Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Cuộc đời, sự nghiệp
  • Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
  • Tủ sách điện tử Hồ Chí Minh
  • Hồ Chí Minh và thế giới
  • Học và làm theo Bác
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Cuộc đời, sự nghiệp
    • Tiểu sử Hồ Chí Minh
    • Biên niên Tiểu sử Hồ Chí Minh
  • Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    • Nguồn gốc hình thành
    • Nội dung tư tưởng, đạo đức
    • Nghiên cứu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
  • Tủ sách điện tử Hồ Chí Minh
    • Tác phẩm về Hồ Chí Minh
      • Tác phẩm trong nước
      • Tác phẩm nước ngoài
    • Những bài báo của Hồ Chí Minh
    • Tác phẩm của Hồ Chí Minh
      • Hồ Chí Minh toàn tập
      • Hồ Chí Minh tuyển tập
      • Tác phẩm của Hồ Chí Minh
      • Giới thiệu tác phẩm
  • Hồ Chí Minh và thế giới
    • Hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh
    • Bạn bè quốc tế với Hồ Chí Minh
  • Học và làm theo Bác
    • Di chúc
    • Văn bản
    • Học và làm theo Bác
mic
Thứ bảy, 21/03/2026 - 05 : 09 : 31
Trưởng thôn gương mẫu “nói đi đôi với làm”Mới Tuổi trẻ công an xung kíchMới “Bông hồng thép” ngành Kiểm sátMới Lan tỏa giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh từ những không gian văn hóaMới Lan tỏa tinh thần học và làm theo BácMới Đưa việc học và làm theo Bác vào cuộc sốngMới Tỉnh ủy Đồng Nai tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chuyên đề năm 2026 Tận tụy, sáng tạo vì người bệnh Chăm lo cuộc sống ấm no cho nhân dân Tàu CSB 6001 (Vùng Cảnh sát biển 2) khắc ghi lời Bác dạy - vững tay lái giữa trùng khơi Khắc ghi lời Bác lá phiếu, niềm tin Học và làm theo lời Bác ở quê hương cội nguồn Cách mạng Cao Bằng
Tác phẩm của Hồ Chí Minh
  • Hồ Chí Minh toàn tập
  • Hồ Chí Minh tuyển tập
  • Tác phẩm của Hồ Chí Minh
  • Giới thiệu tác phẩm
Hồ Chí Minh tuyển tập (1919 - 1945) - Tập 1 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
Hồ Chí Minh tuyển tập (1919 - 1945) - Tập 1 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
Ngày xuất bản: 04/11/2025
Đã xem: 10198 lượt xem
Mục lục
Trang bìa

HỒ CHÍ MINH

TUYỂN TẬP 

 

 

 

 

 

1

(1919 – 1945)

(Xuất bản lần thứ ba)

 

  

 

 

 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Hà Nội – 2002

 

 

 

 

 

     
    Lời giới thiệu Hồ Chí Minh tuyển tập

     

      LỜI GIỚI THIỆU

    HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP  

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều hiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại…

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” 1 .

    Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thế kỷ XXI văn kiện Đại hội IX viết: “Toàn Đảng nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".

    Thực hiên chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xuất bản lần thứ ba, sách Hồ Chí Minh Tuyển tập, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tích cực khẩn trương, hoàn chỉnh bản thảo, để chào mừng kỷ niệm lần thứ 112 năm sinh của Người. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bộ sách quý: Hồ Chí Minh Tuyển tập.

    Hồ Chí Minh tuyển tập được chia thành ba tập bao gồm những bài nói, bài viết, tác phẩm, báo cáo, diễn văn, lời chúc, lời kêu gọi, điện văn, thư... (từ đây xin được viết gọn là các bài và tác phẩm) quan trọng của Hồ Chí Minh từ năm 1919 đến năm 1969, được tuyển chọn từ bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 2000.

    Tập 1 : Các bài và tác phẩm từ năm 1919 đến năm 1945.

    Tập 2: Các bài và tác phẩm từ năm 1945 đến năm 1954.

    Tập 3: Các bài và tác phẩm từ năm 1954 đến năm 1969.

    Mặc dù là tuyển tập nhưng nội dung sách vẫn thể hiện một cách có hệ thống những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    *

    *    *

    Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam bị biến thành thuộc địa của thực dân Pháp. Không cam chịu kiếp sống nô lệ, nhân dân Việt Nam liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống xâm lược Pháp và phong kiến tay sai phản động. Các cuộc đấu tranh theo những xu hướng khác nhau nổ ra ở khắp Bắc - Trung - Nam nhưng tất cả đều bị dìm trong bể máu. Tình hình đất nước đen tối như không có đường ra.

    Với tư tưởng "không có gì quý hơn độc lập tự do", năm 1911 Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Người đã để ra gần 10 năm vừa làm thợ kiếm sống vừa tiến hành cuộc khảo sát thực tế khắp các châu lục, từ nhiều nước tư bản, thực dân đế quốc đến các nước thuộc địa. Đến khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa và tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí Minh khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo với mục tiêu độc lập dân tộc, người cày có ruộng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

    Hồ Chí Minh cho rằng giải phóng dân tộc gắn bó chặt chẽ với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

    Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh qua các thời kỳ, trên tất cả mọi lĩnh vực. Hồ Chí Minh chỉ rõ các bài và tác phẩm của Người chỉ có một "đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa” 2 .

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện quy luật phát trển của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững, phát huy những thành quả đã giành được trong cách mạng giải phóng dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX trong khi trình bày nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội".

    Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, để giữ vững và phát huy thành quả cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kết hợp chặt chẽ việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Là người khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng việc tổng kết những bài học từ sự nghiệp mới mẻ đó. Văn kiện Đại hội IX viết: 15 năm đổi mới (1986-2000) đã cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu lên vẫn còn có giá trị lớn mà bài học đầu tiên là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” 3 .

    Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đang được Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam quán triệt, vận dụng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Hồ Chí Minh đặt vấn đề: "Muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết phải biết chủ nghĩa xa hội là gì?. "Theo Hồ Chí Minh "chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh", “mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do”, là công bằng hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng, những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom...

    Hồ Chí Minh là người đầu tiên chỉ rõ trong sự nghiệp xây dựng đất nước, chúng ta phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với năm loại hình kinh tế khác nhau:

    - Kinh tế quốc doanh,

    - Kinh tế hợp tác xã,

    - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thợ thủ công,

    - Kinh tế tư bản tư nhân,

    - Kinh tế tư bản nhà nước.

    Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong năm loại ấy để cho nền kinh tế nước ta "phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội” chứ không chệch theo hướng tư bản chủ nghĩa cần phải làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Để đạt được mục tiêu đó, sự phát triển kinh tế văn hoá phải gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

    Các bài và tác phẩm trong Hồ Chí Minh tuyển tập thể hiện những quan điểm cơ bản của Người về việc xây dựng những nhân tố chủ yếu bảo đảm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

    Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” Người chỉ rõ: "Trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công". Để có đảng vững mạnh, làm tròn vai trò tiên phong của mình, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin - chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất, khoa học nhất - làm cốt, làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; cán bộ đảng viên phải tiền phong gương mẫu, hy sinh tận tụy, gắn bó mật thiết với nhân dân. Chỉ có như vậy Đảng mới là "một đảng to lớn, vững mạnh, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để". Thiên tài của Hồ Chí Minh là ở chỗ khi chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý cách mạng của thời đại còn xa lạ với nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới, Người đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa ấy với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, đặc biệt là trong điều kiện đảng cầm quyền là một cống hiến vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong các đảng cộng sản cầm quyền, Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm đảng phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

    Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm công tác xây dụng đảng, chỉnh đốn đảng. Tầm quan trọng, tính cấp bách của công tác chỉnh đốn đảng thường được Người nhấn mạnh, coi là việc "trước hết", “trước tiên", “việc chính", việc cần kíp”, "việc phải làm ngay".

    Quan điểm cách mạng trước hết phải có đảng, phải đặc biệt coi trọng công tác chỉnh đốn đảng được Hồ Chí Minh đề cập sâu sắc trong Di chúc. Trong mấy lời, mấy việc Người dặn lại trước lúc đi xa thì "trước hết nói về Đảng" và "việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng".

    Trung thành với sự chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng ta trong những năm đổi mới đều rất coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng. Điều này được thể hiện tập trung trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương sáu lần hai (khoá VIII).

    Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mục tiêu hàng đầu trong tư duy lý luận và hoạt đông thực tiễn của Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn dân trong mặt trân dân tộc thống nhất để kháng chiến và kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Hồ Chí Minh "không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Vai trò chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân được Hồ Chí Minh đúc kết trở thành chân lý, chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng lực lượng cách mạng ở Việt Nam:

    "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

    Thành công, thành công, đại thành công".

    Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Hồ Chí Minh tập trung tìm kiếm, vun trồng những điểm tương đồng trong dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng tất cả mọi người sống trên đất nước Việt Nam đều là con Lạc cháu Hồng, con dân nước Việt, con Rồng cháu Tiên, đều có một điểm chung: "Ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”. Hồ Chí Minh chỉ rõ mục tiêu và đối tượng của đoàn kết: "Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ". Để không một người Việt Nam nào nằm ngoài khối đại đoàn kết toàn dân, Hồ Chí Minh thông qua việc đề cao cái chung, coi trọng trước hết cái chung, gắn cái riêng với cái chung và nên có lòng bao dung độ lượng bởi: "năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ".

    Đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công nông vững chắc bởi "công nông là gốc cách mạng". Trong khối đại đoàn kết toàn dân, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của trí thức và sự gắn bó giữa công, nông, trí. Người đòi hỏi, trong quá trình cách mạng “ công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối". Theo Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết toàn dân bao gồm tất cả các giai cấp, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không phải là một tập hợp ngẫu nhiên lỏng lẻo mà phải được tổ chức thành Mặt trận dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương pháp để đi đến đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là vận động, thuyết phục, nêu gương. Người đòi hỏi cán bộ đảng viên "cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

    Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, cùng với tấm gương trân trọng nâng niu, giữ gìn sự đoàn kết của Người thực sự trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, vững chắc ở nước ta. Tư tưởng và tấm gương đó luôn được Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam học tập vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Điều này được chứng minh ở chủ đề của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

    Với Hồ Chí Minh, đoàn kết tập hợp lực lượng là để đấu tranh giành độc lập tự do, để xây dựng đất nước và bảo vệ vũng chắc những thành quả cách mạng đã giành được. Vì vậy, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chủ Minh thì tư tưởng của Người về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chiếm vị trí rất quan trọng và có những điểm đặc sắc, độc đáo.

    Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tư tưởng nhất quán ở Hồ Chí Minh là “cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền". Bởi vì: "Chế độ thực dân tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”. Phù hợp với quan điểm mácxít chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quân sự phải phục tùng chính trị, quân sự không có chính trị như cây không có gốc.

    Từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh cho rằng bạo lực cách mạng bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân và sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. Người đòi hỏi tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, để giành thắng lợi cho cách mạng.

    Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân là toàn dân đánh giặc, toàn dân kháng chiến với tất cả mọi thứ vũ khí, phương tiện có trong tay. Năm 1946, toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng sung. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước". Phương châm ấy được Người tiếp tục phát triển trong những năm chống Mỹ: "31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền bất kỳ già, trẻ, gái trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước". Hồ Chí Minh cho rằng dân khí mạnh thì quân thù nào, vũ khí nào cũng không chống lại nổi. Với tư tưởng ấy trong xây dựng căn cứ địa và hậu phương chiến tranh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Căn cứ hậu phương vững chắc nhất là lòng dân".

    Tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang là: từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xây dựng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ làm nòng cốt cho lực lượng chính trị toàn dân và nền quốc phòng toàn dân. Sự phong phú, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân được thể hiện nổi bật qua đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, kháng chiến đi đôi với kiến quốc, hậu phương thi đua với tiền phương... Chính sự phong phú, sáng tạo ấy là nhân tố hàng đầu tạo nên những thắng lợi lịch sử của Cách mạng Tháng Tám 1945 và đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

    Bước sang thế kỷ XXI, tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân tiếp tục soi đường chỉ lối cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX viết: "Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng" 4 .

    Chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Các bài và tác phẩm trong Hồ Chí Minh Tuyển tập cho thấy những quan điểm cơ bản và sự chăm lo của Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước kiểu mới về mọi mặt.

    Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt chi phối mọi hoạt động của Hồ Chí Minh về nhà nước là xây dựng một nhà nước dân chủ - nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của dân ta, dân chủ có nghĩa là dân làm chủ, trong một nhà nước dân chủ, người dân được đặt ở vị trí tối thượng. Hồ Chí Minh viết:

    “Nước ta là nước dân chủ.

    Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

    Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…

    Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra".

    Hồ Chí Minh cho rằng quá trình xây dựng nhà nước dân chủ không thể tách rời việc thực hiện chuyên chính đối với âm mưu và hành động của các thế lực thù địch tìm cách chống phá Nhà nước ta. Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khoá, cái cửa đề phòng kế phá hoại, nếu hòm không có khoá, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khoá, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ lấy dân chủ”. Hồ Chí Minh còn đòi hỏi dân chủ phải gắn với kỷ cương, quyền lợi công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

    Đối với Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước vấn đề có tính nguyên tắc phải tuân thủ là đi đôi với việc giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, cần coi trọng tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.

    Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ và sáng suốt. Người đòi hỏi nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật và mọi công dân đều sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Đối với Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, việc đề cao pháp quyền gắn bó chặt chẽ với tăng cường giáo dục đạo đức.

    Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đức, có tài, am hiểu pháp luật thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ để cho "các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đày tớ của nhân dân".

    Đối với Hồ Chí Minh xây phải đi đôi với chống. Để có được một nhà nước trong sạch vững mạnh, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải chống những tiêu cực như quan lieu, tham ô, lãng phí... nảy sinh trong bộ máy nhà nước và từ cán bộ công chức.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước. Đó còn là những kết quả, những kinh nghiệm mà Hồ Chí Minh đã rút ra được qua mấy chục năm trên cương vị đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới. Tư tưởng đó đã và đang chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng Nhà nước ta.

    Từ một người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh chăm chú tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về chủ nghĩa quốc tế. Theo Hồ Chí Minh có những lời mà hàng triệu người nhắc đi nhắc lại hàng triệu lần vẫn luôn luôn thích hợp và không bao giờ thừa. Một trong số những lời đó là khẩu hiệu lịch sử do Mác - Ăngghen nêu lên: "Vô sản tất cả các nước, liên hợp lại".

    Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam là một bộ phận của thế giới, tình hình trên thế giới liên quan chặt chẽ tới Việt Nam và ngược lại. Đây là cơ sở để Hồ Chí Minh nêu cao chủ trương và kiên trì thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mỗi người Việt Nam cần phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cho rằng sự đoàn kết giúp đỡ quốc tế là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Vấn đề đoàn kết quốc tế của Việt Nam được Hồ Chí Minh đề cập với nhiều bình diện, cấp độ rất phong phú: đoàn kết với nhân dân các nước thuộc địa; đoàn kết giữa cách mạng giải phóng thuộc địa với cách mạng ở chính quốc; đoàn kết với cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ; đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa; đoàn kết với các lực lượng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ; đoàn kết với các nước trong khu vực… Với mỗi đối tượng, lực lượng nêu trên, Hồ Chí Minh đều có chủ trương, biện pháp để hạn chế sự khác biệt, bất đồng, tranh thủ tìm kiếm mọi sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với Việt Nam.

    Với phương châm "giúp bạn là tự giúp mình", Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm tranh thủ đến mức cao nhất sự ủng hộ giúp đỡ quốc tế mà Người còn chủ trương nhân dân Việt Nam phải làm hết sức mình cho các mục tiêu cách mạng của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    Tư tưởng Việt Nam sẵn sàng "làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai", do Hồ Chí Minh nêu lên cách đây hơn nửa thế kỷ, đang được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng trong thế kỷ XXI. Văn kiện Đại hội IX viết: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".

    Các bài và tác phẩm trong Hồ Chí Minh Tuyển tập cho thấy Hồ Chí Minh là một lãnh tụ rất quan tâm và bàn nhiều đến đạo đức, đạo đức cách mạng. Quan niệm về đạo đức cách mạng đã được Hồ Chí Minh nêu lên một cách toàn diện, sâu sắc. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là "suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng", "tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân", “hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Với quan niệm đó, Hồ Chí Minh dạy: sông phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm gốc, làm nền tảng mới hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, suốt đời mình Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên có được những phẩm chất đạo đức cách mạng cơ bản: trung với nước, hiếu với dân; thương yêu quý trọng con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người viết trong Di chúc: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", và "phải chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên".

    Đối với Hồ Chí Minh, nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh những người sa vào chủ nghĩa cá nhân khi làm "bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân", "tự cho mình cái gì cũng giỏi”, “không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng", Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: tham ô, lãng phí, tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao, tự đại, bè phái, độc đoán, chuyên quyền… Do đó, “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân". Hồ Chí Minh lưu ý mọi người đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Tính hoàn chỉnh của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở chỗ Người đã chỉ ra những nguyên tắc, phương pháp xây dựng, rèn luyện để có được đạo đức mới, đạo đức cách mạng: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".

    Nét đặc sắc của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là luôn có sự gắn bó giữa đạo đức với chính trị, đạo đức và tài năng, đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, lời nói với việc làm. Hồ Chí Minh tự mình là tấm gương sáng nhất, trọn vẹn nhất tư tưởng đạo đức do mình nêu lên. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tấm gương đạo đức của Người có sức sống mãnh liệt, được các thế hệ và mọi người Việt Nam, trước hết là cán bộ, đảng viên học tập, vận dụng và nêu cao. Văn kiện Đại hội IX viết: "Môi cấp uỷ, mỗi chi bộ có kế hoạch định kỳ kiểm điểm việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân".

    Theo Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc, đưa đất nước đến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là một quá trình khó khăn lâu dài, "đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo, làm thì phải xong". Vì vậy, sự quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

    Tư tưởng chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trở thành chiến lược "trồng người” qua câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người".

    Trong tư tưởng và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn hướng vào mục tiêu tất cả do con người, vì con người "vô luận việc gì, đều do con người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả".

    Trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đều coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".

    Chiến lược "trồng người" của Hồ Chí Minh trở nên hoàn chỉnh, có ý nghĩa lâu dài đối với cách mạng Việt Nam, khi Người viết trong Di chúc: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết".

    Các bài và tác phẩm trong Hồ Chí Minh Tuyển tập thể hiện đậm nét cuộc đời sự nghiệp của một danh nhân văn hoá. Hồ Chí Minh đi vào văn hoá trở thành danh nhân văn hoá thế giới bởi Người sớm đề xuất những quan điểm văn hoá đúng đắn, sáng tạo và có những đóng góp xuất sắc trong hoạt động văn hoá.

    Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh đã trình bày sáng tỏ quan niệm về văn hoá và nêu lên những đặc điểm của văn hoá dân tộc. Trước hết văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Mục tiêu hàng đầu của Hồ Chí Minh là giành lại cuộc sống làm người, cuộc sống có văn hoá cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Hồ Chí Minh sớm có ý thức về động lực to lớn của văn hoá trong phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc. Ngay sau Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Người nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Đối với Hồ Chí Minh, sự thịnh, suy của đất nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế phụ thuộc phần lớn vào văn hoá.

    Với Hồ Chí Minh việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế và văn hoá. Trước khi qua đời, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta: "Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân". Cũng với quan điểm văn hoá là động lực của sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh nói văn hoá soi đường cho quốc dân đi, văn hoá có tác động sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ.

    Để văn hoá đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh cho rằng việc giữ vững bản sắc cốt cách, truyền thống văn hoá dân tộc cần gắn bó chặt chẽ với tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Hồ Chí Minh là hiện thân của sự kết hợp giao lưu văn hoá dân tộc và nhân loại, phương Đông và phương Tây.

    Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá là quan điểm của Người cho rằng văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, người hoạt động văn hoá nghệ thuật là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Người nói: cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ lịch cách mạng, kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến.

    Theo Hồ Chí Minh, "nền văn hoá Việt Nam có các tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng". Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền văn hoá có "nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc".

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá là kim chỉ nam cho việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Văn kiện Đại hội IX nhấn mạnh: "Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội".

    Thắng lợi của cách mạng không chỉ do tư tưởng, đường lối đúng đắn, sáng tạo mà còn đòi hỏi phải có phương pháp cách mạng thích hợp. Là lãnh tụ cách mạng vĩ đại, Hồ Chí Minh là bậc thầy của phương pháp cách mạng Việt Nam. Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là sự vận động của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, là hệ thống các cách thức, biện pháp, phương tiện, quy trình để hướng dẫn, điều chỉnh hành động của các lực lượng cách mạng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo phương pháp cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa, phát triển lên một tầm cao mới phương pháp dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam phù hợp với thời đại ngày nay.

    Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là một hệ thống được thể hiện đa dạng, phù hợp với các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau của cách mạng Việt Nam. "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" thể hiện tính đặc sắc, độc đáo của phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh. Với Hồ Chí Minh, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, nói cách khác độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bất biến. Để đạt được mục tiêu đó phải biết ứng biến, linh hoạt mềm dẻo, uyển chuyển, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể. Với phép biện chứng của sáng tạo cách mạng, Hồ Chí Minh đòi phải biết ứng biến nhưng không được từ bỏ nguyên tắc cách mạng xa rời cái bất biến.

    Với những nội dung cơ bản và phong phú nêu trên, Hồ Chí Minh Tuyển tập, xuất bản lần thứ ba là một bộ sách kinh điển quý báu, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Đảng ta và dân tộc ta.

    Hơn 70 năm qua, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay dân tộc Việt Nam tiếp tục vững bước tiến vào thế kỷ XXI dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Bước sang thế kỷ XXI, việc học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành đòi hỏi, nhu cầu cơ bản, thường xuyên của mỗi người Việt Nam. Hồ Chí Minh Tuyển tập ra đời góp phần đáp ứng yêu cầu đó. Đọc Hồ Chí Minh Tuyển tập, mỗi chúng ta sẽ tăng thêm lòng tin, niềm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Hồ Chí Minh Tuyển tập là một công trình khoa học của tập thể các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, dưới sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Hội đồng xuất bản Hồ Chí Minh Tuyển tập. Song do khối lượng công việc lớn, phải hoàn thành trong một thời gian ngắn và do trình độ hạn chế của tập thể tác giả, chắc chắn bộ sách không tránh khỏi những thiếu sót.

    Nhân dịp Hồ Chí Minh Tuyển tập xuất bản lần thứ ba được công bố, Hội đồng xuất bản cám ơn các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu các cộng tác viên, biên tập viên đã khắc phục khó khăn để bộ sách quý kịp đến với bạn đọc.

    HỘI ĐỒNG XUẤT BẢN

    HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP   

    Lời giới thiệu tập 1

     

     LỜI GIỚI THIỆU TẬP 1  

    Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 1, xuất bản lần thứ ba, bao gồm những tác phẩm, bài viết và nói quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lựa chọn từ ba tập 1, 2, 3 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000.

    Mở đầu tập sách là bài Tâm địa thực dân, viết ở Pháp năm 1919, kết thúc là bản Tuyên ngôn độc lập, viết tại Thủ đô Hà Nội, mùa thu năm 1945. Nội dung tập sách phản ánh quá trình chuyển biến trong tư tưởng của Người từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội khoa học, đánh dấu bước nhảy vọt ở Nguyễn Ái Quốc về quan điểm lý luận, về đường lối, phương pháp cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Tính đúng đắn của lý luận và đường lối cách mạng do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đề ra đã được thắng lợi của cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam chứng minh vào mùa thu năm 1945.

    Những bài và tác phẩm trong tập sách này còn phản ánh cuộc đời hoạt động vô cùng phong phú của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ khi ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc rồi về nước, trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn; trên nhiều cương vị: người dân mất nước, người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, thành viên của Quốc tế Cộng sản, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, vị Chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam độc lập. Thời gian hoạt động một phần tư thế kỷ (1919 -1945) của Hồ Chí Minh rất gian lao nhưng vô cùng oanh liệt, được khắc họa bằng những tư tưởng lớn, những luận điểm cách mạng sáng tạo của Người.

    Trước hết phải kể đến những bài và tác phẩm của Hồ Chí Minh về Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, về Lênin và Quốc tế Cộng sản. Có thể nói, chính những hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc đã đưa Người đến với Luận cương của Lênin, với Đảng Cộng sản Pháp, đến với đất nước của Lênin và trở thành thành viên của Quốc tế Cộng sản. Tiếp sau đó là những hoạt động sôi nổi phong phú của Người nhằm bảo vệ những tư tưởng của Lênin, của Quốc tế Cộng sản và tuyên truyền những tư tưởng ấy trong phong trào công nhân, phong trào yêu nước của các dân tộc thuộc địa. Trong nhiều bài và tác phẩm, Người đánh giá cao công lao của Lênin đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được". Trong bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, Người viết: "Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Về vai trò của Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự nghiệp giải phóng nhân loại, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải làm theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin". Trong nhiều tài liệu gửi Ban phương Đông và Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người đã trình bày về nguyện vọng và những điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao phó: "Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau ba tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc để tìm cách liên lạc với đất nước tôi".

    Các bài và tác phẩm trong tập 1 cho thấy, đối với Nguyễn Ái Quốc đầu những năm 20 của thế kỷ XX, sự tố cáo tội ác bọn thực dân và khám phá con đường đấu tranh để giải phóng các thuộc địa chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người đã bóc trần bản chất bóc lột, tham tàn của các “nhà khai hóa”, lên án “công lý" của bọn thực dân. Người nêu một luận điểm cực kỳ sâu sắc: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”.

    Không dừng lại ở việc tố cáo tội ác bọn thực dân, vạch mặt bọn phản dân hại nước, Người đã chỉ ra mối liên hệ giữa cách mạng giải phóng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc; chỉ ra sự liên minh chiến đấu tất yếu giữa nhân dân, giai cấp vô sản ở thuộc địa với nhân dân, giai cấp vô sản ở chính quốc vì mục đích giải phóng thuộc địa, giải phóng cả loài người khỏi ách áp bức của chủ nghĩa tư bản. Người đã cảnh báo tình trạng biệt lập giữa các quốc gia, sự thiếu lý luận cách mạng đang cản trở bước tiến của sự nghiệp giải phóng thuộc địa. Từ đó, Người sớm chỉ ra sự liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản ở phương Đông và phương Tây, giữa các nước phương Đông với nhau như là một điều kiện cần thiết cho công cuộc giải phóng thuộc địa, giải phóng giai cấp vô sản. Trong bài Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa, Người viết: “Làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản ở phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể đảm bảo cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng”. Về sự liên minh, hợp tác giữa các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc”. Đối với các dân tộc phương Đông, Người cho rằng giai cấp vô sản ở đây cần phải nhận thức đúng đắn về lý luận và phải thể hiện trên hành động thực tế là: “ Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cải cánh của cách mạng vô sản”. Đặc biệt sáng tạo là luận điểm của Hồ Chí Minh khẳng định vai trò tích cực và chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa trong quan hệ với cách mạng vô sản ở chính quốc: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.

    Không dừng lại ở mục tiêu giải phóng thuộc địa, các bài và tác phẩm trong tập sách này còn chỉ ra con đường phát triển tiếp theo của cách mạng giải phóng thuộc địa, đó là con đường cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới".

    Mục đích trước hết của Hồ Chí Minh là giải phóng đồng bào, giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột thực dân, phong kiến. Sau khi bắt gặp chân lý cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nghĩ ngay đến việc tìm đường về nước để tổ chức cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc. Trong bức thư chia tay bí mật với những người bạn cùng hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết: "Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta”… Từ đó, Người đặt vấn đề:

    “Chúng ta phải làm gì?

    Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc.

    Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta.

    Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập".

    Quyết định lịch sử ấy, ngay từ đầu đã toát lên tinh thần sáng tạo cách mạng vừa đáp ứng kịp thời đòi hỏi của cách mạng Việt Nam vừa khơi gợi cho bạn bè quốc tế cùng cảnh ngộ. Nhiệm vụ lịch sử ấy đối với dân tộc được Nguyễn Ái Quốc thực hiện trong nhiều năm, bắt đầu bằng những lớp huấn luyện cán bộ do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập, mở ra ở Quảng Châu (Trung Quốc). Thực chất những lớp huấn luyện chính trị này là sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước, là chuẩn bị đội ngũ cán bộ cách mạng đầu tiên, là quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

    Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930 là kết quả Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vạch ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện tuy vắn tắt nhưng chứa đựng khá đầy đủ những vấn đề chiến lược, sách lược cơ bản, xuyên suốt con đường cách mạng nước ta. Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Những văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất thông qua trở thành cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước, tạo ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam.

    Từ cuối những năm 20 đến giữa những năm 30, những người cộng sản Việt Nam được Quốc tế Cộng sản giúp đỡ rất nhiều. Nhưng do nhiều nguyên nhân, đã có lúc hoạt động của Quốc tế Cộng sản bị ảnh hưởng bởi đường lối “tả khuynh" biệt phái, đặc biệt là trên vấn đề quan hệ giai cấp - dân tộc. Tình hình đó không khỏi ảnh hưởng đến việc hình thành đường lối của những người cộng sản Đông Dương, gây khó khăn cho một số hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Vào những năm 1930-1940, tuy phải hoạt động bí mật ở nước ngoài, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chủ động giữ mối liên hệ với Quốc tế Cộng sản, với Đảng và phong trào cách mạng trong nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương. Những bức thư, báo cáo gửi Ban phương Đông, Ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản và gần 10 bức Thư từ Trung Quốc gửi về nước của Hồ Chí Minh (bút danh Lin, P.C Lin) đã chứng tỏ điều đó. Trong bối cảnh khó khăn của tình hình trong nước và quốc tế, từ nước ngoài Người đã bí mật liên hệ với Ban lãnh đạo của Đảng và trên cơ sở, đường lối đúng đắn của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (năm 1935), Người đã nêu ra mục tiêu, những hình thức đấu tranh phù hợp với tình hình lúc đó (1939): “Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi qúa cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.)... Chỉ nên đòi hỏi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp”.

    Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Việc quan trọng của Người sau khi về nước là chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng (5-1941), xác định nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là giải phóng dân tộc. Mặt trận Việt Minh ra đời nhằm tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh viết Kính cáo đồng bào: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng". Người khẳng định: "Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”. Để cụ thể hoá Nghị quyết Trung ương tám, Hồ Chí Minh viết nhiều bài và tác phẩm: Mười chính sách của Việt Minh, Lịch sử nước ta, Chiến thuật du kích…

    Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 1 tuyển chọn một số bài từ Nhật ký trong tù. Đây là những bài tiêu biểu phản ánh các mặt trí, nhân, dũng của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá trong một hoàn cảnh đặc biệt.

    Từ sau khi ra khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, trở về nước, Hồ Chí Minh cùng Đảng ta chuẩn bị tích cực mọi mặt cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Người ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, biên dịch tác phẩm Phép dùng binh của ông Tôn Tử… Tháng 10-1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa . Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!". Tháng 8-1945, khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh kêu gọi "Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi đã chứng minh rực rỡ tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ động của cách mạng thuộc địa được Người chỉ ra từ đầu những năm 20 thế kỷ XX.

    Tuyên ngôn độc lập, kiệt tác của Hồ Chí Minh, kết thúc tập 1 Hồ Chí Minh Tuyển tập. Hồ Chí Minh thay mặt toàn dân tộc tuyên bố trước toàn thế giới: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

    Những bài và tác phẩm của Hồ Chí Minh được chọn vào tập sách này còn phản ánh nhiều mặt khác trong tư tưởng của Người như về đoàn kết quốc tế, về văn hoá, đạo đức… và về cuộc đời hoạt động vô cùng gian lao, phong phú của Người trong thời gian gần một phần tư thế kỷ.

    Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, song Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 1, xuất bản lần thứ ba khó tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi mong được bạn đọc góp ý để lần xuất bản sau có chất lượng cao hơn.

    HỘI ĐỒNG XUẤT BẢN

    HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP  

    Năm 1919

    Năm 1919 (*)

    TÂM ĐỊA THỰC DÂN  

    Ít khi chúng tôi có dịp được đọc báo thuộc địa. Hôm nay, chúng tôi nhận được một số Courrier Colonial , đề ngày 27 tháng 6 vừa qua, tr ên đầu tờ này có đăng một bài dài hai cột, dưới cái đầu đề kích động là "GIỜ PHÚT NGHIÊM TRỌNG". Cái đầu đề kêu rỗng ấy , kêu như một lời hô hào cầm vũ khí, đã khiến chúng tôi phải đọc từ đầu chí cuối bài báo dài này để biết rõ lý do của tiếng kêu cầu cứu đó là gì. Chưa đọc hết cột thứ nhất, chúng tôi cũng đã gần thấy được mục đích của tác giả, và càng đọc tiếp - vừa đọc vừa mỉm cười - thì cảm tưởng đầu tiên của chúng tôi càng vững chắc lại. Cảm tưởng của chúng tôi tóm lại là: một chàng thực dân đã muốn dùng bản Yêu sách của nhân dân An Nam 2 để mở một cuộc tấn công gián tiếp vào chính sách của ông Anbe Xarô, toàn quyền Đông Dương, một cuộc tấn công mà anh ta đã chú ý tô điểm bằng những lời phản đối có tính chất yêu nước, bằng lòng yêu chuộng chân lý, bằng tinh thần hy sinh và tận tuỵ vì lợi ích chung, vân vân, vân vân.   

    Phân tích một vài đoạn trong bài báo, chúng ta sẽ thấy được chàng ta hiểu chủ nghĩa yêu nước, chân lý và lợi ích chung của nước Pháp như thế nào.  

    Ông Camilơ Đơvila khao khát cái danh hiệu người yêu chuộng chân lý trong thế giới này và trong thế giới bên kia. Lòng khao khát ấy là chính đáng và hợp lý, chúng tôi vui lòng thừa nhận như vậy. Nhưng mong ông cho phép chúng tôi chỉ cho ông thấy rằng cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý của chúng tôi, chân lý mà sau này chúng tôi sẽ nói sơ qua đến, cũng như không có gì là giống với chân lý theo quan niệm của những người Pháp tốt ở nước Pháp cả. Sở dĩ chúng tôi nhận xét một cách lịch sự như vậy, là nhằm tỏ thái độ tôn trọng quyền tự do ngôn luận.   

    Trước hết, chúng tôi thấy trong bài báo nói về vấn đề đó, cái câu ám chỉ có ác ý là "ngay ngày hôm sau ông Anbe Xarô đặt chân trở về đất nước Pháp, thì những nhà ái quốc An Nam lập tức bác bỏ những lời tuyên bố lạc quan của ông".  

    Chúng tôi không được biết bài diễn văn mà ông Đơvila đã ám chỉ, chúng tôi không bàn về bài diễn văn ấy. Nhưng ngay từ bây giờ chúng tôi cũng có thể nói rằng, dù sao đi nữa thì tám điểm của bản Yêu sách của nhân dân An Nam không nói ngược lại chút nào những ý kiến của ông Anbe Xarô, người đã tuyên bố trong tất cả những diễn văn của mình đọc trước những người bản xứ rằng mình kiên quyết muốn mở ra cho họ một kỷ nguyên tự do và công lý. Vì những lời hứa hẹn của ông phù hợp với những yêu sách của chúng tôi, nên ngay khi được biết tin ông trở về Pháp chúng tôi vội vã gửi đến ông bản ghi những yêu sách của chúng tôi. Trong lúc chờ xem chính sách của ông đáp ứng được đến mức độ nào những nguyện vọng của chúng tôi, chúng tôi vui lòng thừa nhận rằng đã nhiều lần ông ta phát biểu để bảo vệ những người bản xứ, chống lại sự áp bức của những tên thực dân độc ác và sự chuyên chế của những tên viên chức tàn bạo, bất chấp những đòn công kích của một chiến dịch vừa đáng ghét vừa nham hiểm của báo chí, một chiến dịch không giấu kín được tính phản nghịch của nó bằng những lời nguỵ biện về uy tín và bằng những lý lẽ giả dối về lợi ích chung.

    Chúng tôi đã nhấn mạnh những chữ những tên thực dân độc ác và những viên chức tàn bạo , vì chúng tôi biết rằng có những người thực dân chính trực và những viên chức công bằng. Khốn nỗi, họ còn lâu mới là đa số, thậm chí còn đang sợ rằng họ là một thiểu số rất nhỏ nữa.  

    Rồi ông Đơvila chép lại tám yêu sách của người An Nam, và kèm theo yêu sách thứ ba - tự do báo chí và ngôn luận - ông đưa ra nhận xét này: mà bản thân chúng ta cũng không được hưởng , và kèm theo yêu sách thứ bảy - thay chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật- ông đưa ra nhận xét này: hệt như ở nước ta .  

    Cũng vậy thôi, tính giả dối cũng không được che đậy kín đáo gì hơn. Chúng tôi xin phép hỏi ông Đơvila rằng phải chăng ông coi độc giả của ông là những người quá ư ngu ngốc, khi ông định dùng cái lối bình luận quỷ quyệt đó để làm cho họ lẫn lộn tình trạng hoàn toàn và vĩnh viễn không có quyền tự do tư tưởng với sự kiểm duyệt, tức là một tình trạng hoàn toàn có tính chất tạm thời và chỉ nhằm một vài loại tin tức thôi. Còn về việc thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật, thì chúng tôi không hiểu tại sao ông Đơvila lại sợ việc ấy đến thế, vì những người trong sạch thì không việc gì phải sợ sự kiểm soát của ai cả, ngay cả sự kiểm soát của Nghị viện nữa.

    Lời trách cứ nặng nhất của ông Đơvila đối với những nhà ái quốc An Nam là đã phát biểu trực tiếp với nhân dân Pháp và với nền Công lý thế giới của tất cả các cường quốc. Chúng tôi sẵn sàng thừa nhận với ông rằng những người An Nam đã đi vào một trường hợp hoàn toàn đáng xử giảo, khi không nhờ đến một nhà thực dân cỡ ông làm trung gian. Thừa nhận như vậy rồi, chúng tôi xin chép lại nguyên văn cái câu mà ông cho là khó hiểu, câu đó như sau: "Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Pháp cao cả, tức là của những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, của những người, do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hoà, nên được coi là những người bảo hộ cho nhân dân An Nam".  

    Chúng tôi không dám giải thích cho ông Đơvila rằng, thế nào là một nước Cộng hoà, vì môn sư phạm không phải là sở trường của chúng tôi, nhưng vì ông tìm cách bẻ quẹo một câu minh bạch như vậy, nên chúng tôi tự hỏi không biết có phải ông đã có danh dự được làm bồi bếp trong một nhà bếp nhà vua nào đó chăng.

    Và bây giờ khi mà ông Đơvila tự hỏi rằng trách nhiệm ở đâu, thì chúng tôi phải nói trắng ra với ông rằng cần tìm trách nhiệm, không phải ở chính sách của ông Xarô mà ở tình hình thảm hại mà người ta đã để lại cho ông Xarô. Nếu sau một nửa thế kỷ sống dưới sự thống trị của nước Pháp mà nhân dân An Nam rút cuộc lại phải đi xin vài bảo đảm cá nhân và vài quyền tự do mà tất cả những nước láng giềng của mình đều được hưởng, thì điều đó không phải là tại ông Xarô thân dân bản xứ, mà điều đó có nguyên nhân sâu xa hơn nữa, đó là do chính sách bóc lột và ngu dân mà ông Đơvila và bè phái tuyên truyền, chứ không phải của ông Xarô.  

    A, bây giờ chúng tôi đã nắm được động cơ của những đòn công kích ông Xarô rồi. Ông Xarô bị công kích vì ông thân dân bản xứ.  

    Ông Đơvila nhắc nhở rằng những người đã có kinh nghiệm ở Đông Dương đã cố công khuyên ông Xarô, nhưng ông Xarô không chịu nghe họ. Theo ngôn ngữ của những tên thực dân độc ác, thứ kinh nghiệm ở Đông Dương có nghĩa là kinh nghiệm trong nghệ thuật bóc lột, cướp bóc người bản xứ, kinh nghiệm sống bằng mồ hôi của người bản xứ. Ông Xarô đã khinh bỉ không thèm nghe lời bọn cố vấn vụ lợi ấy, điều đó cũng dễ hiểu.  

    Cái câu trong tờ Le Courrier d'Haiphong 3 mà ông Đơvila dẫn ra và tuyên bố rằng, câu đó là có tính chất tiên tri (sic) xác nhận tất cả những điều mà chúng tôi vừa nói, nguyên văn câu đó như sau:

    "Chính sách ấy (chính sách thân dân bản xứ) của ông Xarô chỉ có thể tiến hành được bằng cách hy sinh lòng tự tôn và những quyền lợi của những người Âu ở nước này, vì chính sách đó chỉ nhằm làm cho những dân bản xứ thành những người bình đẳng với chúng ta, rồi nhanh chóng trở thành chủ chúng ta".  

     Kết luận: đối với dân bản xứ, thì phải giữ họ vĩnh viễn trong cảnh nô lệ. Chúng tôi thiết tưởng rằng, những người Pháp thông minh và chân thực biết tỏ tính ưu việt tự nhiên của mình ở bất cứ nơi nào mình sống, thì không cần phải sống giữa những người bản xứ vĩnh viễn bị khoá mồm bịt miệng và bị xỏ mũi, mới có thể giữ được tính ưu việt đó.  

    Sau cùng, ông Đơvila cho rằng mình biết rõ là một đảng độc lập đã xuất hiện và đảng này đã vượt qua đầu ông Xarô để phát biểu với nhân dân Pháp và với các cường quốc mà họ muốn nói với tư cách bình đẳng với nhau. Ông nói thêm rằng: đây là một giấc mơ và từ giấc mơ này ông thấy nguồn gốc của sai lầm mà ông Anbe Xarô phạm phải là năm 1913 ông Anbe đã dạy cho người An Nam biết rằng nước Đức đã chiếm Andátxơ - Loren của nước Pháp năm 1871.  

    Nếu có một đảng độc lập tồn tại, thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do, mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ. Chúng tôi thử làm yên lòng ông Đơvila bằng cách nói rằng, Đảng của chúng tôi nói với nhân dân Pháp, cũng là nói cả với ông Đơvila.  

    Cuối cùng, ông Đơvila không thể không biết về mặt quốc tế, khi người ta nói bình đẳng với nhau, người ta dùng con đường ngoại giao, chứ không phải bằng con đường thỉnh cầu. Vậy thì giấc mơ đẹp mà người ta kiêu hãnh đã tìm thấy chìa khóa, tự nó đã tan tành.  

    Chúng tôi để cho ông Đơvila với một giấc mơ khác, giấc mơ làm cho dân An Nam quên đi rằng chỉ với nửa số những luật dân sự mà trước kia những người Andátxơ - Loren có được dưới sự thống trị của Đức, thì dân An Nam cũng sẽ đỡ khổ hơn rất nhiều. Đúng vậy, theo ý nghĩa đó thì việc so sánh Andátxơ - Loren Phổ hoá với Đông Dương Pháp hóa dĩ nhiên là hại.                                                                                

     

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr.1-5.
    ____________

    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
     

     

     

     

    VẤN ĐỀ DÂN BẢN XỨ

    Báo L'Humanité ngày 18-6 mới đây đã đăng văn bản thỉnh cầu của những người An Nam gửi Hội nghị Hoà bình 5 đòi ân xá cho tất cả các tù chính trị người bản xứ, đòi cải cách pháp chế ở Đông Dương bằng ban hành những bảo đảm cho người bản xứ cũng như cho người Âu, đòi tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật; và sau cùng, đòi có một đoàn đại biểu thường trực của dân bản xứ, được bầu vào Nghị viện Pháp. Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời đại mà ý muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết.

    Nước Pháp đã từng bắt đầu đánh chiếm Đông Dương gần như cùng thời gian mà nước Nhật đi những bước đầu tiên trong cuộc cải cách nổi tiếng năm 1868. Nhưng trong khoảng một nửa thế kỷ, nước Nhật đã biết tạo lập được một chế độ đưa nó vào hạng những cường quốc đứng đầu thế giới; còn nước Pháp thì phải nói rằng vẫn đang mò mẫm trong chính sách Đông Dương của mình. Thậm chí có thể tự hỏi đã từng có một chính sách Đông Dương bao giờ chăng? - Vì lẽ từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác, không hề biết chính quyền muốn dẫn mình đi đến đâu, - chính quyền này khi thì nói về chính sách đồng hóa, khi thì nói về chính sách liên hiệp hoặc gì khác nữa, nhưng thật ra chẳng áp dụng một chính sách nào cả. Tình hình đích thực là như sau: nay cũng như trước kia, kẻ chinh phục và nhân dân bị chinh phục đều sống mặt đối mặt, trong một không khí nghi kỵ lẫn nhau. Bức tranh ảm đạm này đáng được quan tâm, được xét về một số mặt khác nhau.

    Về tâm lý, ở phía kia là thái độ hiềm nghi và khinh miệt; còn ở phía này lại là tâm trạng bực dọc và tuyệt vọng. Các ấn phẩm sách báo thực dân đều đầy rẫy những đòn đả kích hung bạo đánh vào nhân dân bị chinh phục, đều tràn ngập những lời chửi rủa phun thẳng vào mặt họ với dũng khí càng hung hăng vì tác giả biết trước rằng họ không thể nào trả miếng lại được và họ chỉ đành phải nghiến răng mà nuốt lấy. Người ta đọc thấy trong loại ấn phẩm vừa nêu những phán quyết như thế này chẳng hạn: " Đối với cái giống nòi annamít ấy, chỉ có một cách tốt để cai trị nó, - đó là ách thống trị bằng sức mạnh... Truyền học vấn cho bọn annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích...".

    Về hành chính và pháp lý: cả một vực thẳm cách biệt người Âu với người bản xứ. Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt đối; còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng, không được kêu ca; vì nếu anh ta dám phản đối thì anh ta liền bị tuyên bố là kẻ phản nghịch hoặc là một tên cách mạng, và bị đối xử đúng với tội trạng ấy. Càng khốn khổ hơn cho người bản xứ nào xuất ngoại để thoát khỏi cái chế độ dịu hiền ấy: gia quyến anh ta bị hành hạ; bản thân anh ta, nếu bị bắt, thì bị tù khổ sai hoặc bị đẩy lên máy chém. Thậm chí để đi lại trong nước, từ địa phương này đến địa phương khác theo luật, người bản xứ phải mang theo giấy phép. Còn công lý, đối với người bản xứ, nó tồn tại như thế này đây: người Âu nào đã giết chết, tàn sát hoặc cưỡng dâm người bản xứ, thì trong trường hợp vụ án không thể được ỉm hoàn toàn, anh ta chắc mẩm rằng mình được toà

    án tha bổng, mình ra toà chẳng qua là chuyện hình thức. Đó là việc áp dụng nguyên tắc nhằm bảo tồn bằng mọi cách uy tín của người da trắng trước bọn da vàng. Nghị viện Pháp có biết chút đỉnh về việc vừa nêu, qua một số điều tiết lộ của ông nghị sĩ Viônlét trong một bản báo cáo về ngân sách Đông Dương.

    Sự ngự trị của bạo chính

    Ở các tỉnh, người bản xứ bị trói tay trói chân, phải gánh chịu thói tuỳ hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp và thói tham tàn của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn cho chúng, bọn quan lại, sản phẩm của chế độ mới! Ấy là công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả giá hời nhất. Xưa kia, người bản xứ bao giờ cũng có thể kêu lên đến tận Triều đình nhà vua; nhưng nay thì anh chàng "annamít" khốn khổ chẳng biết có thánh nhân nào để dựa, và còn lại cho anh ta, chỉ là công lý của Chúa trời. Riêng đối với những ai mà ngôn ngữ thực dân gọi là bọn quấy rối, thì những phiên họp âm u, được tô điểm thành toà đại hình, bí mật quyết định số phận của họ - những người bản xứ chính trực mà đồng bào của họ đều coi trọng và tin yêu.

    Sự tương phản càng nổi bật không kém trong lĩnh vực kinh tế. Một bên là những người bản xứ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhằm nhồi sọ, đần độn hoá, không lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm: họ phải đổ mồ hôi sôi nước mắt trong những lao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật, và hầu như chỉ bằng sức của họ thôi, để nuôi mọi ngân quỹ của chính quyền. Một bên là những người Pháp và người nước ngoài: họ đều đi lại tự do, tự dành cho mình tất cả các tài nguyên của đất nước, chiếm đoạt toàn bộ xuÊt nhập khẩu và tất cả các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo khốn của nhân dân.

    Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908 (xem Bulletin officiel de la Ligue des Droits de l' Homme , ngày 31-10-1912), và như những vụ nổ bom gần đây ở Nam Kỳ và ở Bắc Kỳ. Than ôi! Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu, và thêm nữa đã tạo cớ cho chính quyền thể theo Napôlêông trong vụ chiếc "máy ma quái" 1) , mà trừ khử một cách lịch sự những người An Nam không tỏ vẻ hoan hô thói độc đoán của nó. Người ta biết rằng trong chiến tranh 2) , Đông Dương đã là nơi diễn ra những sự kiện đau lòng, dẫn đến việc ban bố thiết quân luật, và kèm theo là những vụ tuyên án và hành quyết hàng loạt. Giờ đây, các nhà tù khổ sai ở Guyan, ở Tân Calêđôni, ở Côn Đảo, v.v. đều đầy ắp tù chính trị người bản xứ. Súng liên thanh và máy chém đều chóng vánh buộc những ai bướng bỉnh, những ai phản kháng phải im hơi lặng tiếng.

    Sự cạnh tranh của Nhật Bản

    Tình hình mà chúng tôi vừa mới phác ra một số nét lớn, có lẽ  sẽ có thể kéo dài vô tận, nếu cuộc chiến tranh - đã đảo lộn toàn bộ châu Âu - hiện nay không kéo theo một sự xì xào mới về vấn đề dân bản xứ. Quả vậy, do chiến tranh, nước Nhật đã tranh thủ được, từ phía nước Pháp, những quyền ưu tiên đặc biệt ở Đông Dương. Vậy phải thấy trước rằng người Nhật sẽ đến lập nghiệp ngày càng nhiều trên xứ này và sẽ làm đủ mọi nghề ở đây; kết quả là dân bản xứ sẽ sống càng khốn đốn hơn: bị hãm trong cảnh dốt nát bởi chính sách đần độn hoá, bị suy yếu vì phải chịu nhiều thiếu thốn, nhiều thủ đoạn đầu độc của Nhà nước - ngân khố và các công ty đặc nhượng ép họ tiêu thụ thuốc phiện, rượu -, họ sẽ tiếp tục luẩn quẩn trong một cái vòng thu hẹp quá đỗi.

    Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường. Mặt khác, là phi lý nếu nghĩ rằng hai dân tộc láng giềng như dân tộc An Nam và dân tộc Nhật Bản lại có thể cứ tồn tại biệt lập đối với nhau. Nhưng người Nhật, nhờ ở chính  phủ khôn khéo của họ, có các phương tiện rất đầy đủ, được trang bị tốt để tiến hành đấu tranh kinh tế; trong khi đó thì người An Nam- chúng tôi đã nói vì sao - lại hoàn toàn là con số không , xét về mặt tiến bộ hiện đại, so với các láng giềng của họ: người Hoa, người Nhật, người Xiêm và cả người ấn nữa. Câu hỏi đặt ra từ rày, là đứng trước tình hình mới được tạo ra bởi những luồng du nhập của người nước ngoài, phải chăng Chính phủ Pháp tin rằng đã đúng lúc, vì lợi ích chung, phải giải phóng dân bản xứ và giúp đỡ họ bằng tất cả các phương tiện mình có trong tay, để họ tự chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh gay go mà họ sẽ đảm đương đối với người Nhật và những người nước ngoài khác?

    Nếu lời đáp có chiều khẳng định, thì chúng tôi khó hiểu vì sao các yêu sách của mình, mà báo L'Humanité đã đăng trong số ra ngày 18-6 vừa qua, lại có thể gây chấn động trong giới thực  dân. Chúng tôi biết đích xác rằng một sĩ quan cao cấp chỉ huy các tập đoàn lao công thuộc địa - có lẽ căn cứ vào những chỉ thị nhận được từ bên trên - đã hạ lệnh cho từng trưởng tập đoàn hãy tịch thu tất cả những bản yêu sách vừa nêu, tìm thấy ở những người lao công An Nam. Rất ôn hoà cả về nội dung lẫn về hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ  khốn nạn. Không ai có thể phủ nhận rằng nếu không có các quyền tự do ấy, thiết yếu cho việc truyền bá những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi hỏi, thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công cuộc giáo hoá nghiêm chỉnh nào cả.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr.6-10.

    _____________

    1) Machine infernale . Máy ma quái nổ có thể gây tử vong, đã từng được bố trí để ám sát Bônapáctơ. May thay, Bônapáctơ thoát nạn và biết rõ thủ phạm. Tuy vậy, ông khéo thừa cơ hạ lệnh đày 138 người vô tội, có hành vi không tán thành chính sách của ông.

    2) Chiến tranh thế giới thứ nhất.

     

     

     

     

    ĐÔNG DƯƠNG VÀ TRIỀU TIÊN

    MỘT SỰ SO SÁNH THÚ VỊ

    Thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó. Trong khi chờ đợi ngày đó, hiện nay họ còn là nạn nhân của con quái vật ấy, đòi hỏi một cách nghiêm khắc, nhân danh nguyên tắc của dân tộc được quyền tự quyết và họ rất xứng đáng để lưu ý tiếng nói của họ phải được lắng nghe với tình cảm đậm đà trong nhân dân các nước châu Âu và châu Mỹ. Dư luận thế giới đối với các nước đang rên xiết dưới ách thống trị của nước ngoài không phải không làm cho những kẻ đi bóc lột các dân tộc lo sợ. Chính phủ Nhật Bản nhìn thấy trước hậu quả đáng buồn khi đã mở một cuộc chinh phạt rất lớn của chủ nghĩa quân phiệt, đang thừa nhận phải cải cách chế độ ở Triều Tiên theo một tinh thần khoan dung.

    TỰ TRỊ Ở TRIỀU TIÊN

    Một sắc lệnh của Hoàng triều, công bố ở Đông Kinh, ngày 19-8-1919, thừa nhận tự trị cho Triều Tiên, và tuyên bố những người Triều Tiên và Nhật Bản về mặt pháp luật đều bình đẳng và đều được hưởng những quyền hạn ngang nhau, không phân biệt là người nước nào. Chúng ta cũng phải thấy trước rằng những người yêu nước Triều Tiên sẽ không vì thế mà lấy làm thoả mãn và họ còn tiếp tục đòi cho được độc lập hoàn toàn, bởi vì phải chăng họ phản đối đạo sắc lệnh ấy với lý do là nó cũng như tất cả các quy định luật pháp khác có giá trị nhiều hay ít còn tuỳ ở sự thực hiện ra sao nữa.

    Rõ ràng là chúng tôi không hề đóng vai trò đáng khinh bỉ làm người biện hộ cho chủ nghĩa đế quốc Nhật, mà là chúng tôi lên án nó cũng như lên án tất cả các thứ chủ nghĩa đế quốc. Chúng tôi cũng không so sánh một cách cụ thể chi tiết giữa chế độ cai trị của Nhật với chế độ cai trị của Pháp, mặc dầu về nhiều mặt, sự so sánh ấy cũng sẽ làm lợi cho Nhật Bản, mà hiển nhiên nước này chưa bao giờ có ý định đầu độc người Triều Tiên bằng cách bắt buộc họ phải uống rượu và hút thuốc phiện; nhưng ngày nay, chính phủ Đông Kinh đã tuyên bố chính thức giải phóng người Triều Tiên bằng cách đồng hoá họ hoàn toàn như những công dân Nhật Bản. Thật đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước Cộng hoà Pháp ở Đông Dương vẫn cứ ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho họ hưởng một chút quyền tự do nào cũng như các quyền khác theo luật pháp quy định, thế mà ở cái đế quốc mặt trời mọc kia lại trịnh trọng tuyên bố cho cả một dân tộc được hưởng toàn bộ các quyền công dân, cái dân tộc mà họ chỉ mới thống trị chưa đầy 15 năm, để mưu cầu tránh được cái tai hoạ Nga dưới triều đại Nga hoàng.

    SỰ NHỒI SỌ NHỮNG NGƯỜI DA VÀNG

    Trong những năm chiến tranh, nhiều phong trào quốc gia quan trọng đã nổ ra ở Triều Tiên cũng như ở Đông Dương để lật đổ ách thống trị của người nước ngoài. Nhưng liền sau khi đã dập tắt được các phong trào phiến loạn, thì chính phủ Nhật Bản đã có ngay biện pháp xoá bỏ cái dĩ vãng của những biến cố đau thương ấy bằng những cải cách tiến bộ và tìm cách hoà hợp dân tộc bị trị với dân tộc thống trị bằng cách thừa nhận họ có những quyền ngang nhau theo luật pháp quy định. Còn như chính phủ thuộc địa Pháp thì vẫn ngoan cố một cách ngây thơ cho rằng ở Đông Dương này muốn ràng buộc những người bản xứ thì chỉ cần vỗ về họ mãi mãi bằng những bài diễn văn long trọng, những luận điệu tuyên truyền gian ngoan và bằng những lời thề nguyện trung thành mà nó chỉ đáng giá ở chỗ người ta đặt vào đấy: trong cái xứ này do thiếu sót hay nói cho đúng hơn, là do ý định của chính phủ, nên đâu đâu từ trên xuống dưới cũng đều có cái nạn tham nhũng mua quan bán chức, những bọn người mua bán được bằng tiền thì không phải là những thứ hàng hoá hiếm. Và để nhồi sọ những người da vàng, chính phủ thuộc địa đã sẵn sàng những biện pháp và phương tiện cực kỳ mạnh.

    Về mặt báo chí, xuất bản bằng tiếng phương Đông, chính phủ giành lấy cái quyền hạn bỉ ổi chỉ cho phép xuất bản những loại nào ca ngợi mình và sau khi đã có kiểm duyệt rồi. Chính phủ lợi dụng cái đặc quyền độc đoán ấy để lập ra những tờ báo tiếng An Nam theo ý mình được hưởng trợ cấp bí mật của Nhà nước và chuyên việc làm quảng cáo tuyên truyền cho chính phủ và thường kỳ viết những bài phỉnh nịnh các quan trên có thế lực ở thuộc địa.

    Ấy thế mà, Chính phủ Đông Dương lại muốn biến chính hệ thống nhồi sọ này thành chế độ tự do báo chí của người bản xứ đấy!

    NHỮNG SỰ HY SINH CỦA NGƯỜI AN NAM TRONG CHIẾN TRANH

    Nếu người ta làm một bản thống kê những sự hy sinh bắt buộc cho nước Pháp mà nhân dân An Nam phải chịu đựng từ khi có chiến tranh, thì người ta sẽ thấy, về mặt tài chính, nhân dân An Nam đã phải gánh vác một phần lớn, có đến hàng trăm hàng ngàn triệu phrăng, do đóng góp tự do hay bắt buộc, mà chủ yếu thì bắt buộc hơn là tự do; về mặt đóng góp sức người, thì một nguồn nhân  lực rẻ tiền đã lên tới con số hơn 100 ngàn người lao động và rất nhiều tiểu đoàn lính chiến đấu, kẻ trước người sau, họ đều bị trưng tập và bắt buộc đưa sang Pháp hay đi các nơi khác, còn số người đi tình nguyện thì không sao kể xiết. Trong số những người lao động và binh lính An Nam ấy, đã có hàng mấy chục ngàn người ra đi mà không bao giờ còn trở lại quê hương đất nước của họ nữa, chỉ vì một lý do rất đơn giản là họ đã chết. Kẻ này thì chết vì bị tai nạn đi đường, vì công việc nặng nhọc quá sức, vì chưa thạo nghề ở trong các công binh xưởng hoặc vì những sự hành hạ tàn bạo trong các trại lính; người kia thì bị chết trong cuộc chém giết khổng lồ của châu Âu trên đất Pháp và trên những cánh đồng đầy bệnh ôn dịch của các nước vùng Bancăng. Trong giờ phút này, chỉ cần chúng ta đi qua miền Bắc nước Pháp là sẽ gặp ngay hàng ngàn người An Nam xấu số đương phải làm những công việc đào và đắp đất. Họ chẳng khác gì những đoàn người nô lệ tù đày thật sự, chỉ còn thiếu có xiềng xích ở chân mà thôi, bởi vì người ta không sợ họ bỏ trốn.

    Liệu nước Pháp sẽ làm được gì đối với Đông Dương để có thể so với lòng hào hiệp của nước Nhật đối với Triều Tiên?

     

    NGUYỄN ÁI QUỐC 

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr. 11-14.

     

     

     

    THƯ GỬI ÔNG UTƠRÂY 1

    BIARIT, ngày 16 tháng 10  năm 1919

    Ông Utơrây,

    Đang nghỉ mát xa Pari, mãi tới hôm nay tôi mới được tin về các cuộc thảo luận của Nghị viện ngày 18 tháng 9, ở đó, ông đã công kích tôi kịch liệt và thô bỉ. Tôi không hơi đâu nêu ra đây những lời thoá mạ từ miệng ông phun ra, nếu không vì trong khi công kích tôi, thì đồng thời ông cũng đã công kích tờ nhật báo đáng tôn kính đã rộng lượng dành những cột báo cho bài viết gần đây của tôi.

    Các bài viết của tôi đều có ký tên, và tôi đàng hoàng đòi cho riêng mình trách nhiệm về các bài báo đó. Ông hiểu rằng một tờ báo Pháp xứng đáng với cái tên của nó phải tiếp nhận một cách vô tư mọi sự thật, bất kể từ phía nào tới, dù những sự thật đó làm phật ý những kẻ bị vạch mặt. Trong các bài viết của mình, tôi không có những giả thiết vô căn cứ, tôi chỉ đưa ra những sự việc chính xác mà ông đều biết và ông đã không tranh cãi, vì ông không thể tranh cãi nổi.

    Trong những điều kiện như vậy, không phải tôi định bút chiến với ông, tôi chỉ muốn nhã nhặn và ôn hoà đặt ra cho ông vài câu hỏi. Tôi sẽ tránh không nổi nóng la lối chửi rủa, đáp lại sự thô tục bằng sự thô tục, vì như vậy là tự hạ giá mình: không phải hễ cứ ném được bùn lên địch thủ là mình có lý đâu.

    Trước hết, ông đã nói và nhắc lại rằng tôi bị truy nã bên Đông Dương vì các hoạt động chống Pháp. Này! Xin ông hãy cho tôi biết là vào lúc nào, do toà án nào, và hoạt động chống Pháp đó là gì?

    Đó là câu hỏi đầu tiên. Nếu ông không thể trả lời câu hỏi trên cho thoả đáng, nghĩa là có bằng cứ chứng minh, thì cho phép tôi hỏi ông rất nhã nhặn rằng kẻ nào trong hai ta, người vu khống hay người bị vu khống, xứng đáng với danh hiệu thằng khốn nạn? Tôi rất muốn chọn cho ông một tính ngữ đúng với đặc tính của ông mà không làm ông phật ý, nhưng tôi không tìm thấy trong từ vựng tiếng Pháp những từ nào khác thật thích đáng ngoài từ thằng nói láo, và tôi buộc phải nói với ông, không chút thù hằn và sợ hãi, mà thẳng thắn và mặt đối mặt, rằng ông đã nói láo, rằng ông là một thằng nói láo.

    Tôi đoán trước được chiến thuật của ông và tôi làm cho nó mất hiệu lực ngay từ đầu: ông đừng trốn nấp đằng sau thái độ trịch thượng và khinh bỉ. Nhân cách của ông và của tôi đều không liên quan gì đến vấn đề này: đây chỉ là việc xác minh sự thật và chỉ có sự thật mà thôi.

    Bây giờ tôi nói thêm: giá như tôi đã bị truy nã hay bị kết án đi nữa ở bên Đông Dương về cái mà bọn thực dân Pháp vô liêm sỉ gọi là chống Pháp thì tôi cũng chẳng có gì phải hổ thẹn, trái lại tôi còn tự hào về việc đó: vì đối với bọn thực dân, chống Pháp có nghĩa là công khai tố cáo những ý định vô nhân đạo và những hành động chúng không dám thú nhận, những ý định làm tổn thương nghiêm trọng đến danh tiếng tốt đẹp của nước Pháp cao thượng và phản lại một cách bỉ ổi những lý tưởng cao cả về tự do và công lý mà toàn thế giới nhìn nhận ở nước Pháp.

    Vâng, thưa ông Utơrây, có những lời kết án làm vẻ vang chứ không làm ô nhục. Ông có những ví dụ về điều này trong mọi thời đại và ở mọi nước, ông có thể tìm được dễ dàng những ví dụ đó ngay trong lịch sử nước Pháp. Những hoạt động chống Pháp! Không ai mắc lừa nữa đâu! Đã đến lúc phải kiếm những lý do khác thôi!...

    Ông lại nói tiếp rằng: "Với tư cách đại biểu Đông Dương, tôi không thể chấp nhận trong Nghị viện này dư luận cho rằng xứ Đông Dương bị nước Pháp ngược đãi và người An Nam không được hưởng mọi quyền tự do phù hợp với sự phát triển chính trị của đại chúng. Đông Dương dưới sự che chở của nước Pháp đang đi theo số phận của nó trong hoà bình, và chứng cớ hùng hồn nhất rằng nó hạnh phúc, thưa các Ngài, các Ngài đã từng được chứng kiến qua nhiệt tình của người An Nam sang bảo vệ nước Pháp trong cơn nguy biến" 2 .

    Ông đại diện cho ai. Phải chăng là cho hai mươi triệu người An Nam không hề biết ngay cả tên của ông, trừ vài công chức hay vài tên xin xỏ hay là cho một nhúm cử tri của ông ở Nam Kỳ?

    Đừng nói là xứ Đông Dương bị nước Pháp ngược đãi, mà phải nói là nó bị những người Pháp xấu sống bám vào nó ngược đãi; hai việc ấy không phải là một. Ông có nắm được sự khác biệt đó hay không?

    Vì ông đã nói đến tự do và hoà bình trong câu dẫn ở trên, vậy cho tôi hỏi ông rằng: sau khi so sánh với chế độ báo chí do đạo luật ngày 29 tháng 7 năm 1881 quy định, liệu người ta còn có thể chống chế được nữa không rằng chế độ báo chí bản xứ do sắc lệnh ngày 30 tháng 12 năm 1918 và các điều khoản 214 đến 217 của Luật hình An Nam mới ban hành ( Journal officiel de l'Indochine - Francaise 6 , số ngày 1 tháng 8 năm 1917) không phải là một chế độ hoàn toàn khoá miệng và bưng bít sự thật và vì vậy, nó không xác nhận từ đầu đến cuối những điều tôi đã nói về nạn nhồi sọ dân da vàng trong bài báo của tôi mà nhân đó ông đã nham hiểm cáo giác tờ Le Populaire 7 trước Nghị viện.

    Xin ông hiểu cho rằng, tôi không làm cái việc cãi nhau với ông về ngôn từ: tôi đưa ông trở về với các văn bản. Ông nhồi sọ dân da vàng chúng tôi, như bọn Đức đã từng cố nhồi sọ những người da trắng trong vùng Ácđen 3 nhưng vô hiệu và xin ông nhớ cho rằng, trong số cộng tác viên của chúng, có một trong số các bạn đồng nghiệp cũ của ông ở các cơ quan dân sự các thuộc địa, anh ta là học trò được cấp bằng của Trường Thuộc địa. Ái chà! Ông thích viện dẫn các hoạt động chống Pháp! Thì đấy, vả lại là những thứ chính cống.

    Khôn ngoan hơn là ông hãy im đi, đừng nói về việc sử dụng người An Nam trên đất Pháp. Phải chăng khi Chính phủ tham khảo ý kiến của tướng Pennơcanh và một tướng khác về vấn đề này thì ông đã kiên quyết chống lại việc thi hành bản dự án, cho rằng dự án không thể thực hiện được, rằng bên đó không đủ lính An Nam để bảo vệ Đông Dương, vân vân và vân vân... Ông sợ đồng bào tôi, trong thời gian ở Pháp, không khỏi không so sánh thái độ kiêu căng của những người Pháp ở Đông Dương với sự nhã nhặn tuyệt vời và phép lịch sự cao quý của những người Pháp chân chính trên đất Pháp. Uy thế của bọn thực dân trước đã, sau đó mới đến Tổ quốc, có phải vậy không?

    Còn về vấn đề hoà bình, tôi bỏ qua cho ông rất nhiều sự việc khác, và không phải là những việc nhỏ đâu, tôi chỉ xin hỏi: liệu ông có thể phủ nhận hai sự việc lớn xảy ra trong chiến tranh không ? Đó là mưu toan nổi dậy của Duy Tân, sau đó, ông vua khốn khổ mất nước bị đày ra đảo Rêuyniôn, và việc người An Nam chiếm tỉnh Thái Nguyên. Ông bảo xứ Đông Dương đang đi theo số phận của nó một cách yên ổn. Phải chăng ông không nhìn thấy rằng, ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài, cũng

    không phải không có ý định hướng số phận đất nước theo cách khác mà ông chẳng thích. Điều đó chứng tỏ rằng, người ta đã chán ngấy những cung cách tàn bạo mà ông là kẻ biện hộ.

    Ông đã viện dẫn ông Anbe Xarô và tất cả những người An Nam suốt ba mươi năm nay đã nuôi sống ông như một con mọt ngân sách bằng những khoản thuế do họ đóng góp, mà ông không biết.

    Ông hãy tỉnh ngộ đi, ông Anbe Xarô đối với tôi không xa lạ gì. Giữa các ý kiến của ông và của ông Anbe Xarô có cả khoảng cách của hai đối cực. Trong dân chúng An Nam, người ta đồn rằng ông dòm ngó cái ghế toàn quyền Đông Dương và họ run sợ khi nghĩ đến tai hoạ mà Chính phủ "mẫu quốc" sẽ gây ra một cách vô ý thức cho dân An Nam nếu cử ông làm người kế vị ông Anbe Xarô.

    Tôi đã có ý kiến về chính sách cai trị của ông Xarô khi tôi tuyên bố hoàn toàn ủng hộ những lời phát ngôn của vị nghị sĩ xã hội đáng kính Mariuýt Mutê được tất cả đồng bào tôi rất yêu mến và kính trọng: yêu mến và kính trọng chỉ vì ông ta bênh vực sự nghiệp chung của nước chúng tôi, ông ta không có và không bao giờ như ông, cứ muốn có những quan hệ với chính quyền thuộc địa đã cho phép ông có thể mua chuộc vài công chức và vài tên An Nam quen thói xin xỏ, bằng những ân huệ nhỏ mọn.

    Sau những văn bản và sự kiện cụ thể tôi nêu ra ở trên, liệu ông có còn tiếp tục khăng khăng rằng các công dân Mutê và Lôngghê đã nói những điều sai trái nữa hay thôi?

    Xin chào ông.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr. 15-19.  

    Năm 1920

    Năm 1920 (*)

    Ở ĐÔNG DƯƠNG

    Chúng tôi vừa nhận được bức thư sau đây mà không cần nhấn mạnh điều lợi hại trong đó.

    Ở đây (Hải Phòng) cũng có những cuộc bãi công của thuỷ thủ. Chẳng hạn như ngày thứ năm (15-8), hai chiếc tàu biển nhổ neo để chở một số lớn lính khố đỏ An Nam đi Xyri.

    Nhưng thuỷ thủ không chịu đi, vì người ta không chịu phát lương cho họ bằng tiền Đông Dương. Theo giá thị trường, một đồng Đông Dương bằng 10 phrăng, chứ không phải 2 phrăng 50. Thế mà các công ty hàng hải lại làm một việc hà lạm trắng trợn là định trả lương cho thuỷ thủ bằng phrăng, chứ không trả bằng tiền Đông Dương như đã trả cho công chức.

    Thế là người ta liền xua tất cả mọi người ở dưới tàu lên, rồi lập tức bắt hết các thuỷ thủ. Rõ ràng là thuỷ thủ Biển Vàng chẳng có gì phải so bì với thuỷ thủ Biển Đen.

    Chúng tôi cực lực phản đối việc đưa lính An Nam sang Xyri. Phải chăng các nhà cầm quyền cấp cao cho rằng bao nhiêu anh em da vàng xấu số của chúng tôi bị giết hại trên các chiến trường từ năm 1914 đến năm 1918, trong cuộc chiến tranh "vì văn minh và công lý" vẫn chưa đủ sao?

    Ở Đông Dương, chúng ta đang sống dưới sự "bảo hộ" của nước Pháp. Bảo hộ có nghĩa là che chở. Nước Pháp đang để cho hàng triệu anh em chúng ta chết đói, trong khi đó hàng nghìn người khác bị đưa sang Tiểu Á làm bia đỡ đạn.

    Người ta che chở cho chúng ta như vậy đó!

     

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr. 20-21.  

     

     

    Năm 1921

    Năm 1921 (*)

    ĐÔNG DƯƠNG

     Tuy rằng Quốc tế Cộng sản đã làm cho vấn đề thuộc địa có được tầm quan trọng xứng đáng với nó bằng cách coi nó là thuộc về những vấn đề thời sự khẩn trương nhất, nhưng trong thực tiễn, các ban thuộc địa ở các cường quốc thực dân, cho đến nay, vẫn chưa quan tâm đến vấn đề này, thậm chí các ban này cũng chưa xem xét vấn đề một cách nghiêm túc!

    Sự không hoạt động này thật đáng ngạc nhiên, nhất là khi không còn sự tranh cãi nội bộ trong đảng đã được thanh trừ, và đáng ngạc nhiên khi vấn đề tuyển mộ người thuộc địa lại được chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc của chính quốc nghiên cứu ráo riết. Sự không hoạt động này có lẽ do các đồng chí chúng ta không hiểu biết tình hình chính xác của những xứ bị áp bức. Do vậy, tôi thấy có ích, nếu phác hoạ ngắn gọn ở đây tình hình của một trong những thuộc địa lớn nhất của nước Pháp, là Đông Dương.

    Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa. Sự thật là người Đông Dương không có một phương tiện hành động và học tập nào hết. Báo chí, hội họp, lập hội, đi lại đều bị cấm... Việc có những báo hoặc tạp chí mang tư tưởng tiến bộ một chút hoặc có một tờ báo của giai cấp công nhân Pháp là một tội nặng. Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại.

    Bị đầu độc cả về tinh thần lẫn về thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm, người ta có thể tưởng rằng cái bầy người ấy cứ mãi mãi bị dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản, rằng bầy người đó không sống nữa, không suy nghĩ nữa và là vô dụng trong việc cải tạo xã hội. Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi . Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương. Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ. Nếu những người xã hội chủ nghĩa lơ là việc giáo dục, thì giai cấp tư sản thực dân và bản xứ - bọn quan lại - cứ phụ trách giáo dục bằng phương pháp của chúng. Người Đông Dương tiến bộ một cách rất màu nhiệm và khi thời cơ cho phép họ sẽ biết tỏ ra xứng đáng với những người thầy của họ. Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

    Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi.

     

    NGUYỄN ÁI QUỐ C

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr.27-28.  

    Năm 1922

    Năm 1922 (*)

    MẤY Ý NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA

    Từ khi Đảng Cộng sản Pháp đã thừa nhận 21 điều kiện của Mátxcơva và gia nhập Quốc tế thứ ba, Đảng đã tự đặt cho mình một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn trong số các nhiệm vụ khác: chính sách thuộc địa. Đảng không thể thoả mãn với những bản tuyên ngôn chỉ thuần là bằng tình cảm và không có kết quả gì như thời Quốc tế thứ nhất và Quốc tế thứ hai nữa, mà cần phải có một kế hoạch hoạt động chính xác, một chính sách có hiệu quả và thiết thực.

    Trong vấn đề này, Đảng gặp nhiều khó khăn hơn mọi vấn đề khác, và đây là những khó khăn chủ yếu:

    1. Diện tích các thuộc địa rất rộng . - Không kể những "khu vực uỷ trị" mới, lấy được từ sau chiến tranh, nước Pháp có:

    Ở châu Á, 450.000 km 2 ; ở châu Phi, 3.541.000km 2 ; ở châu Mỹ,108.000 km 2 ; ở châu Đại Dương, 21.600km 2 . Tổng cộng: 4.120.000 km 2 (gần gấp tám lần diện tích nước Pháp) với một dân số là 47.000.000 người. Số dân đó nói hơn 20 thứ tiếng khác nhau. Tình trạng có nhiều tiếng nói khác nhau như vậy làm khó khăn cho công tác tuyên truyền, bởi vì trừ mấy thuộc địa cũ ra, thì một tuyên truyền viên người Pháp chỉ có thể nói chuyện với quần chúng bản xứ qua người phiên dịch mà thôi. Mà phiên dịch thì khó nói lên được hết ý, vả lại trong những xứ bị cai trị một cách độc đoán ấy, thật khó mà tìm ra được một người phiên dịch những lời lẽ cách mạng.

    Lại còn những trở ngại khác nữa. Tuy người dân bản xứ ở tất cả các thuộc địa đều là những người bị áp bức và bóc lột như nhau, nhưng trình độ văn hoá, kinh tế và chính trị giữa xứ này với xứ khác lại rất khác nhau. Giữa An Nam với Cônggô, Máctiních hay Tân Đảo, hoàn toàn không giống nhau chút nào, trừ sự cùng khổ.

    2. Tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với các thuộc địa . - Trong những luận cương về vấn đề thuộc địa, Lênin đã tuyên bố rõ rệt rằng "nhiệm vụ của công nhân ở các nước đi chiếm thuộc địa là phải giúp đỡ một cách tích cực nhất phong trào giải phóng của các nước phụ thuộc". Muốn thế, công nhân ở chính quốc cần phải biết rõ thuộc địa là cái gì, phải biết những việc gì đã xảy ra ở thuộc địa, biết rõ nỗi đau khổ - hàng nghìn lần đau khổ hơn công nhân ở chính quốc - những người anh em của họ, những người vô sản thuộc địa phải chịu đựng. Tóm lại là công nhân ở chính quốc phải quan tâm đến vấn đề thuộc địa.

    Tiếc thay, một số đông chiến sĩ vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến.

    3. Tình trạng dốt nát của người dân bản xứ . - Trong tất cả các nước thuộc địa, ở cái xứ Đông Dương già cỗi kia cũng như ở xứ Đahômây trẻ trung này, người ta không hiểu đấu tranh giai cấp là gì, lực lượng giai cấp vô sản là gì cả, vì một lẽ đơn giản là ở đó không có nền kinh doanh lớn về thương nghiệp hay công nghiệp, cũng không có tổ chức công nhân. Trước con mắt người dân bản xứ, chủ nghĩa bônsêvích - danh từ này vì thường được giai cấp tư sản dùng đến luôn, nên đặc sắc hơn và mạnh nghĩa hơn - có nghĩa là: hoặc sự phá hoại tất cả, hoặc sự giải phóng khỏi ách nước ngoài. Nghĩa thứ nhất gán cho danh từ ấy làm cho quần chúng vô học và nhút nhát xa lánh chúng ta; nghĩa thứ hai thì dẫn họ đến chủ nghĩa quốc gia. Cả hai điều đó đều nguy hiểm cả. Chỉ có một số ít người trong nhân dân hiểu được thế nào là chủ nghĩa cộng sản. Nhưng số người thượng lưu ấy,- thuộc giai cấp tư sản bản xứ 1 và là cột trụ của giai cấp tư sản thực dân, - cũng không thích thú gì việc chủ nghĩa cộng sản được người ta hiểu và được truyền bá rộng rãi cả. Trái lại, giống như con chó trong chuyện ngụ ngôn, họ lại thích đeo cái vòng cổ để kiếm miếng xương của chủ. Nói chung, quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết làm cách nào để đạt được mục đích ấy.

    4. Những thành kiến . - Vì giai cấp vô sản ở cả hai đằng đều không hiểu biết lẫn nhau, nên đã nảy ra những thành kiến. Đối với công nhân Pháp, thì người bản xứ là một hạng người thấp kém, không đáng kể, không có khả năng để hiểu biết được và lại càng không có khả năng hoạt động. Đối với người bản xứ, những người Pháp - mặc dầu họ là hạng người nào cũng đều là những kẻ bóc lột độc ác. Chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản không bỏ lỡ dịp lợi dụng sự nghi kỵ lẫn nhau đó và sự phân biệt đẳng hạng giả tạo về nòi giống đó để ngăn cản việc tuyên truyền và để chia rẽ những lực lượng đáng phải đoàn kết lại.

    5. Đàn áp dã man . - Nếu bọn thực dân Pháp rất vụng về trong việc phát triển nền kinh tế ở thuộc địa, thì họ lại là những tay lão luyện trong nghề đàn áp dã man và trong việc chế tạo ra cái lòng trung thành bắt buộc. Những người như ông Găngđi và ông Đờ Valơra có lẽ đã lên thiên đàng từ lâu rồi nếu các ông ấy sinh ở một trong những thuộc địa của Pháp. Bị tất cả mọi thứ thủ đoạn thâm hiểm của các toà án quân sự và toà án đặc biệt vây xung quanh, một người chiến sĩ ở bản xứ khó lòng tiến hành việc giáo dục đồng bào bị áp bức và dốt nát của mình mà không sa vào nanh vuốt của các nhà đi khai hoá cho họ.

    Trước những khó khăn ấy, Đảng phải làm gì?

    Tăng cường công tác tuyên truyền của Đảng để khắc phục.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr.62-64.  

    Năm 1923

     

     THƯ GỬI TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP

    Các đồng chí,

    Những nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Quốc tế về vấn đề thuộc địa đã mang lại hai tác dụng đồng thời nhưng lại hoàn toàn trái ngược nhau. Một mặt, chủ nghĩa đế quốc đi áp bức - ngừa trước những kết quả có thể xảy ra của chính sách đó nếu nó được thi hành nghiêm túc - đã đề phòng và tăng gấp bội những hoạt động tuyên truyền, ngu dân và đàn áp. Mặt khác, nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, được tiếng vang của cách mạng thức tỉnh, đã hướng theo bản năng của họ về Quốc tế của chúng ta, một chính đảng duy nhất mà họ hy vọng là sẽ quan tâm đến họ một cách thân thiết, mà họ hoàn toàn mong mỏi là sẽ mang lại cho họ sự giải phóng. Như vậy, chúng ta sẽ có thể không những đánh đổ uy thế của chủ nghĩa thực dân bóc lột và lay chuyển vị trí của chúng, mà còn có thể biến mối cảm tình thuần tuý tình cảm và thụ động của các dân tộc thuộc địa đối với chúng ta thành mối cảm tình hành độn g, nếu những nghị quyết của Quốc tế được chấp hành. Khốn nỗi cho đến nay, những nghị quyết ấy chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy! Phân bộ Pháp, phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các phân bộ ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không.

    Đối với các thuộc địa Pháp,

    a) một ban nghiên cứu thuộc địa đã được thành lập;

    b) một mục viết về thuộc địa đã được mở ra trên báo L'Humanité;

    c) những lời tuyên bố ủng hộ dân chúng thuộc địa đã được phát biểu trong các đại hội toàn quốc;

    d) hai cuộc hành trình tuyên truyền đã được các đại biểu của Đảng tiến hành.

    Sau khi được thành lập ít lâu và khi đã giành được không phải là không chật vật những cột báo trên tờ L'Humanité , Ban nghiên cứu thuộc địa đã hoạt động khá tốt. Những tài liệu và tin tức có giá trị đã bắt đầu được gửi từ các thuộc địa đến Ban. Chiến dịch mà Ban tiến hành trên báo Đảng nhằm chống những nhũng lạm và tội ác của bè lũ thực dân, đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của dân chúng các thuộc địa và mang lại nỗi lo lắng cho chủ nghĩa đế quốc thực dân và báo chí của nó. Nhưng diễn đàn ấy đột nhiên đã bị báo L'Humanité bỏ đi. Bị tước mất phương tiện công tác và hoạt động, Ban lâm vào tình trạng hoàn toàn bị tê liệt. Điều đó đã làm cho giới báo chí to lớn của giai cấp tư sản rất hài lòng, những báo chí này đã dành rất đều đặn hàng bao nhiêu trang cho công tác tuyên truyền thực dân và luôn luôn sợ bị cải chính và lật mặt nạ.

    Điều đó đã đặc biệt gây những ấn tượng rất nặng nề cho dân bản xứ. Mặc dầu là hão huyền, những lời tuyên bố trong các đại hội toàn quốc ủng hộ dân chúng các thuộc địa cũng đã góp phần củng cố mối cảm tình mà họ đã có đối với Đảng. Tuy nhiên thật là không thích đáng nếu cứ lắp đi lắp lại mãi một điều mà không làm gì cả. Và những người bị áp bức khốn khổ thấy chúng ta chỉ luôn luôn hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn không hành động gì thì bắt đầu tự hỏi rằng không biết thực ra chúng ta là những người đứng đắn hay là những kẻ lừa phỉnh. Cuộc hành trình của các đồng chí Vayăng Cutuyariê và Ăngđrê Béctông qua Angiêri và Tuynidi, tiến hành hầu như cùng một lúc với các cuộc dạo chơi đế vương của bọn đại biểu tư sản, đã được dân chúng châu Phi rất hoan nghênh. Nếu những cuộc hành trình cùng một tính chất như thế được tiếp tục trong tất cả các thuộc địa thì chắc chắn là kết quả sẽ đáng mừng.

    Nhưng, đáng lẽ phải tăng cường tuyên truyền thì chúng ta lại đã bỏ dở cái việc đã được bắt đầu, và bỏ mất những cơ hội tốt. Bởi thế, chúng ta đã làm rất ít trong khi xảy ra cuộc bãi công đẫm máu ở Máctiních, cảnh chết đói ở Bắc Phi và cuộc nổi dậy ở Đahômây.

    Trong trường hợp sau chót này, chúng ta đã có một bộ mặt thiểu não. Nhiều ngày sau tất cả các báo tư sản và mười ngày sau bá o L'Oeuvre, báo Đảng mới đăng tin về cuộc nổi dậy. Trong lúc chính phủ thuộc địa đã thiết quân luật, tập trung quân đội, huy động chiến hạm, huy động các bộ máy đàn áp, bắt bớ và kết án các nhà hoạt động từ 5 đến 10 năm tù; trong lúc các báo chí viết thuê đã tiến hành một cách có hệ thống một chiến dịch lừa dối và bưng bít dư luận thì chúng ta chỉ viết có hai hay ba bài báo ngắn, rồi thôi. Không phải là không mỉa mai và không đáng buồn khi trong bóng tối của những ngục tù có tính chất khai hoá, những người anh em Đahômây đau khổ của tôi đọc điều thứ 8, trong số 21 điều kiện, nói rằng: " Mỗi đảng cam đoan tiến hành một công tác cổ động có hệ thống trong quân đội nước mình nhằm chống mọi ách áp bức dân chúng thuộc địa; và mỗi đảng phải ủng hộ, không những bằng lời nói mà cả bằng hành động, phong trào giải phóng của các thuộc địa ".

    Nhưng thật là vô ích nếu buộc tội quá khứ và tiếc rẻ thì giờ đã mất. Tốt nhất là biết sử dụng tốt thì giờ trong tương lai. Vậy chúng tôi yêu cầu Đảng:

    1) Chính thức thừa nhận Liên đoàn Máctiních (nhóm Giăng Giôrét);

    2) Mở lại mục viết về thuộc địa trong báo L'Humanité ;

    3) Yêu cầu Ban nghiên cứu thuộc địa cung cấp tài liệu cho phân bộ thuộc địa và cứ hai hoặc ba tháng một, báo cáo công tác của mình với phân bộ;

    4) Ở những nơi đã thành lập phân bộ thuộc địa thì khuyến khích các phân bộ này tăng cường công tác tuyên truyền và tuyển thêm người bản xứ;

    5) Trên tất cả báo chí của Đảng, mở một mục viết về thuộc địa để làm cho độc giả làm quen với các vấn đề thuộc địa;

    6) Nói đến các thuộc địa trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng;

    7) Cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa, mỗi khi nền tài chính của Đảng cho phép;

    8) Tổ chức những nghiệp đoàn hoặc thành lập các nhóm tương tự ở các thuộc địa.

    Mátxcơva, tháng 7 năm 1923  

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr. 194 – 197.

     

     

     

    ÁCH ÁP BỨC KHÔNG TỪ MỘT CHỦNG TỘC NÀO

    Vôrốpxki, phái viên của nước Nga công nông đã bị bọn phát xít ám sát ở Thuỵ Sĩ. Không một phái viên nào của các cường quốc rất văn minh và rất sùng đạo Thiên chúa đang họp ở Lôdannơ hạ cố đi đưa đám. Chỉ có phái đoàn Thổ Nhĩ Kỳ do Ixmết Pasa dẫn đầu đã đến nghiêng mình trước thi hài người bị sát hại.

    Ben Rađia, một công nhân, quê ở Tuynidi đã bị cảnh sát giết ở Pari ngày 1 tháng 5. Các tổ chức công nhân ở Pari đã tổ chức một đám tang lớn. Hàng mấy nghìn công nhân đã nghỉ việc ngày hôm đó để đi đưa người đồng chí bản xứ của mình tới nơi an nghỉ cuối cùng.

    Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân, người ở Lôdannơ cũng như ở Pari, những người Havrơ cũng như những người ở Máctiních, đều là những nạn nhân của một kẻ giết người: chủ nghĩa tư bản quốc tế. Và hương hồn của những người bị hy sinh này luôn tìm thấy nguồn an ủi cao cả nhất ở lòng tin vào sự nghiệp giải phóng những anh em của họ bị áp bức - không phân biệt chủng tộc hay xứ sở.

    Sau những bài học đau đớn này, những người bị áp bức ở tất cả các nước hẳn phải hiểu đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù của họ.

     

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr.200.

     

     

     

    BÁO CÁO GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN ( 1 )

    ĐÔNG DƯƠNG, TÓM TẮT

    Chính trị

    Không có chính đảng: Đất nước bị cai trị theo cách như sau:

    Nam Kỳ và Bắc Kỳ bị cai trị trực tiếp bởi các nhà cầm quyền Pháp với những thuộc hạ người bản xứ.

    Trung Kỳ và Campuchia có chính phủ bản xứ của mình mà thực tế chỉ là thực hành các mệnh lệnh của các nhà cai trị Pháp.

    Kinh tế

    Xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, giao thông vận tải và thương nghiệp lớn, tất cả đều ở trong tay người Pháp. Thương nghiệp hạng vừa có thể nói là người Trung Quốc nắm độc quyền. Người bản xứ chỉ có thương nghiệp địa phương nhỏ.

    Xã hội

    Dân cư hợp thành xã, những xã hợp thành tổng, những tổng thành huyện, những huyện thành tỉnh.

    Dân cư bầu lấy lý trưởng, những lý trưởng bầu lấy chánh tổng. Cuộc bầu cử của nhân dân dừng lại ở đấy.

    Những huyện và những tỉnh thì các quan cai trị do chính phủ chỉ định.

    Triều đình và quan chức lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp của họ khinh bỉ và nhân dân An Nam ghét.

    Thiểu số các nhà nho hay là các nhà trí thức là các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa. Chính họ đã khích động mọi cuộc nổi dậy trong quá khứ.

    Công nhân có thể là 2% trong dân số, không được học hành, không được tổ chức. Do vậy họ không có một lực lượng chính trị nào.

    Tiểu tư sản không nhiều, là một phần tử bấp bênh. Nó chịu sự chi phối bởi nhiều thứ triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã. Nó nhút nhát.

    Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước.

    Tuyên truyền tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân nếu chúng ta làm tới được điều đó thì tương lai thuộc về chúng ta.

    CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG

    1/ Xuất bản một tờ báo nhỏ tiếng Việt.

    2/ Tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng.

    3/ Cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Mátxcơva.

    4/ Xây dựng dây liên lạc Mátxcơva - Đông Dương - Pari.

    HỢP TÁC

     a/ Điều gì mà Đảng có thể làm thì đã liệt kê trong thư gửi cho nó do Ban phương Đông chuyển.

    b/ Tổng công hội thống nhất đã hứa làm hết sức mình để 2 hoặc 3 đồng chí người Pháp có thể sang Đông Dương để tổ chức công nhân.

    c/ Thanh niên cộng sản Pháp phải lợi dụng chủ nghĩa quân phiệt để đưa những thành viên chắc chắn nhất đăng lính vào đội quân thuộc địa để dắt dẫn sự tuyên truyền trong nhữ ng người bản xứ.

    2/ Sự giúp đỡ của Thanh niên cộng sản Trung Quốc là tuyệt đối cần thiết cho sự hoạt động ở Đông Dương.

    Một cuộc thảo luận giữa những đại biểu của Đảng, của Tổng công hội thống nhất, của Thanh niên và của Ban phương Đông có thể ló ra nhiều ánh sáng khác.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr.203-205.

    ____________

    1) Đầu bài do BBT đặt. Trên đầu tài liệu ghi 21/IX/23. Mật.


     

     

     

    PHÁT BIỂU TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ NHẤT QUỐC TẾ NÔNG DÂN  

    Nông dân trong các thuộc địa của Pháp bị hai tầng bóc lột: vừa như những người vô sản, vừa như những người bị mất nước. Ở Angiêri, những đất đai màu mỡ được dành cho người Pháp; còn những người nông dân thì bị dồn vào sống trong vùng núi là nơi đất đai cằn cỗi và không thể canh tác được. Ở Đông Dương, hễ người Pháp đến là chính phủ cấp cho anh ta cả nhiều làng trọn vẹn. Nhưng người nông dân, không chỉ bần nông mà cả trung nông đều bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương của mình hoặc làm đày tớ cho ông chủ người nước ngoài.

    Thưa các đồng chí, khi các đồng chí được tổ chức lại, các đồng chí cần phải nêu gương cho chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi, dang rộng cánh tay anh em đón chúng tôi để chúng tôi cũng có thể bước vào gia đình vô sản quốc tế.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.1, tr.208.

     

     

     

    NHẬT BẢN

    HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

     Những biến cố gần đây đã làm cho cả thế giới chú ý đến Nhật Bản. Người ta nói nhiều về sức mạnh công nghiệp của Nhật, về việc phát triển kinh tế trước kia và sau này của nó. Mọi người biết rằng chủ nghĩa tư bản Nhật đạt được mức phát triển như vậy trong vòng 20-25 năm; để đạt được mức phát triển ấy, các bạn đồng nghiệp của nước Nhật ở phương Tây đã mất tới trên 100 năm.

    Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nhật, các tổ chức công nhân cũng phát triển với những nhịp độ nhanh chóng. Bên cạnh phong trào vô sản, các phong trào khác có tính chất cách mạng cũng lan rộng. Đó là phong trào Eta. Ở đế quốc Mặt trời mọc có một loại dân nổi tiếng dưới cái tên Eta . Về bề ngoài thì Eta không khác gì những người Nhật khác. Nhưng có một câu chuyện hoang đường là người Eta xuất thân từ những bộ lạc nô lệ xưa kia từ nước ngoài kéo vào. Vì vậy, cho nên hiện nay người ta lại đối xử với họ giống như đối xử với tổ tiên họ. Họ buộc phải sống trong những vùng dành riêng cho họ, nơi mà không bao giờ người Nhật được lui tới. Họ không có quyền giao thiệp với nhân dân Nhật. Họ chỉ có quyền quan hệ với người Nhật với tư cách là những người hầu hạ. Họ nhận làm những công việc nặng nhọc và bẩn thỉu nhất. Bẩn thỉu, thấp hèn - đó là người Eta. Người Nhật không được lấy phụ nữ người Eta . Nói tóm lại là họ không có một chút quyền hạn xã hội gì, và số phận của họ làm cho người ta nhớ đến số phận của những đám người "Suđra" ở Ấn Độ hay những người da đen ở châu Phi. Người Eta có 3 triệu người. Do ảnh hưởng của những người vô sản đã giác ngộ, những người Eta bắt đầu được thức tỉnh và có tổ chức. Họ thành lập một hội lấy tên là "Xuikhây" ("Bình đẳng"). Mọi người nhiệt tình xin vào hội và năm ngoái hội nghị toàn quốc đầu tiên của hội này được triệu tập. Có 2.500 đại biểu từ khắp nơi trong nước về dự hội nghị. Hội nghị đã nêu khẩu hiệu: "Hoàn toàn bình đẳng". Phương châm của hội nghị: "Việc giải phóng Eta là sự nghiệp của chính người Eta ". Những tổ chức tự do và của chính phủ lo lắng trước việc xuất hiện một lực lượng mới nên định nắm lấy nó dưới sự bảo hộ của mình. Nhưng họ đã không thành công.

    Trong khi tất cả các cánh cửa đều đóng chặt trước mắt họ, thì những người công nhân Eta lại được những người công nhân Nhật có tổ chức đón tiếp một cách hết sức thân tình dựa trên sự bình đẳng hoàn toàn. Họ đã hiểu rõ được sự đón tiếp đó. Vì vậy ngày nay, khi từ chối mọi sự quan tâm giúp đỡ của những người tự do và của chính phủ, những người Eta thực hiện sự nghiệp chung cùng với giai cấp công nhân Nhật Bản. Phong trào lúc đầu với tư cách là cuộc đấu tranh của lớp người riêng lẻ thì hiện nay đã trở thành cuộc đấu tranh giai cấp.

    Trước khi khai mạc đại hội trong năm nay, những người Eta đã ra một bản kêu gọi "Gửi tất cả những dân tộc ít người, tất cả những người lao động - nạn nhân của tư bản thế giới và chủ nghĩa đế quốc". Trong lời kêu gọi có nói về những nỗi đau khổ đã trải qua và về sự viển vông của những cải cách mà chính phủ đã đưa ra, có nhấn mạnh việc "những người Eta sẵn sàng sát cánh cùng giai cấp công nhân Nhật làm cách mạng xã hội và giải phóng tất cả những người bị bóc lột". Trong cương lĩnh hành động của họ có những điểm đặc trưng chứng tỏ hội có nghị lực và tính kiên quyết:

    A. Từ chối sự giúp đỡ từ thiện trong đó có sự giúp đỡ của chính phủ.

    B. Đào tạo cán bộ cho những hoạt động tích cực.

    C. Thành lập các công đoàn của nông dân.

    D. Thành lập các chi bộ của hội cho phụ nữ và thanh niên.

    E. Thành lập các thư viện, báo chí và các cơ quan báo chí khác để phổbiến giáo dục và tuyên truyền tư tưởng bảo vệ quyền lợi của những người Eta .

    G. Đòi tự do hoàn toàn về chính trị và kinh tế cho những người Eta.

    Bây giờ chúng ta chuyển sang một lực lượng cách mạng khác - nông dân Nhật.

    CÔNG NHÂN NÔNG NGHIỆP

    Khi nói về công nhân nông nghiệp ở Nhật Bản thì cần phải nghiên cứu các tổ chức công nhân nông nghiệp ở phương Tây để so sánh.

    Ở châu Âu có 1.517.000 công nhân nông nghiệp có tổ chức, trong đó 919.000 người tham gia Quốc tế Amxtécđam 39 và 598.000 người tham gia Quốc tế đỏ của các công đoàn. Ở nước Nga có 270.000 công nhân nông nghiệp có tổ chức được thống nhất trong 8.000 nhóm công đoàn, tham gia vào trong 87 tổ chức công đoàn.

    Nông dân Nhật chia làm bốn loại:

    1. Dixacunô hay những người sở hữu, loại này có 172.241 hộ.

    2. Dixacunô loại hai, hay những người sở hữu nhỏ, - 1.507.341 hộ.

    3. Khandixacunô: nửa chủ, nửa thợ, - 2.244.126 hộ.

    4. Côxacunin, hoặc những người tá điền, - 1.557.847 hộ.

    Từ năm 1916 đến năm 1922 số lượng Dixacunô đã tăng thêm 7.035 hộ, còn Côxacunin, - thêm 32.858 hộ do sự phân hoá hai nhóm trung gian. Điều đó khẳng định lại một lần nữa tính chất đúng đắn của học thuyết Mác về sự thu hút và vô sản hoá các tầng lớp trung gian.

    Tổ chức công nhân nông nghiệp của Nhật được thành lập cách đây mới được ba năm, nhưng nó phát triển nhanh và được củng cố. Có hai công đoàn: công đoàn phía Đông và công đoàn phía Tây. Công đoàn phía Đông có trung tâm của mình là Tôkiô, còn phía Tây là Ôxaca và Côbê. Tất cả có 85 chi nhánh các công đoàn, 196 nhóm, tổng cộng tất cả 120 nghìn đoàn viên. Năm 1922 ở công đoàn phía Đông có 15 nghìn đoàn viên, còn công đoàn phía Tây 91 nghìn. Năm nay họ có 18 nghìn đoàn viên công đoàn phía Đông và 102 nghìn đoàn viên công đoàn phía Tây, có nghĩa là số lượng của họ tăng lên 14 nghìn trong một năm. Điều đó có nghĩa là ở Nhật Bản đang xảy ra một quá trình phát triển ngược lại với quá trình phát triển của các tổ chức công nhân nông nghiệp ở các nước châu Âu (trừ Đức và Nga), nơi có số lượng hội viên đang giảm xuống chứ không tăng lên.

    Như chúng ta đã thấy ở trên, công đoàn phía Tây có số lượng nhiều hơn nhiều công đoàn phía Đông, nhưng nhờ tinh thần tiên tiến của các đoàn viên của mình và nhờ họ có nghị lực nên công đoàn phía Đông có ảnh hưởng lớn hơn công đoàn phía Tây. Hầu như công đoàn phía Đông bao giờ cũng là người đề xướng ra cuộc đấu tranh chống lại chủ.

    Đặc điểm "chính trị - địa lý" ấy có thể thấy cả trong những công nhân công nghiệp. Công đoàn phía Tây ôn hoà, có số lượng đông bị lôi kéo theo đuôi công đoàn phía Đông tiên tiến có số lượng ít.

    Những yêu sách cơ bản của công nhân nông nghiệp là xã hội hoá tất cả đất đai canh tác, sách lược phổ biến nhất của cuộc đấu tranh là không đi làm trong thời gian thu hoạch mùa màng. Năm 1920 đã ghi nhận lại được 408 cuộc đình công, và năm 1922 - lên tới 1.398.

    Vào tháng 1 đã có quyết định thống nhất hai công đoàn này, Công đoàn mới được gọi là "Nikhơnnôminkhai". Việc thống nhất này làm cho giai cấp vô sản nông nghiệp ở Nhật Bản tăng thêm sức mạnh và là một mối lo ngại lớn đối với bọn chủ.

    N.A.Q.

     

    Dịch theo bài in trong sách những bài viết và nói chọn lọc

    Hồ Chí  Minh: Toàn tập,

    t.1, tr. 217-221. 

    Năm 1924

    PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở THỔ NHĨ KỲ

    Với lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh đáng khâm phục, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đã xé tan cái hiệp ước Xevơrơ ghê tởm và giành lại được nền độc lập của mình. Họ đã đánh bại bọn đế quốc cùng lập mưu với nhau, và lật đổ ngai vàng của bọn vua chúa. Từ một nước kiệt quệ, bị chia cắt, giày xéo, họ đã dựng lên một nước cộng hoà thống nhất và mạnh mẽ. Họ đã làm xong cuộc cách mạng của họ. Nhưng, cũng giống như tất cả các cuộc cách mạng tư sản, cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ có lợi riêng cho một giai cấp: giai cấp có của.

    Giai cấp vô sản Thổ Nhĩ Kỳ, người đã đóng góp rất nhiều vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thì từ bây giờ đã thấy bắt buộc phải tiến hành một cuộc đấu tranh khác: cuộc đấu tranh giai cấp.

    Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân của Thổ Nhĩ Kỳ gặp nhiều trở lực. Ở Thổ Nhĩ Kỳ không có những công đoàn giống như ở phương Tây. Ở đây chỉ có những nghiệp đoàn, hoặc những hội tương tế tập hợp công nhân cùng ngành, sinh sống trong cùng một thành phố. Còn công nhân các ngành khác nhau trong cùng một thành phố và công nhân cùng ngành trong các thành phố khác nhau thì không có liên hệ gì với nhau. Tình hình đó làm trở ngại mọi hoạt động chung và có hiệu quả.

    Mặc dù như vậy, suốt năm vừa qua người ta cũng đã nhiều lần thấy những hoạt động sôi nổi của công nhân. Nhiều cuộc bãi công đã nổ ra ở Côngxtăngtinốp, ở Sừng Vàng 1) , ở Aidin, v.v.. Công nhân in, công nhân đường sắt, nhân viên thương thuyền, công nhân các kho dầu lửa và các xưởng chế rượu bia đã tiến hành đấu tranh. Đã có tới một vạn công nhân tham gia phong trào. Sau những kinh nghiệm này, công nhân Thổ Nhĩ Kỳ đã hiểu rằng muốn thắng lợi thì họ cần phải có tổ chức và kỷ luật.

    Đại hội Côngxtăngtinốp thành lập hội Biếclích 2)

    Mới đây, một đại hội công nhân đã được triệu tập ở Côngxtăngtinốp. Hai trăm năm mươi đại biểu tham gia đại hội. Họ thay mặt cho 19.000 công nhân Côngxtăngtinốp, 15.000 công nhân mỏ than ở Dônggunđắc và 10.000 người lao động cả các mỏ chì có bạc ở Balyacaraiđin.

    Đại hội đã quyết định tập hợp 34 Đécnếch 3) hiện có thành một Biếclích ,  tức là một liên minh. Nghị quyết mạnh dạn đó đã làm cho chính phủ phải sợ hãi không dám công nhận Biếclích . Nên chú ý là thái độ của chính phủ đối với công nhân đã thay đổi nhiều. Khi chiến tranh kết thúc, khi vấn đề đặt ra là phải đuổi cổ những người nước ngoài thì chính phủ luôn luôn tỏ ra dễ dãi với công nhân, nhưng khi đụng đến vấn đề tổ chức công nhân thì chính phủ tỏ ra cũng phản động như tất cả mọi chính phủ tư bản chủ nghĩa khác. Do đó, sự phủ quyết của chính phủ không làm ai ngạc nhiên cả. Vả lại, mọi người biết rằng từ khi ký hoà ước Lôdannơ thì bọn tư bản Thổ Nhĩ Kỳ đã ăn cánh với bọn tư bản nước ngoài, - bọn này sau khi đã tàn sát hàng vạn người Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ khổ sở nhưng vẫn không đặt được ách thực dân lên Thổ Nhĩ Kỳ, thì nay lại xâm nhập một cách hoà bình vào đất nước Trăng lưỡi liềm. Việc chính phủ từ chối không công nhận tổ chức Biếclích , chẳng khác nào một nụ cười duyên dáng dùng để khuyến khích giới tài chính quốc tế mà ba phần năm là nguồn gốc Pháp.

    Nhưng giai cấp vô sản Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến được một bước đầu tiên. Nhất định họ sẽ còn tiến nữa.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.1, tr.224-226.  

    Năm 1925

    Năm 1925 (*)

    GỬI ĐOÀN CHỦ TỊCH QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Quảng Châu, ngày 10-1-1925

    Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản,

    Các đồng chí thân mến,

    Quốc dân đảng (Quốc dân đảng Đông Dương), chiều hôm qua đã kết nạp người đảng viên thứ tư.

    Một trong số những đảng viên đó, xế trưa nay, đã đi Trung Kỳ và Lào, với nhiệm vụ là tổ chức những cơ sở ở các xứ đó và tìm thanh niên để đi học Trường đại học cộng sản chủ nghĩa ở Mátxcơva.

    Các đồng chí cho tôi biết các đồng chí muốn nhận bao nhiêu sinh viên An Nam vào học Trường đại học ấy.

    Ngày 15 sắp tới, một đảng viên thứ hai sẽ được gửi đến Bắc Kỳ để lấy 5 người Bắc Kỳ sang học Trường nông dân ở Quảng Châu. Những người này sẽ học cách tổ chức như thế nào.

    Phải chi phí cho phái viên thứ nhất là 290 đôla và cho phái viên thứ hai 230 đôla. Số tiền đó là do số tiền đi đường còn lại của tôi, gộp với số tiền lương mà Rôxta đã ứng trước cho tôi.

    Q.D.Đ 1) có thể có nhiều triển vọng, nhưng những phương tiện tài chính của nó rất eo hẹp: ít ra là tới lúc này, những phương tiện ấy chỉ do tôi cung cấp thôi.

    Chuyến thư sắp khởi hành rồi. Tôi xin kết thúc bản báo cáo của tôi. Chuyến thư sau, tôi sẽ gửi các đồng chí một bản báo cáo chi tiết hơn.

     

    Xin gửi lời chào cộng sản
     NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    T.B. Yêu cầu các đồng chí chỉ thị cho các đại diện của các đồng chí ở Quảng Châu cũng phải chăm lo đến Đông Dương.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr.19-20.  

    Năm 1926

    Năm 1926 (*)

    BÀI PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II QUỐC DÂN ĐẢNG TRUNG QUỐC 1)

    Thưa các đồng chí, thưa các anh em,

    Chúng tôi vui mừng được gặp mặt và nói chuyện với các vị, đồng thời cũng rất cảm tạ chư vị đã chân thành hoan nghênh. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng tư tưởng cách mạng đã thâm nhập vào toàn thể dân chúng, và đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này càng phát huy chủ nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý, để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu. (Vỗ tay).

    Các đồng chí, chúng tôi muốn nói rằng, cách mạng cũng giống như khám bệnh vậy, trước hết phải biết căn nguyên của bệnh. Tất cả các dân tộc bị áp bức làm cách mạng là do mong muốn thoát khỏi nỗi thống khổ của dân tộc bị áp bức, cho nên tôi muốn trình bày về những nỗi thống khổ mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng.

    Thưa các đồng chí,

    Dân tộc An Nam chịu đau khổ đã sáu mươi năm, dân tộc An Nam bị xâm lược và áp bức đã sáu mươi năm. Chúng nó thường rêu rao rằng người Pháp chúng tôi đem văn hoá phương Tây đến, chúng tôi đối xử hoà bình với người An Nam các anh là vì chúng tôi muốn làm cho các anh được sung sướng. Nhưng sự thật là sáu mươi năm nay, chúng nó chỉ càng ngày càng áp bức thậm tệ nhân dân An Nam. Bây giờ xin nói qua một chút nhân dân An Nam đã cực khổ như thế nào trong sáu mươi năm qua để các đồng chí cách mạng ta được rõ.

    Nỗi thống khổ thứ nhất mà người Pháp mang đến cho nhân dân An Nam chính là thuế thân. Bất cứ ai, từ mười tám tuổi trở lên, đều phải đóng thứ thuế này. Sau khi đóng thuế, Chính phủ phát cho một tấm thẻ để làm bằng chứng, không được để mất; nếu mất thì bị chúng bắt, đến khi nào nộp tiền lần thứ hai mới được tha. Chúng cho cảnh binh đi khám thẻ khắp mọi nơi mọi lúc, hầu như cứ một giờ khám xét một lần, vì thế dân chúng khổ không kể xiết. Đó là một kiểu người Pháp áp bức dân An Nam. Ngoài thuế thân ra, còn thuế nhà, thuế hàng hoá, v.v.. Không những nguồn lực kinh tế của người An Nam hoàn toàn bị người Pháp nắm giữ là chuyện đương nhiên, mà còn làm tăng thêm gánh nặng cho người An Nam, khiến nhân dân An Nam không còn khả năng sinh tồn về kinh tế nữa. Tất cả đất đai của An Nam, đại bộ phận cũng bị người Pháp chiếm làm tài sản, người An Nam không được quyền lập nghiệp. Đại thể, một bộ phận là sở hữu Chính phủ, một bộ phận là đất đồn binh của người Pháp, một bộ phận là đất các giáo sĩ chiếm cứ. Chỉ có một phần rất nhỏ là đất thổ cư của người An Nam thì lại phải đóng thuế nhà.

    Tôi có thể nêu một ví dụ để chứng minh sự tàn ác của ách áp bức của người Pháp. Như thuế thân, năm 1914, mỗi tháng tôi đóng mười phrăng, nhưng đến năm ngoái, năm 1924, đã tăng lên đến một trăm phrăng. Đủ thấy sự tàn ác của bọn xâm lược Pháp là thế nào. ấy là chưa kể ngoài công trái như ở nước Pháp, chúng còn bắt nhân dân An Nam phải mua hàng của Pháp như một thứ thuế hàng hoá. Hàng hoá đó là gì? Nhiều nhất là rượu do Pháp sản xuất. Chúng làm ra thứ rượu tồi tệ nhất rồi bắt dân An Nam mua. Dù anh là chính khách, nhà buôn, thợ thuyền hay dân cày gì gì, ít nhất mỗi người một chai. Không thể không mua. Ngoài rượu ra, còn một thứ tệ hại hơn, độc hơn, đó là phải mua thuốc phiện. Thuốc phiện có lẽ là một khoản lớn trong dự toán thu nhập của nước Pháp, chiếm đến một phần tư dự toán. Tính thành con số, mỗi năm là bốn trăm triệu phrăng, đủ thấy nỗi khổ của người An Nam. Nhưng sự xâm lược của đế quốc Pháp không chỉ có thế. Chiến tranh lại là một chuyện lớn nữa. Hồi chiến tranh Âu châu, người Pháp bắt dân An Nam đi lính, tổng số trên mười vạn. Họ phải bỏ xác ngoài mặt trận chẳng được nhìn thấy quê hương. Cho nên, quả thật là nhân dân An Nam chẳng những phải nộp tiền mà còn phải nộp mạng cho chúng.

    Còn một điểm nữa. Đế quốc Pháp một mặt áp bức dân tộc An Nam, mặt khác lại cấm những người anh em chống áp bức. Bởi vì chúng còn sang Trung Quốc dùng súng gươm giết những người anh em Trung Quốc của chúng tôi. Quả thật, đế quốc Pháp chưa bao giờ vừa lòng với sự áp bức của chúng, đã phải nộp thuế thân, còn bắt đóng thuế hàng hoá, đã mua rượu, còn bắt mua thuốc phiện, đã hy sinh tính mạng cho chúng mà chúng chẳng hề mảy may thương xót. Vậy mà người Pháp lại còn có một cách nữa làm khổ nhân dân An Nam, đó là làm thuê. Mỗi năm chúng bắt hàng mấy chục vạn người An Nam vào làm thuê trong các xưởng máy của Pháp. Hoàn toàn là làm trâu ngựa nô lệ cho chúng, không được một chút lợi lộc gì.

    Thứ hai, người An Nam ở trên đất nước mình mà tuyệt đối không có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, ngay cả đi lại cũng chẳng được tự do, trong nước mình mà mình cũng không được tuỳ ý đi lại. Thí dụ, từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy thông hành mới được. Đi ra nước ngoài tất nhiên càng khỏi phải nói. Nếu làm trái thì phải xử tội rất nặng. Theo báo cáo của Chính phủ Pháp, mỗi xã hầu như tháng nào cũng có mấy trăm người bị xử tội như vậy.

    Về giáo dục, trước kia người An Nam học sách Trung Quốc, chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc. Từ ngày người Pháp chiếm An Nam, thấy người An Nam cũng giống người Trung Quốc, cho nên cũng ra lệnh học sách Trung Quốc. Không ngờ từ sau Cách mạng Tân Hợi 37 của Trung Quốc, thấy rằng cho tiếp tục học sách Trung Quốc thì không ổn, cho nên chúng đã không cho phép người An Nam đọc sách Trung Quốc và học chữ Trung Quốc nữa. Chẳng những thế, chúng càng không muốn để cho người An Nam biết tình hình gần đây của Trung Quốc, bởi vì điều khiến bọn đế quốc không vui hơn cả là ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức.

    Các đồng chí! Cách xâm lược của bọn đế quốc chúng nó, về vật chất là dùng đủ loại thuế má và các chất độc như thuốc phiện, về tinh thần là chính sách ngu dân; đó là những âm mưu thâm độc của chúng để xâm lược An Nam.

    Thưa các đồng chí,

    Bọn đế quốc cố nhiên là áp bức người An Nam, nhưng đồng thời chúng cũng áp bức cả người Trung Quốc. Điều đó, các đồng chí có mặt trong Đại hội đại biểu lần thứ II này chắc chắn đều biết. Vì người Trung Quốc cũng bị đối xử như vậy. Họ cũng phải đóng thuế thân. Và tất nhiên, dù là gái trai già trẻ, họ cũng không được tự do đi lại, muốn đi lại cũng phải có thẻ thông hành. Đồng thời, chúng còn cấm cả tổ chức hội họp, trục xuất các đồng chí Quốc dân đảng. Vì chúng cho rằng, phàm là người của đảng cách mạng thì đều nguy hiểm, cho nên không đuổi không được. Có điều, cách chúng làm thật là hiểm độc, bởi vì chúng đã lợi dụng những phần tử xấu trong người Trung Quốc để chống lại các đồng chí cách mạng, chống lại Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Tôi có thể nêu một ví dụ, như lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp cấm không cho phép làm. Tôi có thể nói rằng, ở An Nam bọn đế quốc chẳng những dùng mọi cách để chống lại cách mạng, mà đồng thời còn tìm mọi cách công kích Quốc dân đảng, công kích Chính phủ Quảng Châu.

    Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc. (Vỗ tay).

    Đế quốc Pháp chẳng những thấy cách mạng thì sợ, mà đặc biệt thấy cách mạng Trung Quốc lại càng sợ. Cho nên, chúng không ngần ngại dốc toàn lực ra để giúp bọn phản cách mạng, giúp vũ khí cho bọn Trương Tác Lâm, hòng can thiệp vào phong trào cách mạng quốc dân của chúng ta.

    Thưa các đồng chí, như đồng chí Uông Tinh Vệ nói, cách mạng không có biên giới quốc gia. Dù là Ai Cập, Marốc hay tất cả các dân tộc bị áp bức nào, hễ cùng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, thì phải cùng nhau liên hiệp lại. Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo chủ nghĩa đế quốc trên thế giới! Quốc dân đảng nhất định giúp chúng tôi giải phóng, giúp tất cả các dân tộc bị áp bức giải phóng. Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta. (Vỗ tay).

    Hôm nay tôi rất vui mừng, bởi vì Quốc dân đảng có được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này, sắp tới nhất định sẽ giúp nhiều cho người cách mạng. Vì thế tôi xin chúc: Quốc dân đảng Trung Quốc muôn năm! Cách mạng Trung Quốc thành công muôn năm! Cách mạng An Nam thành công muôn năm! Cách mạng thế giới thành công muôn năm!

    (Chủ tịch: Đề nghị mọi người cùng hô to: Cách mạng An Nam thành công muôn năm!).

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr.213-217.

    ___________

    1) Phát biểu lấy tên Vương Đạt Nhân, bí danh của Nguyễn Ái Quốc, trong phiên họp ngày 14-1-1926.

    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.

     

     

     

    LÊNIN VÀ PHƯƠNG ĐÔNG

    Quốc tế thứ nhất đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

    Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Văngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sămbéclanh đã đàn áp nhân dân Ấn Độ, Xuđăng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

    Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

    Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

    Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ăn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

    Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

    Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

    Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

    Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

    Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

    Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 218-220.

     

     

     

    BÁO CÁO GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    (Báo cáo của Đông Dương)

    Đồng chí thân mến,

    A. Sau đây là những việc tôi đã làm cho Đông Dương từ khi đến đây:

    1. Tổ chức một tổ bí mật.

    2. Tổ chức một Hội liên hiệp nông dân (những người An Nam sống ở Xiêm).

    3. Tổ chức một tổ thiếu nhi (7) lựa chọn trong con em nông dân và công nhân. Các em đang ở Quảng Châu và được nuôi dạy bằng tiền của chúng tôi.

    4. Tổ chức một tổ phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng 4 gồm khoảng 12 hội viên).

    5. Tổ chức một trường tuyên truyền. Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khoá thứ nhất được 10 học viên. Khoá thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người.

    Vì đi đường thì lâu ngày (khoảng 2 tuần lễ), nguy hiểm và tốn kém nhiều và khả năng tài chính của chúng tôi thì eo hẹp (với tiền lương của tôi, tiền lương của một trong số các đồng chí của tôi và một ít trợ cấp của các đồng chí Nga), nên công việc không được nhanh chóng như chúng tôi mong muốn.

    B. Về tình hình chính trị Đông Dương thì đồng chí hãy đọc bài của tôi gửi cho Inprekorr 1) kèm theo đây.

    C. Ở Pari có một tổ chức của thuộc địa - Hội liên hiệp các thuộc địa - trong đó có nhiều người An Nam. Những người An Nam này có 2 tờ báo: tờ Le Paria bằng tiếng Pháp và tờ L'Ame Annamite 2) bằng tiếng quốc ngữ. Trong số người An Nam đó có một người, Nguyễn Thế Truyền, mà các đồng chí chúng ta ở Ban nghiên cứu thuộc địa biết rõ. Tôi nhờ đồng chí giúp tôi liên lạc với Nguyễn Thế Truyền do Ban nghiên cứu thuộc địa làm trung gian và nói với Nguyễn Thế Truyền gửi các tờ báo đó cho tôi. Tất cả thư từ gửi cho tôi phải qua Mátxcơva, vì không thể liên lạc trực tiếp được.

    D. Ở đây, chúng tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần "Thanh niên" .

    3. Từ 20 tháng 4, tôi có gửi cho hiệu sách của Đảng 550 phrăng và nhờ gửi cho tôi báo L' Humanité , báo La Vie Ouvrière và tạp chí Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, mà các đồng chí Trung Quốc đã yêu cầu tôi cung cấp. Hôm nay là ngày 3 tháng 6 mà tôi vẫn chưa nhận được gì cả. Nhờ đồng chí hỏi giùm hiệu sách vì sao?

    Cảm ơn và gửi đồng chí lời chào cộng sản thân thiết.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Địa chỉ: Nilốpxki

    Nhờ ông lãnh sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết tại Quảng Châu chuyển.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 223-224.

    ______________

    1)Tên viết tắt của tờ tạp chí Thư tín quốc tế (Correspondance internationale), cơ quan nghiên cứu lý luận của Quốc tế Cộng sản.

    2) An Nam hồn.

     

     

     

    GỬI UỶ BAN TRUNG ƯƠNG THIẾU NHI   1)

    Các đồng chí thân mến,

    Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam, bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức, và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm. Các em còn nhỏ nhưng các em đã đau khổ nhiều. Các em đã để cha mẹ ở nhà cách hàng nghìn kilômét để bí mật đến Trung Quốc. Nhiều em có cha mẹ bị người Pháp bắt giam vì các em đã bỏ gia đình đi ra nước ngoài, như những người cách mạng!

    Khi chúng tôi nói với các em về Cách mạng Nga, về Lênin và về các bạn, - những chiến sĩ lêninnít Nga nhỏ tuổi - thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn, để thăm các bạn, ở với các bạn, học tập với các bạn, và để trở thành như các bạn - những chiến sĩ lêninnít chân chính nhỏ tuổi.

    Chúng tôi đã hứa với các em là sẽ viết thư cho các bạn về vấn đề đó. Và giờ đây tôi đã làm việc ấy. Chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam của các bạn, có phải không? Nếu các bạn đồng ý cho các em đến thì các bạn sẽ làm những việc sau đây:

    1. Uỷ nhiệm cho đồng chí Bôrôđin, đại diện của Liên Xô tại Quảng Châu, làm mọi điều cần thiết cho hành trình của các em (gửi thư của các bạn cho Quốc tế Cộng sản hay cho Bộ Dân uỷ ngoại giao) 2) .

    2. Nói rõ các bạn có thể tiếp nhận bao nhiêu thiếu nhi An Nam.

    3. Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét? (Vì các em thiếu nhi đó đến từ một nước rất nóng, phải chọn thời gian cho các em đi).

    4. Tới Mátxcơva thì các em sẽ đến địa chỉ nào?

    Tôi đợi các bạn trả lời và gửi đến các bạn lời chào cộng sản.

    Ngày 22 tháng 7 năm 1926

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Địa chỉ của tôi: Nilốpxki, Hãng thông tấn Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 225-226.

    _______________

    1) Uỷ ban trung ương Đội thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Lênin.

    2) Bản tiếng Pháp viết "Narkomindel".

     

     

     

    GỬI ĐẠI DIỆN ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN PHÁP TẠI QUỐC TẾ THANH NIÊN CỘNG SẢN

    Đồng chí thân mến,

    Chúng tôi đã đưa đến Quảng Châu một số trẻ em An Nam. Chúng tôi đã lập một nhóm thiếu nhi. Chúng tôi muốn gửi 3 hay 4 em qua Nga để các em được tiếp thụ một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp. Tôi đã viết thư cho Uỷ ban trung ương thiếu nhi Mátxcơva. Tôi đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi hơn.

    Tôi chờ thư trả lời của đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

    Địa chỉ:

    Ô. Lu, Thông tấn xã Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

    (Đồng chí hãy đưa thư của đồng chí cho người liên lạc của Quốc tế Cộng sản và đừng gửi qua bưu điện, vì ở đây tôi hoạt động bất hợp pháp).

    Quảng Châu, ngày 22 tháng 7 năm 1926

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 227.  

    Năm 1927

    Năm 1927 (*)

    BÁO CÁO GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    1) Từ tháng 11-1924, tôi được Ban phương Đông và Đảng Cộng sản Pháp phái đến Quảng Châu để làm việc cho Đông Dương.

    Vì trong suốt thời gian ấy (1924-1927), tôi không nhận được quỹ cũng không được lương của Quốc tế Cộng sản, tôi phải làm việc dịch thuật để kiếm sống và để phụ thêm cho công tác mà nó ngốn từ 75 đến 80% tiền lương của tôi, cộng với tiền đóng góp của các đồng chí.

    Mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu, 2) Xuất bản 3 tờ tuần báo nhỏ, 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ, 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một uỷ ban gồm 5 uỷ viên ở Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó.

    Tuy nhiên việc đi lại của các sinh viên và tuyên truyền viên, việc tổ chức các lớp học, v.v. tốn kém nhiều tiền (cho mỗi sinh viên từ Đông Dương đến Quảng Châu và trở về, chúng tôi chi hết 200 đôla). Vả lại sự giúp đỡ tài chính của các đồng chí không đều đặn và khó nhận nên tôi không thể tiếp tục làm như vậy được. Vì thế những đồng chí người Nga ở Quảng Châu đã tán thành dự kiến đi Mátxcơva để xin tiền của tôi.

    Khi đoàn Đại biểu Quốc tế Công nhân đến Quảng Châu, đồng chí Đôriô (đại diện Đảng Cộng sản Pháp), đồng chí Vôlin (đại diện những đồng chí người Nga ở Quảng Châu) và tôi, chúng tôi đã chuẩn bị và gửi Ban phương Đông một kế hoạch công tác và một dự án tài chính. Cho đến ngày 5 tháng 5, tôi không nhận được câu trả lời về vấn đề đó, cũng không nhận được chỉ thị nào khác.

    2) Khi cuộc đảo chính nổ ra 1) , 3 trong 5 uỷ viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt, tướng Lý Tế Thâm có quan hệ mật thiết với bọn đế quốc Pháp ở Đông Dương và ở Hạ Môn, một đồng chí người Nga duy nhất có trách nhiệm lúc đó đang ở Quảng Châu cũng không thể giúp đỡ được chúng tôi, hoặc cho một lời khuyên nào, thậm chí ngừng trả tiền cho tôi với tư cách là người phiên dịch. Không thể làm gì được, trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm.

    3) Chính trên tàu từ Thượng Hải đến Vlađivôxtốc, đồng chí Đôriô đã gặp tôi và đề nghị trước khi đi Xiêm, hãy đến Pari đã. Đồng chí nói để đồng chí sẽ hỏi Ban Chấp hành.

    Ở Vlađivôxtốc, đồng chí Vôitinxki từ Trung Quốc đến sau tôi vài ngày, đã đề nghị tôi quay trở lại Thượng Hải.

    Như vậy, vấn đề đặt ra với tôi là: tôi phải theo đề nghị nào chứ không thể nhận cả hai đề nghị cùng một lúc. Tôi phải đi đâu, Xiêm hay Thượng Hải ? Công tác của tôi ở nước nào cần hơn cả ? Phải chăng chúng tôi sẽ thử tổ chức một số lính An Nam ở Thượng Hải (vả lại theo họ nói với tôi thì họ đã sẵn sàng trở về nước) và bỏ lại tất cả công việc đã được bắt đầu ở Đông Dương ?

    Vấn đề đó do các đồng chí quyết định. Tôi chỉ được phép nói quan điểm của tôi như sau:

    Dù rằng về bản thân và về mặt vật chất thì đối với tôi, tôi ở Thượng Hải sẽ tốt hơn nhiều, nhưng tôi muốn đi Xiêm hơn. a) Vì công tác trong binh lính An Nam ở Thượng Hải chắc chắn là rất hay, song công việc hoặc nói cho đúng hơn là sự tiếp tục công việc ở Đông Dương - dù kết quả còn xa xôi và ít nhưng lại quan trọng hơn. b) Vì ở Thượng Hải chứ không phải ở Xiêm, nhiều đồng chí khác có thể thay tôi. c) Vì những tin tức về cuộc phản biến Trung Quốc do đế quốc Pháp truyền lan đang gieo rắc sự nhụt chí trong người An Nam và trong lúc này, nếu chúng ta để công tác không liên tục thì tất cả những gì chúng ta đã làm trong 3 năm qua sẽ mất hết và chúng ta sẽ rất khó làm lại từ đầu vì tâm trạng những người An Nam đã nhiều lần thất vọng.

    Vì thế, tôi tiếp tục đi Mátxcơva để trình bày yêu cầu của tôi.

    4) Yêu cầu của tôi : Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng với những con số phù hợp với hoàn cảnh. Biết sự khó khăn về liên lạc từ Đông Dương đi Mátxcơva, và định thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm, tôi trình bày với các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau:

    Lương tháng 150 đôla trong 2 năm
    (cho tôi và những người giúp việc)           3.600 $

    Quỹ để công tác trong 2 năm
    (mỗi tháng 200 đôla)                    
    4.800 $

    Tiền chi bất thường                        1.100 $

    Tổng cộng                                    9.500 $

    Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Băng Cốc.

    Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) đưa tôi vào bệnh viện, 2) khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi 3) và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.

    Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

    Mátxcơva tháng 6-1927

    1) Cấu tạo của một phân ban

    2) Việc gửi các sinh viên

    3) Chương trình nghiên cứu và tư liệu 2) .

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 241-244.

    _____________

    1) Cuộc chính biến phản cách mạng tháng 4-1927 của Tưởng Giới Thạch.

    2) Ba dòng thêm này viết tay.

    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.

     

     

     

     

    SỰ THỐNG TRỊ CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG

    CUỘC XUNG ĐỘT "HOA - VIỆT"

    Từ 19 đến 22-8, giữa người An Nam và Hoa kiều ở Hải Phòng, một hải cảng ở Bắc Kỳ, đã xảy ra những cuộc ẩu đả đổ máu. Có 8 Hoa kiều chết và 125 người bị thương, 8 nhà máy và 12 căn nhà Hoa kiều bị đốt cháy. Báo chí Pháp ở Đông Dương và ở Pháp cho rằng cuộc xung đột này chỉ liên can đến người An Nam và Hoa kiều thôi, và nguyên nhân là do hai dân tộc đó "hiềm thù" nhau, còn người Pháp thì không dính dáng gì đến vụ xung đột ấy cả.

    Khẳng định như vậy là không đúng. Chẳng phải hôm nay mà cũng không phải hôm qua người Hoa mới đến Đông Dương. Họ đã ở đây hàng thế kỷ nay rồi. Và từ khi họ đến ở đây, họ đã luôn luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người An Nam và các "chú" khách của họ cả.

    Cuộc xung đột hiện nay, cũng như cuộc tẩy chay hàng hoá của Hoa kiều năm 1919 là do bọn thực dân Pháp gây nên vì những lý do sau đây:

    Ít lâu nay, trong dân chúng An Nam, đang có một sự sôi sục mạnh mẽ: những cuộc biểu tình của những người có tinh thần dân tộc, những cuộc bãi khoá của giới đại học, những cuộc bãi công của thợ thuyền, những cuộc nổi dậy của nông dân, hoạt động của các tổ chức cách mạng bí mật, việc bầu những cựu chính trị phạm vào "Viện dân biểu" bản xứ, v.v. và v.v.. Tất cả tình hình ấy đã làm cho bọn thực dân Pháp hoảng sợ, chúng tìm mọi cách để lái hoạt động chính trị đó đi theo một hướng khác.

    Trong năm qua, người An Nam đã tỏ ra có nhiều cảm tình với cách mạng Trung Quốc. Khi tàu chiến Misơlê của Pháp, trên đường sang Trung Quốc, cập bến Sài Gòn để tu sửa, anh em công nhân xưởng tàu ở hải cảng đó đã đình công không chịu tu sửa. Cũng năm ấy, khi năm Hoa kiều ở Sài Gòn bị nhà chức trách Pháp trục xuất vì tuyên truyền cách mạng, thì hàng nghìn người An Nam đã tự động họp nhau lại để tiễn chân. Mối tình thân thiện Hoa - Việt ấy đã làm cho bọn Pháp rất hoảng sợ.

    Hoa kiều sống ở Đông Dương đều bị bọn thực dân Pháp ra sức áp bức và bóc lột. Thuế khoá nặng nề. Cũng như người An Nam, Hoa kiều đều bắt buộc phải có giấy thông hành mới được đi từ nơi này đến nơi khác, tốn rất nhiều tiền và mất nhiều thì giờ, đồng thời lại bị trở ngại rất lớn trong công việc buôn bán. Công nhân Hoa kiều không có quyền tự do tổ chức. Tất cả những sự việc đó và những sự hà lạm khác đã gây nên một phong trào chống Pháp trong giới người Hoa, phong trào này kết hợp với tinh thần quật khởi của người An Nam sẽ là một nguy cơ rất lớn cho chủ nghĩa đế quốc.

    Chính vì tất cả những lý do ấy đã khiến đế quốc Pháp tìm cách chia rẽ Hoa kiều và người An Nam, làm cho họ chống lẫn nhau.

    Nhưng âm mưu của bọn đế quốc từ ngày 19 đến 22-8 quá ư lộ liễu khiến ngay những người không chú ý lắm cũng thấy rõ được. Trong một nước có chế độ kiểm duyệt thường xuyên, có tất cả những viên chức kể cả các đốc học và giáo viên đều làm mật thám, một nước mà mỗi tháng người ta trả ba mươi đồng cho mỗi học sinh tình nguyện làm mật thám, một nước mà bất kỳ cuộc hội họp và tập hợp nào cũng đều bị cấm đoán cả, làm thế nào mà trong những điều kiện ấy, người ta lại có thể tổ chức những cuộc ẩu đả đổ máu như vậy được? Làm sao mà bọn cảnh sát và nhà chức trách Pháp - luôn luôn được thông báo về bất kỳ một hành động nhỏ nào của người bản xứ và lúc nào cũng sẵn sàng đàn áp - lại chỉ can thiệp rất muộn, sau khi đã có nhiều người bị giết chết, nhiều thiệt hại đã xảy ra? Vì sao mà những cuộc ẩu đả ấy lại có thể kéo dài từ 19 đến 22-8 mà không có lấy một biện pháp nào để ngăn chặn cả?

    Bởi vậy, người ta bắt buộc phải kết luận rằng cuộc xung đột ấy không những được bọn đế quốc Pháp làm ngơ mà chúng còn có dụng ý nhen lên và gây ra nữa.

    VIỆN "ĐUMA" AN NAM

    Do sự thúc ép của quần chúng bản xứ, bọn đế quốc Pháp buộc phải nhân nhượng hoặc nói cho đúng hơn là giả bộ nhân nhượng. Chúng phái một "đảng viên Đảng Xã hội" sang làm toàn quyền. Chúng tung ra khẩu hiệu "Pháp - An Nam hợp tác". Chúng tổ chức ra "Viện dân biểu".

    Song kết quả lại hoàn toàn trái với điều mong muốn của chúng. Sau một thời kỳ nuôi ảo tưởng, người An Nam bây giờ đã biết thế nào là một đại biểu của Quốc tế thứ hai. Họ thấy rằng, sự "hợp tác" được ca tụng nhiều như thế đã thể hiện thành những sự bóc lột bỉ ổi và những cuộc đàn áp thẳng tay đối với bất kỳ một cuộc biểu dương chính trị nào của người bản xứ.

    Viện "Đuma" An Nam (không phải do cuộc đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra) không hề xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình.

    Trong các cuộc bầu cử vừa qua, những người ra ứng cử, mà nhiều người biết rõ những hoạt động yêu nước của họ và việc họ chỉ trích chế độ cai trị của người Pháp, cũng như những chính trị phạm đi đày về, đều trúng cử. Mặc dù nhà chức trách Pháp dùng mưu kế và hăm doạ, nhưng không có một người ứng cử nào do Chính phủ giới thiệu, lại trúng cử cả.

    Tất cả những "vị dân biểu" này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi năm hội họp một lần và lúc nào họp là do khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp, hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên chức người Pháp chủ toạ. Nhưng cái đó vẫn không làm cho các vị đại biểu An Nam đáng thương ấy rụt rè lên tiếng và phát hiện ra được những điều khá bổ ích.

    Trong kỳ họp hồi tháng 8, "người phát ngôn" 1) của Viện dân biểu Trung Kỳ đã tuyên bố:

    "Chúng tôi không có phòng để làm việc, không có ngân sách, không có gì hết. Năm ngoái, thậm chí chúng tôi cũng không có cơ hội nào để thảo luận được. Trong số hàng trăm yêu sách của chúng tôi, không một yêu sách nào được thực hiện cả...

    "Chính bản thân các đại biểu cũng không có quyền ăn nói, thử hỏi trong những điều kiện như vậy, làm thế nào mà họ lại có thể giúp đỡ được người khác? Thế mà nhân dân lại tin rằng chúng tôi có quyền tham gia giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến đất nước nên trông mong nhiều ở chúng tôi... Tờ thông tri tháng 2 vừa rồi của Chính phủ thuộc địa đã hoàn toàn làm mất hết phẩm cách của chúng tôi, nên chúng tôi không thể làm được một việc gì cả. Thật là nhục nhã và buồn thảm biết bao!...

    "Với những thủ đoạn đàn áp của Chính phủ sử dụng trong tất cả mọi cơ hội, thì tất phải có an ninh và trật tự. Thế mà chẳng có kết quả gì. Các cuộc rối loạn vẫn liên tiếp nổ ra... Nhiều người An Nam đã bị hành hạ, truy nã, bắt giữ và cầm tù vì tội đã đọc báo chí đã có phép của sở kiểm duyệt. Cả nhà đều bị phạt nếu người nhà phạm một tội là phát biểu trong một cuộc họp. Trẻ em chỉ không đi học một buổi là bị đuổi và như thế là suốt đời bị dốt nát... Vì trung thành với lợi ích của nhân dân, mà một số đại biểu đã bị thoá mạ trước công chúng...".

    Viên khâm sứ đã trả lời một câu tinh tế. Ông ta trình bày chương trình của Chính phủ thuộc địa, chương trình đó có thể tóm tắt như sau: "Hỡi dân An Nam! Các người hãy nhẫn nhục mà chịu đựng" và ông ta nói: "Sau khi Chính phủ đã trình bày rất rõ ràng và dứt khoát rồi, nếu các ông còn ngần ngại không chấp thuận hoặc nếu các ông phản đối lại mà không có lý do căn bản, thì Chính phủ sẽ tin rằng các ông không thiết gì đến tương lai của xứ này... Các ông nên biết rằng, muốn văn minh và tiến bộ, thì phải có kỷ luật và phải tôn trọng chính quyền đã được thiết lập".

    ĐÓI, DỊCH TẢ, THUẾ KHOÁ, V.V..

    Dân số Đông Dương giảm đi nhanh chóng vì nạn đói kém, dịch tả và... chủ nghĩa đế quốc Pháp.

    Số người chết so với số người sinh ra nhiều hơn gấp bội. Số trẻ em chết thật là khủng khiếp. Ta hãy lấy thành phố Hải Phòng làm thí dụ. Theo thống kê hồi tháng 7-1927, trong thành phố này, người An Nam sinh được 147 trẻ. 81 là con trai và 66 là con gái. Cùng trong thời gian đó, có 204 người chết, trong đó có 84 là trẻ em. Trong số 147 trẻ em mới đẻ, chỉ còn sống được 63 em!

    Để chứng minh rõ rằng vì nghèo khổ mà người An Nam bị chết nhiều, chúng ta hãy so sánh những thống kê về số người sinh ra và chết đi giữa người nước ngoài và người bản xứ cùng ở thành phố đó. Đối với người Âu, cứ số trẻ sinh ra là 8 thì số người chết là 3, trong số chết đó có một là trẻ em. Đối với Hoa kiều, cứ số trẻ sinh ra là 22 thì số người chết là 23, trong số chết này có 6 trẻ em.

    Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Trung Kỳ) đều bị nạn dịch tả hoành hành. Dân cư hoảng sợ. Đầu tháng 8, mỗi ngày có hàng trăm người ốm được đưa đến nhà thương Huế. Chỉ riêng tỉnh Quảng Nam đã có hơn 7.000 người bị bệnh trong tháng 8.

    Chưa phải đã hết. Trời nắng như đốt làm cho lúa má khô héo trước khi nảy hạt. Trời nắng như thế là nguy cơ của nạn đói, đồng thời lại làm cho nạn dịch hạch tăng lên. Mặt khác, Bắc Kỳ thì bị tàn phá vì đói kém do nạn lụt gây ra. Để bảo vệ người Pháp ở Hà Nội khỏi bị cảnh lụt lội, khi Bắc Kỳ bị nước tràn về, Chính phủ thuộc địa đã cho phá vỡ đê Gia Lâm ở phía bên kia Hà Nội, để tháo nước về phía ấy. Họ làm như vậy mà không báo cho người bản xứ biết trước, nên 20.000 người An Nam đã bị cơ quan cai trị của người Pháp làm cho bị chết đuối!

    Sau những trận lụt, người An Nam ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã tổ chức quyên góp để cứu giúp các đồng bào bất hạnh của mình. Nhà chức trách Pháp đã xoáy mất phần lớn số tiền đó bỏ vào quỹ để nâng giá đồng phrăng lên! Mặc dù những hiện vật quyên góp rất nhiều, nhưng nhà chức trách chỉ phân phát cho những người bị nạn mỗi người một tháng được có hai kilô rưỡi gạo thôi!

    Chỉ riêng ở Bắc Kỳ, người ta đã tính ra có đến 155 đồn điền lớn thuộc quyền của người Pháp, mỗi cái rộng trên 200 hécta. Trong số đồn điền ấy, 11 cái rộng trên 500 hécta, 4 cái trên 600 hécta, 5 cái trên 700 hécta, 1 cái trên 800 hécta, 5 cái trên 900 hécta, 9 cái trên 1.100 hécta, 7 cái từ 1.200 hécta đến 1.500 hécta, 2 cái từ 1.500 hécta đến 2.500 hécta, 3 cái từ 3.150 đến 3.750 hécta, 1 cái trên 4.100 hécta, 1 cái trên 5.500 hécta, 1 cái trên 6.900 hécta, 1 cái trên 7.500 hécta, 1 cái trên 8.515 hécta.

    Rồi đến 34 khu mỏ không những chỉ có mỏ mà còn có ruộng đất ở xung quanh nữa, trong số đó có 7 khu rộng từ 800 đến 1.500 hécta, 8 khu từ 1.500 đến 2.900 hécta, 1 khu trên 3.000 hécta, 2 khu từ 3.600 đến 4.900 hécta, 1 khu trên 6.100 hécta, 3 khu từ 13.000 đến 13.800 hécta, 1 khu trên 18.000 hécta, 1 khu trên 22.000 hécta, 1 khu trên 25.000 hécta.

    Như vậy thì người An Nam chẳng còn được bao nhiêu nữa. Bất chấp tất cả tình trạng đó và mặc dù xứ này đã bị đủ thứ tai hoạ tàn phá, người Pháp vẫn cứ tiếp tục tăng thuế khoá. Ngân sách của Bắc Kỳ sắp được nâng từ 18.017.180 (?) đến 18.200.670 đồng. Chế độ của đế quốc Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

    N.K

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr.249-254.

    ____________

    1)Trong nguyên bản: “ speaker ”.

     

     

     

    ĐƯỜNG CÁCH MỆNH

    Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong 1) .

    LÊNIN

    BỊ ÁP BỨC DÂN TỘC LIÊN HỢP HỘI TUYÊN TRUYỀN BỘ ẤN HÀNH

    TƯ CÁCH MỘT NGƯỜI CÁCH MỆNH

    Tự mình phải:

    Cần kiệm.

    Hoà mà không tư.

    Cả quyết sửa lỗi mình.

    Cẩn thận mà không nhút nhát.

    Hay hỏi.

    Nhẫn nại (chịu khó).

    Hay nghiên cứu, xem xét.

    Vị công vong tư.

    Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

    Nói thì phải làm.

    Giữ chủ nghĩa cho vững.

    Hy sinh.

    Ít lòng tham muốn về vật chất.

    Bí mật.

    Đối người phải:

    Với từng người thì khoan thứ.

    Với đoàn thể thì nghiêm.

    Có lòng bày vẽ cho người.

    Trực mà không táo bạo.

    Hay xem xét người.

    Làm việc phải:

    Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

    Quyết đoán.

    Dũng cảm.

    Phục tùng đoàn thể. 

    VÌ SAO PHẢI VIẾT SÁCH NÀY?

    1. Phàm làm việc gì cũng vậy, bất kỳ lớn bé, bất kỳ khó dễ, nếu không ra sức thì chắc không thành công. Tục ngữ Tàu có câu: "Sư tử bắt thỏ tất dùng hết sức". Sư tử mạnh biết chừng nào, nếu bắt thỏ thì có khó gì, thế mà còn phải dùng hết sức, huống gì làm việc to tát như việc giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại, nếu không hết sức thì làm sao được.

    2. Lại nhiều người thấy khó thì ngã lòng, không hiểu rằng "nước chảy đá mòn" và "có công mài sắt có ngày nên kim". Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi. Đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong.

    3. Muốn đồng tâm hiệp lực, muốn bền gan thì trước ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao mà phải làm, vì sao mà không làm không được, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làm ngay không nên người này ngồi chờ người khác. Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì làm mới chóng.

    4. Lý luận và lịch sử cách mệnh có nhiều sách lắm. Pháp nó sợ, nên cấm chúng ta học, cấm chúng ta xem, cho nên đồng bào ta đối với hai chữ cách mệnh còn lờ mờ lắm. Có người biên chép đề xướng ra một chút lại làm một cách rất hồ đồ; hoặc xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức; hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại, mà quên tính tự cường.

    5. Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh. (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? (6) Cách mệnh thì phải là m thế nào?

    6. Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả.

    Hơn sáu mươi năm nay, đế quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu; hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt!

    Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh.

    Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!

    CÁCH MỆNH

    l. Cách mệnh là gì?

    Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt. Thí dụ: ông Galilê (1633) là khoa học cách mệnh. Ngày xưa ai cũng tưởng rằng giời tròn đất vuông, nhân kinh nghiệm và trắc đạc 2) , ông ấy mới quyết rằng trái đất tròn và chạy chung quanh mặt giời.

    Ông Stêphenxông (1800) là cơ khí cách mệnh. Ngày xưa chỉ đi bộ và đi xe ngựa kéo; ông ấy mới làm ra xe lửa.

    Ông Đácuyn (1859) là cách vật cách mệnh 3) . Ngày xưa không ai hiểu rõ sự sinh hoá 4) của vạn vật, ông ấy mới nghiên cứu ra vì sao mà có sự sinh hoá ấy.

    Ông Các Mác là kinh tế học cách mệnh. Ông ấy nghiên cứu rõ ràng tư bản chủ nghĩa, đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tranh đấu, vân vân ở đâu mà sinh ra; lịch sử nó thế nào, hiện tượng nó thế nào, và kết quả nó sẽ ra thế nào.

    2. Cách mệnh có mấy thứ?

    Ấy là tư tưởng cách mệnh, dân chúng cách mệnh thì có 3 thứ:

    A- Tư bản cách mệnh.

    B- Dân tộc cách mệnh.

    C- Giai cấp cách mệnh.

    Tư bản cách mệnh như Pháp cách mệnh năm 1789. Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776 (đuổi Anh), Nhật cách mệnh năm 1864 5) .

    Dân tộc cách mệnh như Ytali đuổi cường quyền Áo năm 1859. Tàu đuổi Mãn Thanh năm 1911.

    Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy quyền 6) năm 1917.

    3. Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh?

    A. Tư bản ở thành phố là tư bản mới, nó có lò máy và làm ra hàng hoá. Có lò máy thì muốn có nhiều thợ làm công cho nó. Làm ra hàng hoá thì muốn nhiều người mua của nó. Muốn nhiều người mua bán thì muốn giao thông tiện lợi.

    B. Tư bản ở hương thôn là địa chủ, nó muốn giữ những chế độ phong kiến, thổ địa nhân dân; ở chỗ nào chủ quyền đều là về tay bọn quyền quý ở đấy cả; nó đối với nhân dân, nó coi như trâu, như lợn, nó bắt ở yên một chỗ để cày ruộng cho nó, nó đối với người đi buôn, thì hàng hoá nó muốn lấy thuế bao nhiêu thì lấy, không có chừng độ, tiền bạc mỗi xứ một thứ, đi lại phải xin chúng nó cho phép, nó làm nhiều cách trở ngại cho việc buôn bán mới.

    Địa chủ hết sức ngăn trở tư bản mới, tư bản mới hết sức phá địa chủ, hai bên xung đột nhau làm thành ra tư bản cách mệnh.

    Không bao giờ hai tụi này chống nhau kịch liệt và rõ ràng, dễ thấy bằng bên Mỹ. Năm 1861 đến 1865, mấy tỉnh phía Bắc (tư bản mới) cử binh đánh lại mấy tỉnh phía Nam (điền chủ) như 2 nước thù địch vậy 7) .

    4. Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh?

    Một nước cậy có sức mạnh đến cướp một nước yếu, lấy võ lực cai trị dân nước ấy, và giành hết cả quyền kinh tế và chính trị. Dân nước ấy đã mất cả tự do độc lập, lại làm ra được bao nhiêu thì bị cường quyền vơ vét bấy nhiêu.

    Nó đã cướp hết sản vật, quyền lợi của dân rồi, khi có giặc dã, nó lại bắt dân đi lính chết thay cho nó. Như trong trận Âu chiến 1914-1918, Tây bắt ta đi lính, sau lại gia thuế gia sưu. Đánh được thì nó hưởng lợi quyền, thua thì mình đã chết người lại hại của.

    Nói tóm lại là bọn cường quyền này bắt dân tộc kia làm nô lệ, như Pháp với An Nam. Đến khi dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi; ấy là dân tộc cách mệnh.

    5. Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh?

    Trong thế giới có 2 giai cấp:

    A. Tư bản (không làm công mà hưởng lợi).

    B. Công và nông (làm khó nhọc mà chẳng được hưởng).

    Như người thợ An Nam, làm ở mỏ than Hòn Gay, một ngày làm 11 giờ, đầu năm làm đến cuối, một ngày chỉ được 3 hào, ăn chẳng đủ ăn, mặc không có mặc, đau không có thuốc, chết không có hòm.

    Còn anh chủ mỏ ấy không bao giờ nhúng tay đến việc gì, mà nó ăn sung mặc sướng, lên ngựa xuống xe, mỗi năm lại được mấy mươi triệu đồng lời (năm 1925 nó được 17.000.000 đồng). Thử hỏi 17 triệu ấy thằng chủ Tây làm ra hay là công nhân An Nam làm ra? Dân cày ta ruộng không có mà cày, mà tụi đồn điền Tây nó chiếm hết 122.000 mẫu ruộng tốt ở Trung Kỳ, 150.000 mẫu ở Nam Kỳ.

    Dân ta nơi thì không đủ ăn, nơi thì chết đói, mà điền chủ mỗi năm nó bán gạo gần 1.000 triệu quan tiền Tây 8) (năm 1925 nó bán 911.477.000 quan).

    Nước ta như vậy, các nước cũng như vậy. Công nông không chịu nổi, đoàn kết nhau đánh đuổi tư bản đi, như bên Nga, ấy là giai cấp cách mệnh; nói tóm lại là giai cấp bị áp bức cách mệnh 9) để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình.

    6. Cách mệnh chia làm mấy thứ?

    Cách mệnh chia ra hai thứ:

    A. Như An Nam đuổi Pháp, Ấn Độ đuổi Anh, Cao Ly 10) đuổi Nhật, Philíppin đuổi Mỹ, Tàu đuổi các đế quốc chủ nghĩa để giành lấy quyền tự do bình đẳng của dân nước mình, ấy là dân tộc cách mệnh.

    B. Tất cả dân cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại như anh em một nhà, để đập đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh.

    Hai thứ cách mệnh đó tuy có khác nhau, vì dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền. Còn thế giới cách mệnh thì vô sản giai cấp đứng đầu đi trước. Nhưng 2 cách mệnh ấy vẫn có quan hệ với nhau. Thí dụ: An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do.

    Vậy nên cách mệnh An Nam với cách mệnh Pháp phải liên lạc với nhau.

    7. Ai là những người cách mệnh?

    Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh 11) .

    1. Là vì công nông bị áp bức nặng hơn,

    2. Là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết,

    3. Là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc. Vì những cớ ấy, nên công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi.

    8. Cách mệnh khó hay là dễ ?

    Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được, thế thì không khó. Khó dễ cũng tại mình, mình quyết chí làm thì làm được. Nhưng muốn làm cách mệnh thì phải biết:

     A- Tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hoá làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến 2 chữ cách mệnh thì sợ rùng mình.

    Vậy cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ.

    B- Dân khổ quá hay làm bạo động, như dân An Nam ở Trung Kỳ kháng thuế, Hà Thành đầu độc, Nam Kỳ phá khám; không có chủ nghĩa, không có kế hoạch, đến nỗi thất bại mãi.

    Vậy cách mệnh phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa 12) cho dân hiểu.

    C- Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước, chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm 13) .

    Cách mệnh phải hiểu phong triều thế giới, phải bày sách lược cho dân.

    D- Dân thường chia rẽ 14) phái này bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì khinh người Bắc, nên nỗi yếu sức đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi.

    Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh.

    9. Cách mệnh trước hết phải có cái gì ?

    Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.

    Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.

    LỊCH SỬ CÁCH MỆNH MỸ

    l. Lịch sử Mỹ thế nào ?

    Thế kỷ thứ 14 về trước, chưa ai biết Mỹ ở đâu. Đến năm 1492, người buôn tên là Christophe Colomb đi tàu buôn muốn qua Ấn Độ, nhưng đi lạc đường, may lại gặp châu Mỹ. Dân xứ ấy là loài da đỏ, chỉ đi săn bắn không biết buôn bán và làm nghề.

    Từ lúc Colomb tìm ra châu Mỹ, thì người các nước bên Âu tràn qua đấy làm ăn. Người da trắng muốn bắt người da đỏ làm nô lệ, nhưng nó không chịu làm, thì chúng giết mòn giết mỏi người da đỏ đi, rồi bắt người da đen bên Phi qua làm cho chúng nó.

    Người Âu qua Mỹ thì nước nào cũng có, nhưng đông nhất là người Anh (3.000.000 người). Vì vậy, Anh giành Mỹ làm thuộc địa.

    2. Vì sao mà Mỹ làm cách mệnh ?

    Thổ sản Mỹ rất giàu, đồng, sắt, than, bông, lúa, trâu bò, vân vân, vật gì cũng nhiều. Anh thì tham, muốn hốt về cho mình cả, cho nên đặt ra 3 phép như sau này:

    1. Có bao nhiêu thổ sản, Mỹ phải cung cấp cho Anh hết, không được bán cho các nước khác.

    2. Dân Mỹ không được lập ra lò máy và hội buôn bán.

    3. Các nước không được vào buôn bán với Mỹ, chỉ Anh được buôn bán mà thôi.

    Vì 3 điều ấy, lại thêm thuế má nặng nề, làm cho kinh tế Mỹ rất khốn đốn, nên từ năm 1770, dân Mỹ tức mình "tẩy chay” Anh.

    3. Phong triều ấy kết quả ra thế nào ?

    Phong triều "tẩy chay" giắc dai đến 5 năm. Anh đem lính qua dẹp, và bắt những người cầm đầu làm tội. Mỗi lần bắt một người cầm đầu, thì dân càng tức giận thêm. Đến năm 1775, khi lính Anh bắt mấy người cầm đầu nữa, dân kéo nhau ra cứu, lại bị lính Anh giết chết 9 người. Việc này như lửa rơi vào thuốc súng, dân tức quá thì nổ, sống chết cũng quyết đuổi được Chính phủ Anh mới thôi.

    Cách một năm sau, đến ngày 4 tháng 7 năm 1776 thì cách mệnh được và Mỹ tuyên bố độc lập, và nước Mỹ thành ra nước cộng hoà.

    Bây giờ Mỹ có 48 tỉnh 15) và 110.000.000 dân.

    4. Ý nghĩa cách mệnh Mỹ với cách mệnh An Nam thế nào?

    l. Chính sách Pháp đối với An Nam bây giờ xấu hơn Anh đối với Mỹ trước, vì Pháp đã vơ vét hết của cải dân ta, đã ngăn cấm dân ta làm việc này việc khác; nó lại bắt dân ta hút thuốc phiện và uống rượu. Anh chỉ ham tiền Mỹ, Pháp đã ham tiền lại muốn làm mất nòi, mất giống An Nam đi. Thế mà dân An Nam còn chưa học Mỹ mà làm cách mệnh!

    2. Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng: "Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng ... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác ...".

    Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến Chính phủ!

    3. Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai.

    Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi 16) .

    Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc.

    CÁCH MỆNH PHÁP

    l. Vì sao Pháp có phong triều cách mệnh?

    Hồi thế kỷ thứ 18, vua thì kiêu xa dâm dật, quý tộc và bọn cố đạo thì hoành hành; thuế nặng dịch phiền, dân tình khốn khổ.

    Phần thì Canađa và Ấn Độ, nguyên là thuộc địa Pháp, nay bị Anh vơ mất.

    Phần thì những người học thức như ông Môngtexkiơ (1755), Vônte và Rutxô (1778) tuyên truyền chủ nghĩa tự do bình đẳng 52 .

    Phần thì phong triều cách mệnh Anh (ông Krômven chém vua Anh và lập cộng hoà chính phủ năm 1653) còn mới, và phong triều dân chủ Mỹ (1776) vừa qua.

    Nhất là vì tư bản mới bị tụi phong kiến ngăn trở, dân thì bị vua, quý tộc và cố đạo áp bức. Vậy nên tư bản mới liên hiệp với học trò, dân cày và người thợ để phá phong kiến.

    2. Cách mệnh Pháp khởi từ bao giờ? 53

    Vua thấy dân chộn rộn, thì bắt bớ những người tuyên truyên và tổ chức. Dân thấy vậy thì tức quá, đến ngày 14 tháng 7 năm 1789 kéo nhau đến phá khám lớn (Baxti) 54 . Vua đem lính về giữ kinh đô; dân lại tổ chức cách mệnh đội để phòng chống lại. Vua lui ra ở tại tỉnh Vécxây.

    Ngày 5 tháng 10 năm ấy, thợ thuyền đàn bà con gái Pari kéo nhau đến Vécxây bắt vua về khai hội, và ký tờ tuyên ngôn:

    l. Là bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô.

    2. Là đem của các nhà thờ đạo làm của Nhà nước.

    3. Là cho dân tự do làm báo, tổ chức, vân vân.

    4. Là lập hiến pháp, nghĩa là vua không được chuyên quyền.

    1792, vì vua cầu cứu với ngoại quốc và thông với bọn phản cách mệnh, dân mới bỏ vua mà lập ra cộng hoà.

    1793, ngày 21 tháng l làm án vua và vợ con vua là phản quốc tặc 17) , rồi đem ra chém.

    3. Các nước Âu châu đối với cách mệnh Pháp thế nào?

    Dân các nước thì đều mừng thầm và tán thành. Nhưng vua và quý tộc các nước thì sợ dân mình bắt chước dân Pháp, cho nên bên ngoài chúng nó liên binh đánh cách mệnh mà bên trong thì giúp cho tụi phản cách mệnh.

    Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu, nhưng chỉ nhờ gan cách mệnh mà trong dẹp nội loạn, ngoài phá cường quyền. Hồi ấy lính cách mệnh gọi là "lính không quần" 18) , người không có nón, kẻ không có giày, áo rách quần tua, mặt gầy bụng đói. Thế mà lính ấy đến đâu, thì lính ngoại quốc thua đấy, vì họ gan liều hy sinh quá, không ai chống nổi.

    Thế thì biết: một người cách mệnh có gan, hơn một ngàn người vô chí.

    4. Pháp cách mệnh đến mấy lần?

    Năm 1792 đến 1804 Cộng hoà lần thứ 1. Năm 1804 Napôlêông phản cách mệnh lên làm hoàng đế.

    Năm 1814 các nước đánh Napôlêông thua rồi đem dòng vua cũ lên ngôi đến 1848.

    Năm 1848 lại cách mệnh lần thứ 2 19) .

    Năm 1852 cháu Napôlêông lại phản cách mệnh lên làm vua.

    Năm 1870 nhân thua Đức, Napôlêông thứ 3 bỏ chạy, Pháp lại lập lên Cộng hoà lần thứ 3.

    5. Pari Công xã (Commune de Paris) là gì?

     Năm 1871 vua Pháp thua chạy rồi, lính Đức tới vây kinh đô Pháp là Pari. Tư bản Pháp cắt 2 tỉnh cúng cho Đức để cầu hoà. Vì giặc giã mà chết nhiều người, hại nhiều của. Dân không bánh ăn, thợ không công làm. Ngày 18 tháng 3, thợ thuyền Pari nổi lên làm cách mệnh cộng sản (Công xã).

    Vì thợ thuyền còn non nớt, tổ chức không khéo, vả lại Đức giúp cho tư bản Pháp đánh lại thợ thuyền, nên cuối tháng 5 thì cách mệnh thất bại.

    6. Mục đích Công xã ấy thế nào?

    Khi vừa lấy được Pari rồi, thì Công xã lập lên Chính phủ dân 20) và tuyên bố rằng Công xã sẽ thực hành những việc này:

    1. Bao nhiêu cơ quan sinh sản 21) riêng đều đem làm của công.

    2. Tất cả trẻ con trong nước, bất kỳ con trai con gái, đều phải đi học. Học phí Nhà nước phải cho.

    3. Dân có quyền tự do tổ chức, làm báo, khai hội, xuất dương, v.v..

    4. Bất kỳ đàn ông đàn bà, ai cũng được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử.

    5. Chính phủ tự dân cử lên, và dân có quyền thay đổi Chính phủ.

    7. Kết quả Công xã ra thế nào?

    Tư bản Pháp khi ấy như nhà cháy 2 bên, bên thì Đức bắt chịu đầu, bên thì cách mệnh nổi trước mắt. Tư bản Pháp thề chịu nhục với Đức, chứ không chịu hoà với cách mệnh. Đức thấy cách mệnh cũng sợ, cho nên hết lòng giúp tư bản Pháp đánh lại cách mệnh. Lúc Pháp vừa hàng, thì Đức bắt bỏ hết lính, chỉ cho 40.000 culít 22) mà thôi. Khi cách mệnh nổi lên, Đức lại cho phép tư bản Pháp thêm lên 100.000 lính để dẹp cách mệnh.

    Xem vậy thì hiểu rằng: "Tư bản không có Tổ quốc".

    Dẹp được cách mệnh rồi thì tư bản ra sức báo thù. Nó giết hết 30.000 người cả đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con. Nó đày 28.000 người. Nó bắt giam 650 đứa trẻ con, 850 người đàn bà, 37.000 người đàn ông.

    8. Cách mệnh Pháp đối với cách mệnh An Nam thế nào?

    a) Trong 3 lần cách mệnh, 1789, 1848, 1870, đều vì dân can đảm nhiều, nhưng trí thức ít, cho nên để tư bản nó lợi dụng.

    b) Pari Công xã vì tổ chức không khéo và vì không liên lạc với dân cày, đến nỗi thất bại.

    c) Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân.

    d) Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục 23) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy.

    9. Cách mệnh Pháp làm gương cho chúng ta về những việc gì?

    Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta:

    1. Dân chúng công nông là gốc cách mệnh, tư bản là hoạt đầu 24) , khi nó không lợi dụng được dân chúng nữa, thì nó phản cách mệnh.

    2. Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công.

    3. Đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

    4. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại.

    5. Cách mệnh Pháp hy sinh rất nhiều người mà không sợ; ta muốn làm cách mệnh thì cũng không nên sợ phải hy sinh.

     LỊCH SỬ CÁCH MỆNH NGA

    l. Nguyên do cách mệnh Nga từ đâu ra?

    Nga là một nước rất rộng, nửa nằm về châu Á, nửa nằm về châu Âu. Dân Nga hơn 90 phần là dân cày, không đầy l0 phần là thợ thuyền. Khi trước theo chế độ nông nô, nghĩa là bao nhiêu đất ruộng và dân cày đều ở dưới quyền địa chủ. Địa chủ xem nông nô như súc vật, nó cho sống được sống, nó bắt chết phải chết, khi nó cần tiền, thì nó đem nông nô đi bán như bán trâu bán bò. Nông dân không được bỏ xứ này qua xứ khác.

    Chừng nửa thế kỷ thứ 19, tư bản mới hơi phát đạt, nó vừa mở lò máy, nó cần người làm công, nó mới vận động bỏ chế độ nông nô để cho dân cày tới làm với nó, đến năm 1861, chế độ nông nô mới bỏ .

    Tư bản mới và địa chủ từ đấy mới sinh hiềm khích to, mà phong triều cách mệnh công nông cũng từ đấy mọc ra.

    2. Nông nô được giải phóng rồi thì làm gì?

    Được giải phóng rồi, người thì ra thành phố làm công, người thì ở lại làm ruộng.

    Đi làm công thì tiền công ít, giờ làm nhiều, phải làm nô lệ cho tư bản, ở lại cày thì đất ruộng ít, trâu bò thiếu, phải chịu lòn tụi phú gia 25) . Dân tiếng tự do tuy được, kỳ thực cứ kiếp nô lệ: người thợ thì cực khổ, dân cày cũng chẳng sướng hơn.

    Những người có lòng cách mệnh thì lập ra đảng để liên hiệp dân cày lại, nhưng mà không chú ý đến thợ thuyền.

    Năm 1875 mới có đảng cách mệnh gọi là "Công nhân giải phóng”.  Năm 1878 lại có một đảng mới gọi là "Công đảng".

    Nhưng hai đảng ấy người ít sức hèn, lại bị Chính phủ bắt bớ nhiều, sau hoá ra đảng kịch liệt, chỉ lo đi ám sát vua và các quan.

    3. Kết quả hai đảng ấy ra thế nào?

    Ám sát là làm liều, và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết? Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2,3 anh vua, 9,10 anh quan mà được. Hai đảng ấy tuy hy sinh hết nhiều người, làm được nhiều sự ám sát oanh liệt, nhưng vì đi sai đường cách mệnh, không có sức dân chúng làm nền, cho nên bị Chính phủ trị mãi đến nỗi tan.

    Năm 1883, ông Plêkhanốp lập nên đảng “Lao động tự do". Đảng này tổ chức theo cách ông Mã Khắc Tư 26) dạy, nghĩa là liên hiệp cả dân cày và thợ thuyền làm cả kinh tế và chính trị cách mệnh.

    4. Đảng này làm việc cách mệnh thế nào?

    Đảng này lấy thợ thuyền làm cốt cách mệnh, và dân cày phụ vào.

    Làm việc rất bí mật.

    Ở Nga, ma tà, mật thám nhiều quá, nên cơ quan Đảng phải lập ở ngoại quốc (Luân Đôn).

    Năm 1894, ông Lênin vào Đảng 27) .

    Năm 1898, Đảng khai hội một lần trong nước, chẳng may Chính phủ dò ra, bắt hết nhiều đảng viên. Tuy đảng viên bị bắt, nhưng lời tuyên ngôn của Đảng đã truyền khắp cả nước, cho nên phong triều cách mệnh càng ngày càng cao. Những người chưa bị bắt thì hết sức bí mật tuyên truyền và tổ chức.

    Ít lâu đổi tên là "Xã hội dân chủ đảng", sau lại đổi tên ra "Cộng sản đảng".

    Năm 1904-1905, Nga với Nhật đánh nhau, nhân lúc dân tình xục rục, Đảng ra sức vận động cách mệnh.

    5. Sao mà biết dân tình xục rục mà vận động?

    a) Trước khi đánh Nhật, vua phỉnh tư bản xuất tiền, lừa họ rằng đánh được thì kinh tế sẽ phát đạt, và tư bản sẽ được lợi to. Sau đánh thua thì tư bản mất tiền nhiều mà chẳng được gì, cho nên oán vua.

    b) Thợ thuyền ghét vua đã sẵn nay vì đánh thua lại bị áp bức thêm, lại thêm ghét vua.

    c) Dân cày ghét vua xưa nay, bây giờ đi lính chết chóc nhiều, vả lại thuế má nặng thêm, lòng ghét vua cũng càng ngày càng to.

    Ba hạng ấy mục đích tuy khác nhau, nhưng lòng ghét vua thì như nhau. Đảng biết vậy thì vận động cách mệnh đuổi vua.

    6. Lúc bấy giờ vua xử trí thế nào?

    Vua biết thợ thuyền là hăng hái cách mệnh nhất, thì đặt cách làm cho tư bản, dân cày và thợ thuyền rời nhau. Nó xúi một người cố đạo ra tổ chức công hội, một là để lung lạc thợ thuyền, hai là để dò ai hăng hái thì bắt.

    Ngày 9 tháng 1 năm 1905 58 , anh cố đạo ấy (tên là Gapông) đem thợ thuyền đến chỗ vua ở thỉnh nguyện. Vì anh ta quên báo trước, và vì vua thấy đông người thì sợ bạo động, nên sai lính ra dẹp, bắn chết mất nhiều người. Gapông bỏ chạy ra ngoại quốc. Thợ thuyền các tỉnh nghe tin ấy thì bãi công và bạo động, lập ra công nhân hội nghị.

    Cách mệnh chống nhau với vua và Chính phủ từ tháng 1 đến tháng 10. Vua một đường thì dùng lính dẹp cách mệnh, một đường thì giả tuyên bố lập ra nghị viện cho đại biểu dân bàn việc nước.

    7. Vì sao cách mệnh 1905 thua?

    1. Vì khi đầu tư bản muốn lợi dụng thợ thuyền đập đổ vua; sau nó thấy thợ thuyền hăng hái quá, nó sợ đập vua rồi lại đập cả nó, cho nên nó phản thợ thuyền mà giúp cho vua.

    2. Vì thợ thuyền với dân cày không nhất trí. Khi thợ thuyền nổi lên thì dân cày không theo ngay. Thợ thuyền thua rồi, dân cày mới nổi lên, để cho vua nó trị thợ thuyền rồi nó trở qua trị dân cày.

    3. Thợ thuyền chưa có kinh nghiệm nhiều, và tổ chức chưa hoàn toàn.

    4. Chưa vận động lính và súng ống khí giới của dân ít quá.

    8. Cách mệnh 1905 thất bại, thợ thuyền và Đảng có ngã lòng không?

    Không. Trải qua lần thất bại ấy, Đảng nghiên cứu lại, phê bình lại, sai lầm ở đâu, vì sao mà thất bại? Biết rõ ràng những chỗ khuyết điểm mà sửa sang lại. Cũng như rèn một con dao, thử cắt mới biết chỗ nào sắc, chỗ nào cùn; sau cứ theo chỗ cùn mà mài, con dao mới tốt.

    Nhờ chuyến thất bại 1905, thợ thuyền mới hiểu rằng: một là phải tổ chức vững vàng, hai là phải liên lạc với dân cày, ba là phải vận động lính, bốn là không tin được tụi đề huề 28) , năm là biết tư bản và vua cùng là một tụi, muốn đuổi vua thì phải đuổi cả tư bản.

    Cách mệnh 1905 thất bại làm gương cho cách mệnh 1917 thành công.

    9. Lịch sử cách mệnh 1917 thế nào?

    Cách mệnh 1917 có mấy cớ sau này:

    l. Khi Âu chiến 29) , đế quốc chủ nghĩa Anh và Pháp lợi dụng vua Nga đánh lại Đức. Nhưng vua Nga lôi thôi, tiêu hết nhiều tiền, chết hết nhiều lính, tất bị Đức đánh thua mãi. Các đế quốc chủ nghĩa ấy giận và giúp cho tư bản đẩy vua đi.

    2. Tư bản giận vua chỉ tín dụng 30) bọn quý tộc cầm binh quyền, bọn quý tộc lại vô tài, đánh đâu thua đó. Vả tư bản bên Nga phần nhiều là chung với tư bản Anh và Pháp; nếu Nga thua Đức, thì chẳng những tư bản Nga, mà tư bản Anh và Pháp cũng nguy; và nếu cứ để vua thì chắc thua. Vậy nên tư bản cũng muốn đẩy vua.

    3. Thợ thuyền và dân cày đối với vua như đối với thù địch đã đành.

    4. Bọn hoạt đầu nhân cơ hội ấy, thì lợi dụng 2 bọn này đuổi vua cho tư bản Nga và đế quốc chủ nghĩa Anh và Pháp. Tư bản và đế quốc chủ nghĩa lại lợi dụng bọn hoạt đầu.

    10. Bọn hoạt đầu làm thế nào?

    Nhân dịp lính chết nhiều, dân gian đói khổ, thợ thuyền thất nghiệp, Chính phủ lôi thôi; bọn hoạt đầu xúi dân rằng bây giờ cách mệnh đuổi vua đi, thì ruộng đất sẽ về dân cày, công xưởng sẽ về người thợ, nhân dân sẽ được quyền Chính phủ 31) , chiến tranh sẽ hoá ra hoà bình.

    Chẳng ngờ lúc tháng 2 đuổi vua đi rồi, tụi hoạt đầu và tụi tư bản lên cầm chính quyền, bao nhiêu lời nguyền ước chúng nó quên hết. Chúng nó cứ bắt lính đi đánh; ruộng đất cứ ở tay địa chủ, lò máy cứ ở tay nhà giàu; công nông cũng không được dự vào Chính phủ.

    11. Sao Đảng Cộng sản không ra tay làm?

    Khi cách mệnh đuổi vua, Đảng Cộng sản vẫn đứng đầu dân chúng. Nhưng lúc ấy đảng viên hẵng còn ít, và hoàn cảnh chưa đến, nên chưa giựt lấy chính quyền.

    Cách mệnh xong lúc tháng 2. Từ tháng 2 đến tháng 4, dân nhiều người còn tưởng rằng Chính phủ mới chưa kịp thi hành những việc lợi dân, vì chưa có thì giờ.

    Đến tháng 4 thì ông Lênin và nhiều đồng chí ở ngoại quốc về. Từ tháng 4 đến tháng 11, Chính phủ mới thì mỗi ngày mỗi lộ mặt phản cách mệnh ra. Còn đảng viên cộng sản phần thì đi tuyên truyền cho dân rằng: "Đấy, các anh xem đấy, tụi hoạt đầu là thầy tớ của tư bản và đế quốc chủ nghĩa, chúng nó chẳng hơn gì vua...”, làm cho ai cũng oán Chính phủ mới, phần thì lòn vào nông, công, binh, tổ chức bí mật để thực hành cộng sản cách mệnh.

    12. Cộng sản cách mệnh thành công bao giờ?

    Cuối tháng 10, đâu cũng có tổ chức cả rồi, ai cũng muốn cử sự. Nhưng ông Lênin bảo: "Khoan đã! Chờ ít bữa nữa cho ai ai cũng phản đối Chính phủ, lúc ấy sẽ cử sự". Đến ngày 5 tháng 11, chính phủ khai hội để ban bố phép luật 32) mới, mà phép luật ấy thì lợi cho tư bản mà hại cho công, nông. Ông Lênin nói với đảng viên rằng: Mồng 6 cử sự thì sớm quá, vì dân chưa biết hết luật lệ xấu ấy, mà chưa biết luật lệ ấy thì chưa ghét Chính phủ lắm. Mồng 8 cử sự thì muộn quá vì khi ấy thì Chính phủ đã biết rằng dân oán và đã phòng bị nghiêm nhặt rồi.

    Quả nhiên ngày mồng 7 Đảng Cộng sản hạ lịnh cách mệnh, thì thợ thuyền ào đến vây Chính phủ, dân cày ào đến đuổi địa chủ. Chính phủ phái lính ra dẹp, thì lính ùa theo thợ thuyền mà trở lại đánh Chính phủ.

    Từ bữa ấy, Chính phủ hoạt đầu bỏ chạy, Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng 33) .

    13. Cách mệnh Nga đối với cách mệnh An Nam thế nào?

    Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi 34) , nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa 35) làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới.

    Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng 36) (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin.

    QUỐC TẾ

    l. Quốc tế là gì?

    Quốc tế nghĩa là người trong thế giới, bất kỳ nước nào, dân tộc nào, có một mục đích như nhau, hợp sức nhau để làm cho đến mục đích ấy. Như các đế quốc chủ nghĩa liên lạc nhau, để đè nén các dân hèn yếu (Pháp liên lạc Tây Ban Nha để đánh lấy An Nam, liên lạc Nhật để giữ An Nam, v.v.), các tư bản liên lạc nhau để tước bác 37) thợ thuyền (tư bản Anh, Mỹ, Pháp liên lạc tư bản Đức để tước lục thợ thuyền Đức). Thợ thuyền các nước liên lạc nhau để chống lại tư bản (như Hội công nhân quốc tế). Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế).

    2. Đệ tam quốc tế là gì?

    Muốn biết Đệ tam 38) quốc tế là gì thì trước phải biết Đệ nhất 39) và Đệ nhị 40) quốc tế đã.

    Từ thế kỷ thứ 18 trở xuống, tư bản phát đạt rất thịnh, áp bức thợ thuyền rất nghiệt. Thợ thuyền bị áp bức thì tính cách phản đối, như tổ chức công hội, bãi công bạo động. Nhưng hầu hết tỉnh nào biết tỉnh nấy, nước nào biết nước nấy mà thôi, cho nên sức không mạnh lắm.

    Năm 1840, thợ thuyền Đức lập ra một hội tên là Nhân quyền hội . Khẩu hiệu hội ấy là "Trong thế giới ai cũng là anh em". Khẩu hiệu ấy tuy rất hay, nhưng không đúng; vì bọn tư bản đế quốc chủ nghĩa và phản cách mệnh là thù địch dân, gọi chúng là anh em sao được?

    Năm 1847, hội ấy sửa lại gọi là: "Toàn thế giới vô sản giai cấp liên hợp hội" - ông Mã Khắc Tư và Ăngghen vào hội ấy. Nhờ hai ông ấy sửa chương trình lại, và khẩu hiệu hội là: Đập đổ tư bản chủ nghĩa - thợ thuyền giành lấy chính quyền - làm cho thế giới đại đồng.

    3. Hai hội ấy có phải Đệ nhất và Đệ nhị quốc tế không ?

    Không phải. Trong hai hội tuy là có thợ thuyền Đức và Pháp vào, nhưng hội viên có ít, sức lực còn yếu chưa làm được gì. Chẳng qua là biểu hiện rằng thợ thuyền các nước phải giúp đỡ lẫn nhau và bắc cầu cho Đệ nhất quốc tế đi.

    Năm 1862 ở kinh đô Anh (Luân Đôn) mở hội đấu xảo; tư bản các nước phái công nhân qua xem xét các máy móc. Công nhân lại gặp những người cách mệnh Nga, Đức, Pháp và các nước khác trốn ở đấy. Hai bên bàn bạc lập một hội cách mệnh thế giới.

    Năm 1864, (ngày 28 tháng 2) mới lập thành Đệ nhất quốc tế.

    4. Đệ nhất quốc tế làm được những việc gì?

    Hội ấy tuy có nhiều người cầm đầu thợ thuyền các nước vào, nhưng vì:

    1. Người còn ít,

    2. Các công hội trong các nước còn yếu,

    3. Không thống nhất cho nên chỉ tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản mà chưa làm được việc gì lớn.

    Không thống nhất là vì ba chủ nghĩa chống nhau:

    1. Chủ nghĩa Pruđông (Pháp);

    2. Chủ nghĩa Bacunin (Nga);

    3. Chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Đức) (xem đoạn chủ nghĩa cách mệnh thì biết).

    Sau lúc Pari Công xã thất bại, nhiều hội viên bị chết, bị bắt, nên hội tiêu điều dần, đến 1874 thì giải tán.

    Đệ nhất quốc tế tuy chỉ đứng được 10 năm, nhưng khẩu hiệu "Toàn thế giới vô sản giai cấp liên hợp lại!" và tinh thần cách mệnh vẫn truyền đến bây giờ. Tuy không làm được nhiều việc, nhưng cái công dạy cho thợ thuyền trong thế giới cách mệnh thì rất to.

    5. Đệ nhị quốc tế lập ra bao giờ?

    Đệ nhất quốc tế tan rồi, vừa lúc tư bản phát đạt lắm, công nhân vận động cũng phát đạt. Trong khoảng 15 năm ấy (từ 1874 đến 1889) trong các nước nhiều công đảng mới lập lên, và đảng nào cũng hiểu rằng thợ thuyền các nước không giùm giúp lẫn nhau không được.

    Năm 1889, đại biểu các công đảng hội nhau tại Pari, lập nên Đệ nhị quốc tế.

    Từ khi lập ra, đến ngày Âu chiến, khai hội chín lần bàn bạc và nghị định:

    1. Nước nào cũng phải lập ra công đảng;

    2. Mỗi năm đến ngày 1 tháng 5 thợ thuyền cả thế giới đều bãi công và thỉnh nguyện;

    3. Tất cả công nhân trong thế giới ra sức đòi chỉ làm công mỗi ngày 8 giờ mà thôi;

    4. Phản đối đế quốc chủ nghĩa;

    5. Các công đảng không được đề huề với tư bản;

    6. Đảng viên không được ra làm quan với tư bản;

    7. Nếu các đế quốc chủ nghĩa có sự chiến tranh, thì thợ thuyền các nước đều bãi công và kiếm phương thế cách mệnh để giành lấy chính quyền. Vấn đề thứ 7, thì trong 9 lần đại hội đều có bàn đến cả.

    6. Vì sao Đệ nhị quốc tế lại hay bàn đến việc chiến tranh?

    Vì đương lúc ấy, tư bản đã hoá ra đế quốc chủ nghĩa, và đế quốc chủ nghĩa, hoặc thường đánh nhau để giành thuộc địa, hoặc đi cướp nước hèn yếu làm thuộc địa. Như:

    Năm 1894, Nhật đánh với Tàu;

    1895, Anh đánh với Êgýptơ 41) ;

    1896, Pháp đánh với Mađagátxca;

    1898, Mỹ đánh với Tây Ban Nha để giành Philíppin;

    1900, Anh đánh với Nam Phi châu;

    1904, Nga đánh với Nhật;

    1912, các nước Bancăng 42) đánh nhau, vân vân.

    Thợ thuyền thấy vậy, thì biết rằng các đế quốc chủ nghĩa sẽ có trận đánh nhau lớn. Vậy nên kiếm cách dè trước đi. Ngờ đâu đến 1914 các nước đánh nhau, thì phần nhiều hội viên Đệ nhị quốc tế đều giúp cho đế quốc chủ nghĩa, công đảng nước nào cũng khuyên dân đi đánh.

    7. Đệ tam quốc tế lập ra từ bao giờ ?

    Vì bọn hoạt đầu trong Đệ nhị quốc tế đã phản mục đích hội mà hoá ra chó săn cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa, hoá ra phản cách mệnh; những người chân chính cách mệnh như ông Lênin, ông Các Lípnếch, Rôda Luyxămbua, vân v., cho Quốc tế ấy như chết rồi, phải lập ra Quốc tế khác. Năm 1915 và 1916, những người cách mệnh hội nhau tại nước Suít (Thuỵ Sĩ) sắp sửa lập Đệ tam quốc tế, để nối theo chủ nghĩa Đệ nhất quốc tế 43) mà làm cộng sản cách mệnh.

    Năm 1917, Nga cách mệnh cộng sản thành công.

    Năm 1919, Đệ tam quốc tế thành lập tại kinh đô Nga là Mosku (ngày 6 tháng 3). Khi khai hội lần đầu, có đại biểu đảng cộng sản trong 24 nước dự hội.

    Trong lời tuyên ngôn Đệ tam quốc tế xướng rõ ràng rằng:

    1. Thế nào cũng đập đổ tư bản chủ nghĩa nhất thiết không đề huề như Đệ nhị quốc tế;

    2. Thế nào cũng quyết làm cho chính quyền về tay công nông.

    8. Từ khi lập ra đến giờ (đầu năm 1927) Đệ tam quốc tế khai hội mấy lần?

    Năm 1920 khai Đại hội lần thứ II, có 31 nước dự hội. Tụi hoạt đầu Đệ nhị quốc tế thấy hội này mạnh, muốn xen vào để "theo đóm ăn tàn", cho nên Đại hội đặt ra cách tổ chức rất nghiêm; ai thừa nhận theo 21 điều quy tắc mới được vào. (Xem sau cùng đoạn này).

    Năm 1921, Đại hội lần thứ III. Từ lúc có Đệ tam quốc tế, thợ thuyền các nước chia ra hai phái, phái theo cộng sản (Đệ tam quốc tế), phái theo đề huề (Đệ nhị quốc tế). Vì vậy mà sức kém đi; cho nên Đại hội định rằng khi phấn đấu với tư bản thì hai phái phải hợp sức nhau lại không được chia hai .

    Năm 1922, Đại hội lần thứ IV. Nhân cách mệnh phong triều trong các nước rầm rộ, tư bản chủ nghĩa toan cùng đường, chúng nó lập ra đảng fasity 44) phản đối cách mệnh tợn lắm. Đại hội định cách đối đãi đảng ấy.

    Năm 1924, Đại hội lần thứ V, có đến 61 nước dự hội. Vì nhiều người lầm tưởng rằng tư bản lại tới hồi thịnh vượng như trước khi Âu chiến. Đại hội đem chứng rõ ràng rằng thịnh vượng ấy là thịnh vượng giả; kỳ thực tư bản trong thế giới gần đến mạt lộ 45) , và công nông cách mệnh phải sắp sửa ra tay.

    9. Đệ tam quốc tế tổ chức thế nào?

    a) Mỗi năm hay cách vài năm, đại hội một lần. Đại hội có quyền đoán định tất cả các việc các đảng trong các nước.

    b) Đại hội cử một hội trung ương 24 người. Hội này thay mặt đại hội. Các đảng trong các nước đều phải theo mệnh lịnh Trung ương.

    c) Có Thanh niên bộ, để xem về việc vận động thanh niên; Phụ nữ bộ, xem việc vận động phụ nữ; Á - Đông bộ xem về việc cách mệnh các thuộc địa bên Á - Đông. Tuyên truyền, tổ chức, cứu tế v.v., đều có một bộ riêng.

    d) Đệ tam quốc tế là một Đảng Cộng sản thế giới. Các đảng các nước là như chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lịnh và kế hoạch Đệ tam quốc tế thì các đảng không được làm.

    10. Đệ nhất quốc tế và Đệ tam quốc tế giống nhau cái gì? khác nhau cái gì?

    Đệ nhất quốc tế với Đệ tam quốc tế khác nhau.

    a) Đệ nhất quốc tế nhỏ, Đệ tam quốc tế to;

    b) Đệ nhất quốc tế chỉ lý luận, Đệ tam quốc tế đã thực hành;

    c) Đệ nhất quốc tế không thống nhất, Đệ tam quốc tế chỉ huy tất cả các đảng cộng sản trong các nước phải theo;

    d) Đệ nhất quốc tế chỉ nói: "Thế giới vô sản giai cấp liên hợp"; Đệ tam quốc tế nói thêm "Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại". Đệ nhất quốc tế không bắt hội viên giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa như Đệ tam quốc tế.

    Ấy là vì hoàn cảnh hai Quốc tế ấy khác nhau. Như việc dân tộc bị áp bức, Đệ nhất quốc tế nói đến ít, vì lúc ấy đế quốc chủ nghĩa chưa phát đạt mấy. Vả lại, Đệ tam quốc tế sinh ra sau thì có nhiều kinh nghiệm hơn Đệ nhất quốc tế.

    Đến như chủ nghĩa làm cách mệnh cho đến nơi, làm cho thế giới đại đồng, thì hai Quốc tế vẫn như nhau; chẳng qua Đệ nhất quốc tế làm không đến nơi , mà Đệ tam quốc tế chắc là làm được, nhờ nay Nga cách mệnh đã thành công để làm nền cho cách mệnh thế giới.

    11. Đệ nhị quốc tế và Đệ tam quốc tế khác nhau cái gì?

    Đệ nhị quốc tế trước vẫn là cách mệnh, nhưng vì kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá; sau hoá ra phản cách mệnh. Hai Quốc tế ấy khác nhau những điều sau này:

    Đệ tam quốc tế chủ trương đập đổ tư bản làm thế giới cách mệnh.

    Đệ nhị quốc tế chủ trương đề huề với tư bản.

    Đệ tam quốc tế giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa.

    Đệ nhị quốc tế giúp đế quốc chủ nghĩa đè nén dân thuộc địa (toàn quyền Varen là hội viên Đệ nhị quốc tế).

    Đệ tam quốc tế dạy cho vô sản giai cấp trong thế giới - bất kỳ nòi giống nào, nghề nghiệp gì, tôn giáo gì - hợp sức làm cách mệnh.

    Đệ nhị quốc tế xui dân nước này chống dân nước kia, nghề nghiệp này chống nghề nghiệp khác.

    12. Đệ tam quốc tế đối với cách mệnh An Nam thế nào?

    Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, có đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á - Đông.

    Xem khẩu hiệu Đệ tam quốc tế, chẳng những rằng "vô sản giai cấp" mà lại thêm câu "... và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại".

    Xem quy tắc Đệ tam quốc tế trong 21 điều, điều thứ 8 nói rằng: "Các đảng cộng sản, nhất là Đảng Cộng sản Pháp ... phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mệnh".

    Xem đương lúc Pháp đánh Marốc và Xyri, vì giúp hai nước ấy mà Đảng Cộng sản Pháp hy sinh mấy mươi đảng viên bị bắt, bị tù, Đảng bị phạt hơn l00 vạn đồng bạc.

    Xem cách mệnh Nga giúp cho cách mệnh Tàu, Thổ Nhĩ Kỳ, Pécsia 46) , Mông Cổ.

    Lại xem kế hoạch về vấn đề thuộc địa là tự tay ông Lênin làm ra.

    Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế.

     

     

     

    PHỤ NỮ QUỐC TẾ  

    l. Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế ?

    Ông Các Mác nói rằng: "Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào ?".

    Ông Lênin nói: "Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công".

    Những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước.

    Vì vậy Đệ tam quốc tế tổ chức Phụ nữ quốc tế.

    2. Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào ?

    Năm 1910, bà Clara Détkin (cộng sản Đức) đề nghị trong Đại hội Đệ nhị quốc tế rằng: Mỗi năm đến ngày 8 tháng 3 thì làm một ngày phụ nữ vận động gọi là "Ngày đàn bà con gái”. Sau ngày ấy đổi ra một tuần. Khẩu hiệu tuần ấy là: "Đòi quyền tuyển cử cho nữ giới".

    Năm 1917, ngày 23 tháng 2, đàn bà ở kinh đô Nga nổi lên "đòi bánh cho con" và đòi "giả chồng chúng tôi lại cho chúng tôi" (vì chồng phải đi đánh). Sự bạo động này làm ngòi cho cách mệnh Nga.

    Mồng 8 tháng 3 năm 1920, Đệ tam quốc tế phái bà Détkin tổ chức Phụ nữ quốc tế. Khẩu hiệu là: "Đàn bà con gái công nông phải liên hợp với Đệ tam quốc tế, để làm thế giới cách mệnh".

    Năm 1923, nữ giới Nga ăn mừng "ngày 8 tháng 3" thì mở 66 nhà nuôi trẻ con, 36 ấu trĩ viên, 18 nhà nuôi đồng tử, 22 nhà thương và nhà nghỉ, 15 nhà nuôi đàn bà sinh cữ, 15 nhà ăn chung cho 10.000 người; 27 nhà hiệp tác xã dùng đến 1.300 người đàn bà làm công, 11 cái công viên có nhà nghỉ cho những người có bệnh.

    3. Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra thế nào ?

    Quy tắc và chương trình thì đại khái cũng như Đệ tam quốc tế. Nhưng bên này thì chỉ chuyên trách về mặt tuyên truyền, tổ chức và huấn luyện đàn bà con gái, và giúp về đường giáo dục trẻ con công nông.

    Mỗi đảng cộng sản phải có một bộ phụ nữ, trực tiếp thuộc về Phụ nữ quốc tế. Nhưng đảng viên đàn bà trong các đảng phải theo mệnh lịnh Quốc tế, khi phái để làm việc gì dẫu khó nhọc, nguy hiểm mấy cũng phải làm. Thí dụ: Đảng viên A không phải là làm thợ, nhưng khi Quốc tế bảo phải xin vào làm việc trong lò máy nào để vận động phụ nữ trong ấy, thì tất phải bỏ nghề cũ mà vào làm trong lò máy.

    Nói tóm lại là quy tắc rất nghiêm, hành động rất thống nhất, và việc làm cũng rất khó. Vì phần nhiều đàn bà con gái còn có tư tưởng thủ cựu. Tuy vậy, ai cũng hết lòng, cho nên tiến bộ mau. Nhờ Phụ nữ quốc tế mà các đảng cộng sản mới lập ra như đảng ở Java 47) , đảng viên đàn bà mỗi ngày một thêm nhiều.

    An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam muốn cách mệnh thì phải theo Phụ nữ quốc tế chỉ bảo.

    CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

    l. Lịch sử Công nhân quốc tế thế nào ?

    Trước phải biết qua lịch sử công nhân vận động, sau sẽ nói đến lịch sử công nhân.

    Lịch sử công nhân vận động chia làm 3 thời kỳ: a) trước Âu chiến, b) đương lúc Âu chiến, c) khi Âu chiến rồi.

    a) Trước khi Âu chiến: Bên Âu và Mỹ có chừng 16 triệu thợ thuyền có tổ chức và có một hội gọi là "Vạn quốc công hội". Nhưng 16 triệu người ấy không vào "Vạn quốc công hội" cả. Những đoàn thể vào lại chia ra nhiều phái biệt:

    1. Công đoàn chủ nghĩa Anh và Mỹ chỉ lo sao thợ thuyền sinh hoạt khá, mà không nói đến đánh đổ tư bản.

    2. Vô chính phủ công đoàn các nước Latinh 48) , thì không muốn lập chính đảng.

    3. Cải lương chủ nghĩa thì chủ trương công hội nên giúp chính đảng, nhưng không nên hợp với chính đảng 49) .

    4. Trung lập chủ nghĩa chủ trương rằng công nhân không phải là nền cách mệnh.

    5. Cộng sản chủ nghĩa, chủ trương đập đổ tư bản, công nhân là nền cách mệnh, phải có chính đảng để dắt công hội làm cách mệnh.

    Vì mục đích và chủ nghĩa lộn xộn không thống nhất như thế, cho nên hội không có lực lượng.

    b) Khi Âu chiến: Hội này đi theo Đệ nhị quốc tế, nghĩa là công hội nước nào giùm tư bản nước ấy.

    Vả lại, tiếng là Vạn quốc nhưng chỉ có thợ thuyền Âu và Mỹ, còn thợ thuyền Á, Phi, Úc thì không vào.

    c) Sau khi Âu chiến: Phần thì thợ thuyền cực khổ, phần thì phong triều cách mệnh Nga, công hội càng ngày càng to. Như:

    Năm 1913              Năm 1919

    Anh chỉ có            4.000.000 người        8.000.000 người

    Pháp chỉ có          1.000.000 người        2.500.000 người

    Tất cả các nước:   15.000.000 người      50.000.000 người

    Công hội bên Á - Đông cùng rầm rầm rột rột lập lên (Tàu, Nhật, Ấn Độ, Java, Philíppin, vân v.).

    2. Phong triều ấy kết quả ra thế nào ?

    Tư bản các nước thấy thợ thuyền thịnh thì sợ, và kiếm cách làm cho êm dịu xuống. