóa của lịch sử dân tộc. Trong tác phẩm Lịch sử nước ta, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”[6]. Người luôn luôn nhắc nhở, thế hệ đời sau không bao giờ được phép lãng quên là dân tộc ta có nền quân sự truyền thống quý giá của ông cha. Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[7].

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng của Trần Hưng Đạo “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”; Các vương hầu và các tướng sĩ, ai nấy phải cần giữ phép tắc, đi đến đâu không được quấy nhiễu dân”; “Làm việc cốt tránh phiền dân, sai khiến dân, nên khuyên nhủ dân noi theo... Đem bụng khoan thư cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu dân... lấy sự no đủ làm nguyện vọng của dân, coi việc cấy cày là việc làm gốc của nước...”[8]. Người tiếp thu tư tưởng của Nguyễn Trãi “chở thuyền là dân”, “lật thuyền cũng là dân”, phải “yêu thương và nuôi dưỡng dân”, “việc nhân nghĩa cốt ở an dân” và tư tưởng của Quang Trung “Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, “kéo cùng dân ra khỏi chốn lầm than”... Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những tư tưởng đó thành tư tưởng vũ trang toàn dân, cả nước cùng đánh giặc, xây dựng nền tảng xã hội bền vững trên cơ sở dựa vào dân, lấy dân làm gốc. “Dân khí mạnh thì vũ khí nào cũng không chống nổi”. Người chủ trương phát động toàn dân khởi nghĩa, toàn dân đánh giặc. Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc[9]. Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài đánh giặc. “Dễ mười lần không dân cũng chịu/ khó trăm lần dân liệu cũng xong”[10]. Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được. Việc gì khó mấy mà biết hỏi ý kiến nhân dân thì sẽ tìm ra sáng kiến.

Đồng thời, Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tinh hoa quân sự thế giới mà cốt lõi là học thuyết quân sự Mác – Lênin. Hồ Chí Minh tiếp thu khoa học, sáng tạo các luận điểm của Tôn Tử trong các thiên phép chiến tranh: “Biết mình, biết người”, “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, “Thế, Lực, Thời”... sao cho phù hợp với truyền thống dân tộc và điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Người chỉ rõ, “biết mình, biết giặc, trăm trận trăm thắng”. Trong tác phẩm Cách đánh du kích (1941), Người đã nêu có bốn nguyên tắc cơ bản về nghệ thuật quân sự là: Giữ quyền chủ động, hết sức nhanh chóng, bao giờ cũng giữ thế tiến công, phải có kế hoạch thích hợp và chuẩn bị chu đáo. Có bốn mưu mẹo lớn là: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, náo phía Đông, đánh phía Tây; tránh trận gay go, không sống chết giữ đất; mình yên đánh quân thù động, mình khỏe đánh quân thù mệt.

Thời kỳ hoạt động ở Liên Xô Người nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng Hồng quân Xô viết một đội quân có tổ chức chặt chẽ, huấn luyện chu đáo, vũ khí tối tân, đã đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, Hồ Chí Minh rút ra bốn ưu điểm cần học là: biết phép chiến đấu; được hưởng một nền văn hóa giáo dục tốt đẹp và am hiểu kỹ thuật, chiến thuật, làm chủ vũ khí, phương tiện chiến đấu; có mối quan hệ đặc biệt quân dân nhất trí; có chỉ huy tối cao sáng suốt, đủ đức - tài.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển học thuyết quân sự Mác - Lênin về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, “là ngày hội của quần chúng”. Giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động là lực lượng tham gia chiến tranh cách mạng, thực hành chuyên chính vô sản và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp thu những quan điểm đó, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người cùng Trung ương Đảng chủ trì đề ra đường lối chiến tranh nhân dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân.

3. Tư tưởng “người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh thể hiện mối quan hệ, thứ tự giữa con người và vũ khí - hai nhân tố căn bản tạo nên sức chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ Thủ đô ngày 25/9/1966 (Ảnh tư liệu).

Theo Hồ Chí Minh, trong mối quan hệ với vũ khí thì con người giữ vai trò quyết định, đi trước còn vũ khí là yếu tố quan trọng, cần thiết. Bởi vì, con người làm ra vũ khí, sử dụng vũ khí và chính con người đã là vũ khí vạn năng, bền vững, còn vũ khí là công cụ bổ trợ, góp phần tạo cho con người làm nên những chiến thắng trong hoạt động quân sự. Điều này được Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”[11] và “không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”[12].

