Tổ quốc Việt Nam trong trái tim Hồ Chí Minh

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh: tư liệu

Ba năm sau khi ra đi tìm đường cứu nước, lênh đênh trên biển cả, qua ba châu lục, đặt chân lên một số nước(1) chứng kiến sự áp bức, bất công, tháng 8-1914, tại căn nhà số 8, phố X-têp-hen Tốt-ten-ham, Luân Đôn, Thủ đô Anh quốc, Nguyễn Tất Thành viết và gửi bức thư đầu tiên cho cụ Phan Châu Trinh đang ở Pháp, trong thư có bài thơ Hy Mã nghi đại bá nhân thấu (2), ký tên Cuồng điệt Tất Thành (Hy Mã là hiệu của Phan Châu Trinh; Cuồng điệt là người cháu cuồng nhiệt, hăng say) để cụ Phan Châu Trinh hiểu rõ tấm lòng và ý chí quyết tâm của Bác đối với vận mệnh Tổ quốc:

Lợi chung dầu sẽ mua về được

Kiếp mạng chi nài sự có không

Ba hột đạn thầm - hai tấc lưỡi

Sao cho ích giống mấy cam lòng.

Năm 1919, Bác thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây bản Yêu sách của Nhân dân An Nam (Revendications du frenple Annamite) gồm 8 điểm, đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của dân Việt Nam. Rồi, chính Bác lại dịch ra văn vần để gửi về nước phổ biến rộng rãi có tên là Việt Nam yêu cầu ca. Kết thúc bài diễn ca, Bác kêu gọi đồng bào:

Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt

Thế cuộc này phải biết mà lo.

Lo này không ngoài lo nào khác là cứu nước, cứu dân. Năm 1928, Bác viết Bài ca Trần Hưng Đạo với tấm lòng tôn kính, trân trọng, ôn lại sự kiện thiêng liêng:

Diên Hồng thề trước thánh minh,

Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành.

Rằng:

Một người Việt hãy đang còn

Thì non sông Việt là non sông nhà.

Non sông đất nước, truyền thống lịch sử văn hóa Việt Nam mấy nghìn năm thấm sâu trong thơ Bác.

Dẫn ra một số bài thơ cụ thể trên để thấy rằng, những năm tháng Bác phải xa Tổ quốc, lúc nào Bác cũng nghĩ suy về đất nước, hướng lòng mình về đất nước thân yêu. Trong cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên thổ lộ: “Có thể nói là ông Nguyễn suốt ngày nghĩ tới Tổ quốc và suốt đêm mơ tới Tổ quốc mình” (3). Tổ quốc Việt Nam luôn luôn trong trái tim Bác, thường trực trong Bác từng phút, từng giây. Những bài thơ Bác viết khi bị giam hãm trong tù ngục lại càng mang nặng nỗi nhớ nước da diết khôn nguôi. Hình ảnh Tổ quốc lúc nào cũng canh cánh trong lòng, ngày cũng như đêm, thức cũng như ngủ, tâm trí Bác lúc nào cũng hướng về Tổ quốc:

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay.

(Đêm thu)

Ngày nào cũng khắc khoải chờ mong tin tức:

Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng

Tin tức bên nhà bữa bữa trông.

(Tức cảnh)

Thơ ca viết về Tổ quốc thời kỳ Bác ở nước ngoài là sự tiếp nối thơ ca viết về Tổ quốc trong dòng văn học yêu nước của các bậc chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Tất Đắc. Thay vì cho hai tiếng Tổ quốc là: Hồn nước, Quốc hồn, Cố quốc, Sơn hà, Nước non, Non sông... Song, nội hàm của nó mang một nội dung mới. Tuy hiện tại đất nước đang chìm đắm trong cảnh nô lệ lầm than nhưng không bơ vơ lạc lõng mãi nơi đâu, chân trời góc bể xa lắc xa lơ như Hồn cố quốc vẩn vơ vơ vẩn, / Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han. / Bâng khuâng đỉnh giáp chân ngàn. / Khói tuôn khí uất, sóng cồn trận đau (Phan Bội Châu), cũng không bi quan đến mức Đời người đến thế còn gì/ Nước non đến thế còn gì nước non (Phạm Tất Đắc). Trong cảm nhận và tư duy tỉnh táo, theo Bác, Hồn nước là ở chính trong từng người, là tình yêu Tổ quốc sâu nặng, là hành động dũng cảm cứu nước, là khối đời chung mà mọi người cùng lo:

Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt

Thế cuộc này phải biết mà lo.

Tất cả cùng phải chung vai gánh vác, đồng tâm hiệp lực. Đó là cách nhìn, là quan điểm của người chiến sĩ cách mạng trong bước chuyển thời đại.

Trong thơ Bác, khi nói đến Nước bao giờ Bác cũng gắn Nước với dân: Dân là con nước, nước là mẹ. Trách nhiệm cao cả của mỗi người dân là phải giữ gìn, bảo vệ đất nước.

