Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Con tàu Đô đốc Latouche-Tréville (Ảnh tư liệu)

1. Nguyễn Ái Quốc với hành trình tìm ra con đường cứu nước đúng đắn

Ngày 5-6-1911, vi khát vng cháy bng gii phóng dân tc, Người ri bến cng Nhà Rng, “muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi s tr v giúp đng bào chúng ta”(1).

Với hành trang là lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, ôm ấp khát vọng lớn lao tìm ra con đường cứu nước, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc, dưới tên Văn Ba, làm nghề phụ bếp, Người chọn nước Pháp là nơi dừng chân đầu tiên khi sang phương Tây, bởi vì “Nguồn gốc những đau khổ và áp bức dân tộc là ở ngay tại “chính quốc”, ở nước đế quốc thống trị dân tộc mình”(2). Trên hành trình bôn ba thế giới, đi qua 3 đại dương, 4 châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ và gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố lớn nhỏ, tiếp xúc với nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa và nhất là qua khảo sát các cuộc cách mạng tư sản điển hình là cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ, Người nhận thấy, các cuộc cách mạng đó đều “không đến nơi”, bởi: “Tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(3). Tại các nước tư bản ấy, đằng sau các khái niệm “Tự do, bình đẳng, bác ái”, công lý, nhân quyền, khai hóa…, là sự phản bội, lừa bịp của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, là niềm đau khổ tột cùng của nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột.

Chính những nhận thức sâu sắc đó, đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành quyết định gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, với tên gọi mới Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Versailles (Vécxây) đòi những quyền dân tộc tự quyết. Mặc dù các yêu sách đó không được các nước đế quốc chấp nhận, nhưng đã gây tiếng vang lớn trong dư luận Pháp và những người yêu nước Việt Nam tại Pháp và ở Việt Nam.

Tháng 7-1920, trên báo L’Humanité (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc đọc được toàn văn tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địacủa V.I.Lêninvà nhận thấy tác phẩm “là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đn, Người đã hướng niềm tin vào Lênin và Quốc tế III, tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, đứng về phía những người cánh tả Đảng Xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III (1920) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ khi trở thành người cộng sản, Người tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa (1922), dự Hội nghị Quốc tế Nông dân (1923), tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) và có nhiều bài phát biểu quan trọng lên án chủ nghĩa thực dân, không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản ở chính quốc về vấn đề thuộc địa. Cuối năm 1924, Người tới Quảng Châu (Trung Quốc) xúc tiến thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), xuất bản Báo Thanh Niên (1925), mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam (1925-1927), xuất bản cuốn Đường kách mệnh (1927), chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyn Ái Quc là người đu tiên truyn bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà Người đã la chn. Cui năm 1929, đu năm 1930, trước s chia r, trannh chp ảnh hưởng trong qun chúng ca các t chc cng sản trong nước, với tư cách là phái viên của Quc tế Cng sn, Nguyn Ái Quc đến Hương Cảng (Trung Quc) triu tp Hi ngh thng nht các t chc cng sn thành mt chính đng duy nht Vit Nam.

Hành trình tìm đường cứu nước ca Nguyn Ái Quc t năm 1911 đến năm 1920 vi nhngkho nghim, phân tích thc tế xã hi, chế đ chính tr ca nhiu quc gia ln, nh, giàu, nghèo hu khp các châu lc, đ tìm ra bn cht ca các hc thuyết và các cuc cách mng trên thế gii, t đó cht lc, vn dng và phát trin phù hp vi yêu cu ca dân tc.

2. Tr về nước, trc tiếp lãnh đo cách mng Vit Nam, thc hin khát vng gii phóng dân tc, thng nht đất nước

Sau 30 năm hot đng ở nước ngoài, ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Tân T), lãnh t Nguyn Ái Quc - H Chí Minh tr v T quốc, cùng Trung ương Đảng lãnh đo phong trào cách mng gii phóng dân tộc, giành độc lp, tự do. Người ch trì Hi nghị Trung ương tháng 5-1941 ti Khui Nm, Hà Qung, Cao Bng quyết đnh nhng vn đ ln ca cách mng. Hi ngh đánh du s hoàn chỉnh đường li chiến lược cách mng, đt nhim v gii phóng dân tộc lên hàng đầu, x lý đúng đn đu tranh dân tộc và đấu tranh giai cp, li ích dân tc và li ích giai cp, quyết tâm, giành độc lp vi khu hiu đc lp trên hết, T quc trên hết. Lãnh t Nguyn Ái Quc cùng Trung ương Đảng quyết đnh thành lp Mt trn Vit Minh (19-5-1941) đ tp hợp đoàn kết rng rãi toàn dân tc vi các t chức, đoàn thể cu quc; xây dng căn c đa cách mng và lực lượng vũ trang; xác đnh phương pháp đấu tranh khi nghĩa tng phn đến Tng khi nghĩa giành chính quyn…

Cuc Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước Vit Nam Dân ch Cng hòa ra đi, là thành qu ca cuc đấu tranh kiên cường ca c dân tc Vit Nam do Đng và lãnh t H Chí Minh lãnh đạo. Đó là thành quả ca ý chí t lc, tự cường, khát vng đc lp, t do, phát trin đất nước mà Nguyn Ái Quc - Hồ Chí Minh nêu cao và được c dân tc nhn thức và hành động.

Bước vào cuc kháng chiến chng thực dân Pháp xâm lược, toàn th dân tc Vit Nam tri qua nhiu hy sinh, gian khổ, nhưng vô cùng anh dũng và tự hào, dưới s lãnh đo tài tình ca Đng, ca Bác kính yêu đã làm nên mt Đin Biên lch s - “lng ly năm châu, chn đng đa cu”. Sau ngày Hip định Giơnevơ được ký kết, min Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thi k quá đ lên ch nghĩa xã hi, là hậu phương vững chc cho cách mng cả nước. Min Nam tiếp tc cuc cách mng dân tc dân ch nhân dân đ gii phóng min Nam, thng nht T quc. T min Bc, Ch tch H Chí Minh cùng Trung ương Đảng ngày đêm tập trung sc lc, trí tu, ch đo cuc đu tranh ca nhân dân min Nam.Người tin tưởng: “Cuc chng M, cứu nước ca nhân dân ta dù phi kinh qua gian kh hy sinh nhiều hơn nữa, song nht đnh thng lợi hoàn toàn. Đó là mt điu chc chn”(4). Cuc kháng chiến chng M, cứu nước thng li, Bc - Nam sum hp một nhà, đất nước đc lp, thng nht, khát vng cứu nước, gii phóng dân tc ca Nguyn Ái Quc - H Chí Minh đã thành hin thc.

           *   *

             *

T khi ra đi tìm đường cứu nước, gii phóng dân tc (1911), đến khi v cõi vĩnh hng (1969) vi s cng hiến, hy sinh c cuc đi mình cho dân tc, Người đã hoàn thành s mnh lch s cao c, đáp ng khát vng gii phóng dân tc ca nhân dân Vit Nam.Ngày 5/6/1911 tr thành mt du mc đc bit quan trng không ch trong cuc đi hot đng cách mng ca Ch tch H Chí Minh, mà còn là đi vi c dân tc ta. Khát vng cháy bng của Người“là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn t do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được hc hành”(5) đã được Đng Cng sn Việt Nam do Người sáng lp và rèn luyn thc hiện hơn 90 năm qua.

-------------------

(1)H Chí Minh: Biên niên tiu s, Nxb Chính tr quc gia, Hà Ni, 1993, tp 1, tr.45.

(2)Tìm hiu mt s vn đề trong tư tưởng ca Ch tch H Chí Minh, Nxb S tht, Hà Ni, 1982, tr.14.

(3)H Chí Minh Toàn tp, Nxb Chính tr quc gia, Hà Ni, 2011, tp 2, tr.296.

(4)H Chí Minh: Toàn tp, Sđd, tp 15, tr.618.

(5) H Chí Minh Toàn tp, Sđd, tp 4, tr.187.

 

 

 

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website