Trong bài Kỷ niệm thắng lợi Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lúc đầu, địch mạnh hơn ta gấp trăm gấp ngàn lần về vật chất. Nhưng về tinh thần và chính trị thì ta mạnh hơn địch gấp trăm gấp ngàn lần. Căn cứ vào thực tế đó, Đảng ta đã nêu khẩu hiệu: Kháng chiến sẽ trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Đảng ta nắm vững chiến lược tất thắng là chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhân dân ta từ Bắc đến Nam đoàn kết một lòng, làm theo lời Đảng. Chiến sĩ ta (Quân đội chính quy và lực lượng du kích) anh dũng phi thường. Nhờ vậy, ta đã chuyển từ không đến có, từ yếu đến mạnh. Thắng lợi vĩ đại Điện Biên Phủ là kết quả tất nhiên của sự quyết tâm và cố gắng của quân và dân ta”[13]. Điều đó cho thấy, một cây súng trong tay một người lính được giác ngộ chính trị sẽ có công lực hoàn toàn khác với một cây súng trong tay một kẻ đánh thuê. Theo Hồ Chí Minh, vũ khí quân sự được đề cập trên hai phương diện: (1) “vũ khí vật chất” như: gậy tầm vông, giáo, mác, súng, mìn, bom, đạn, xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến… (2) “vũ khí tinh thần” như: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, gan dạ, sự hy sinh… Hai thứ vũ khí đó đều được sử dụng và có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quân sự. Song, thứ vũ khí trong mối quan hệ với con người ở đây, chính là thứ “vũ khí vật chất”. Còn “vũ khí tinh thần”, tự bản thân nó đã nằm sẵn trong con người và thuộc về con người. Khi xem xét mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự của Người là chúng ta xem xét mối quan hệ giữa con người với thứ “vũ khí vật chất”. Bởi vì, vũ khí là công cụ, phương tiện chủ yếu bảo đảm cho con người có đủ điều kiện để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chiến đấu được giao. Nó vừa là công cụ tiến công, vừa là công cụ phòng thủ của con người trong hoạt động quân sự. Bằng sức mạnh công phá và khả năng sát thương cao, vũ khí là công cụ trực tiếp gây thiệt hại cho đối phương cả về lực lượng cũng như vũ khí, khí tài, trang bị, phương tiện và cơ sở vật chất chiến tranh, từ đó làm giảm hoặc làm mất khả năng chiến đấu, buộc đối phương phải khuất phục. Đồng thời, vũ khí cũng là “lá chắn” để bảo vệ an toàn cho con người và các mục tiêu canh giữ khỏi sự phá hoại do đối phương gây ra, con người nhất thiết phải được trang bị ít nhất là một hoặc một số loại vũ khí cần thiết, để họ có đủ khả năng chiến đấu. Chính vì vậy, đó là lý do để Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc chiến lược trong xây dựng Quân đội là phải xây dựng “ người trước, súng sau”.

Đặc biệt, trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, để chống lại kẻ địch mạnh thì việc phát huy vai trò của con người, của quần chúng nhân dân càng có ý nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã khẳng định: “Nét nổi bật trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang là “Người trước, súng sau”, “vũ khí là cần nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”[14].

4. Tư tưởng “người trước, súng sau”của Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh vai trò chủ thể, quyết định của con người trong hoạt động quân sự.

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và phát huy nhân tố con người. Người cho rằng, con người bao giờ cũng ở vị trí trung tâm trong thế giới, con người từ chỗ phụ thuộc vào thế giới đã dần dần trở thành chủ nhân của thế giới. Vai trò thể hiện trước hết là tái sản xuất ra chính bản thân con người và xã hội loài người, nhờ đó mà con người tồn tại, phát triển không ngừng và con người có vai trò quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao, từ xã hội mông muội đến xã hội văn minh, thông qua các cuộc cách mạng xã hội, trong đó có cả các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Đây là một trong những sáng tạo đặc sắc của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng này cũng hoàn toàn đối lập với quan điểm của những người theo học thuyết “vũ khí luận” và cũng xa lạ với quan điểm tuyệt đối hóa vai trò con người, phủ nhận vai trò các yếu tố khác.

Vì vậy, để giải quyết một cách hiệu quả mối quan hệ giữa con người và vũ khí, theo Hồ Chí Minh trước hết phải xuất phát từ chính chủ thể của mối quan hệ là con người. Tức là phải luôn coi trọng và phát huy nhân tố con người, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong hoạt động quân sự; coi đây là phương hướng cơ bản, chủ yếu, nhất quán, xuyên suốt quá trình giải quyết mối quan hệ ấy trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Để tăng sức mạnh lực lượng vũ trang nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương củng cố mối quan hệ quân – dân, nhấn mạnh vai trò quan trọng sức mạnh tinh thần của con người và đòi hỏi trong lực lượng vũ trang nhân dân trước hết phải nâng cao sức mạnh chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Theo Người: “Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khoẻ mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”. Cho nên: “Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi. Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt”[15]. Để chăm lo nhân tố con người, còn phải làm tốt chính sách xã hội đối với thương binh, bệnh binh, liệt sĩ và chăm lo cho những gia đình có người tham gia kháng chiến để yên lòng những người lính ngoài mặt trận.

 Đồng thời, Người luôn chú ý làm tốt công tác lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán, trung kiên làm hạt nhân cho phong trào đấu tranh của quần chúng. Coi trọng và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên, giác ngộ, tổ chức và đưa quần chúng nhân dân ra trực tiếp đấu tranh giành cách mạng. Chú trọng bồi dưỡng và phát huy sức mạnh nhân tố chính trị - tinh thần của con người Việt Nam trong hoạt động quân sự, coi đó là ưu thế tuyệt đối, là sức mạnh vô địch trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần t lực, tự cường của dân tộc trong việc sáng tạo, sản xuất cũng như tìm kiếm, huy động mọi nguồn vũ khí bảo đảm cho cách mạng.

Coi trọng con người, lấy con người là chủ thể, trung tâm, quyết định, nhưng Hồ Chí Minh vẫn coi trọng việc chế tạo vũ khí phục vụ chiến đấu. Vũ khí tự tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân đã góp phần quan trọng giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ thời kỳ năm 1945-1946, trong thế bị bao vây cô lập bốn bề và góp phần quan trọng hạn chế các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất của thực dân Pháp, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặc dù được Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ về mặt quân sự, nhưng trình độ vũ khí trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn lạc hậu so với các phương tiện chiến tranh của đế quốc Mỹ. Xét về trình độ khoa học và công nghệ vào thời điểm chiến tranh Việt Nam, nước Mỹ có tiềm lực khoa học, công nghệ và một đội quân được trang bị hiện đại nhất thế giới tư bản. Nhưng với truyền thống văn hóa yêu nước Việt Nam, sức mạnh ý chí quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do thống nhất đất nước, tư tưởng “người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh đã được vận dụng sáng tạo, linh hoạt, chủ động trong hoàn cảnh mới, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thng đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Qua thực tế chiến tranh cho thấy, một trong những sai lầm của những người vạch kế hoạch chiến tranh ở Pháp là “coi thường Việt Minh vì cho rằng họ chỉ là những người du kích nông dân”, còn người Mỹ chỉ nhìn thấy Việt Cộng là đội quân được trang bị vũ khí lạc hậu. Cả người Pháp và Mỹ đều có chung quan điểm coi ưu thế của khoa học, công nghệ quyết định tất cả. Trong khi đó, giáo sư Singo Sibata, chuyên nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn của Trường Đại học tổng hợp Tokyo đã có nhận xét hết sức sâu sắc: “Ở Việt Nam, không phải vũ khí mà là con người quyết định kết quả chiến đấu. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc đối đầu với các đội quân xâm lược được trang bị hiện đại nhất thế giới”[16].

Tình hình cách mạng Việt Nam, sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có đươc cơ đồ, tiềm lực, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng tới sự nghiệp đổi mới. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá về chính trị, tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình”. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng công nghệ cao, trật tự, an toàn xã hội vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp … sẽ tác động mạnh đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII(năm 2021) đã chỉ rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội Nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá các thế lực thù địch”[17] Hiện nay, nhằm xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, sẵn sàng làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích và sự  toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới về chính trị cần thực hiện tốt giải pháp sau.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt và người đứng đầu, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt của Đảng: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; kỷ luật tự giác nghiêm minh; đoàn kết thống nhất trong Đảng. 

Hai là, nâng cao nhận thức đúng đắn cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng về vai trò, vị trí của nhân tố con người, tầm quan trọng của việc phát huy nhân tố con người. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đánh giá đúng vai trò của con người, con người là vị trí trung tâm của thế giới, vốn quý nhất, con người vừa là lực lượng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy,  trong xây dựng quân đội phải thường xuyên chăm lo xây dựng, bồi dưỡng toàn diện con người, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân đội đặt ra, tiếp tục xây dựng, củng cố các tổ chức, các đoàn thể trong quân đội vững mạnh toàn diện. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách quân đội và hậu phương quân đội nhằm phát huy nhân tố con người.

Ba là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn quân.  Giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định với sự nghiệp đổi mới; trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có phẩm chất đạo đức; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Đồng thời, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về “ người trước, súng sau” là một việc làm hết sức quan trọng, cấp bách hơn bao giờ hết. Tư tưởng này đã và đang được Đảng ta lãnh đạo và vận dụng để xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang là bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 5, tr.698 - 699.

[2]Trường Chinh: Hồ Chí Minh và những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1971; Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2000; Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 1, tr.209.

[4]Bộ Quốc Phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam : Hồ Chí Minh biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.103.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 3, tr 539 – 540.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.3, tr 259

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.9, tr.59.

[8] Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 1980, tr.290.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 4, tr.534.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.15, tr.280.

[11]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 7, tr.460

[12]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 4, tr.527.

[13]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 14, tr.77.

[14]Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.255.

[15]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, tập 7, tr. 219, 458.

[16]Shingo Shibata: Chiến tranh Việt Nam và cách mạng khoa học - kỹ thuật, Bản dịch của Viện khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng. 

[17] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H. 2021, t.1, tr.156)

 

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website