Khi về nước trực tiếp lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, thơ Bác tập trung cho chủ đề tập hợp lực lượng tuyên truyền, vận động, động viên mọi tầng lớp Nhân dân chuẩn bị khẩn trương cho cuộc cách mạng đánh đổ thực dân phong kiến, cứu nước, cứu dân:

Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già

Đoàn kết vững bền như khối sắt

Để cùng nhau cứu nước Nam ta.

(Thơ đề tranh cổ động báo Việt Nam độc lập)

Việc chi ích nước thì làm,

Cứu dân, cứu nước há cam kém người.

(Ca binh lính)

Mấy chữ cứu nước, cứu dân trong thơ Bác thật khẩn thiết. Đặc biệt trong thời kỳ này Bác viết hai bài diễn ca Địa dư nước ta và Lịch sử nước ta, để mọi người dân Việt Nam tỏ tường về đất nước, lịch sử Việt Nam.

Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Và kết thúc là một tương lai:

Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên nước Việt, rạng danh Lạc Hồng.

Sau này trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ anh dũng chống thực dân Pháp, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc Việt Nam hiện ra trong thơ Bác càng cụ thể và nhiều chiều,

Có hai biểu tượng khắc sâu trong tâm trí người đọc về Tổ quốc trong thời kỳ tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại trong thơ Bác là hình ảnh lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc và tư tưởng độc lập, tự do. Lá cờ Tổ quốc đã trở thành biểu tượng của độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc:

Nước nhà ta, ta làm người chủ,

Vận mệnh ta, ta giữ trong tay

Nước non vẫn nước non này

Treo cờ độc lập, nền xây hòa bình.

(“Chinh phụ ngâm” mới)

Hay như:

Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi,

Chiếu lên cờ độc lập, tự do.

(Nhóm lửa)

Một Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do đã hiện ra ngày càng rõ và đậm trong thơ Bác. Mỗi khi nói về Tổ quốc, nói về con người, bao giờ Bác cũng nói đến độc lập, tự do. Độc lập, tự do là lý tưởng, là khát vọng lớn của Bác và của toàn dân tộc. Sau này, Bác gói gọn trong một câu nói giản dị: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Câu nói đó đã trở thành chân lý phổ biến, một tư tưởng lớn định hướng, một mục tiêu lớn được xác định, cổ vũ cho hành động cách mạng của mỗi người, của những dân tộc đang đấu tranh cho độc lập, tự do.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, quân dân ta đang thắng lớn, thơ như lời hịch thúc giục mọi người xông lên, xốc tới:

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.

Tiến lên! chiến sĩ, đồng bào!

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.

(Mừng xuân – 1969)

Chẳng bao lâu, chỉ sau mấy năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, giang san quy về một mối, độc lập, tự do từ nay vĩnh viễn nắm chắc trong tay. Quân và dân ta nhất định thực hiện thành công lời Bác dạy, xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Đọc những vần thơ Bác viết về Tổ quốc, mỗi chúng ta thấm sâu hơn về tình yêu Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam hiện ra trong thơ Bác qua tâm thức, cảm nhận của một tấm lòng, một tâm hồn sáng trong, da diết, nhạy cảm và tin yêu. Đó là Tổ quốc trong đau thương, nô lệ, Tổ quốc vùng lên kiêu hãnh với những kỳ tích, những mốc son lịch sử diệu kỳ – một Tổ quốc trong yêu thương, trong đấu tranh quyết liệt, trong niềm tự hào xây đắp và bảo vệ.

Trọn cuộc đời, Bác dành cả trái tim và khối óc, hiến dâng cho Tổ quốc, trước sau như một, vẫn một lòng, một ý chí sắt đá vì Tổ quốc, vì Nhân dân; kiên định, nhất quán trong một con người – Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông đất nước ta.

(1) Ngày 5–6–1911, Bác rời Cảng Nhà Rồng. Tháng 7–1911, Bác tới Cảng Mác-xây, Lơ Ha-vơ-rơ nước Pháp. Cuối năm 1912, Bác làm thuê cho một chiếc tàu chở hàng vòng quanh châu Phi, Bác đã đến các nước: An-giê-ri, Tuy-ni-di, Xê-nê-gan, Ghi-nê... Cuối năm 1913, Bác sang Mỹ, dừng chân ở Niu–Oóc một thời gian, sau đó trở về Pháp. Đầu năm 1914 từ Pháp Bác sang Anh.

(2) Cho đến nay, nếu công việc sưu tầm thơ Bác chưa có thêm tư liệu thì bài thơ Hy Mã nghi đại bá nhân thấu (để Phan Chu Trinh hiểu rõ) được coi là bài thơ đầu tay của Bác.

(3) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch – NXb Văn học, 1960 – Tr47.

Lê Xuân Đức

Theo https://baothanhhoa.vn

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website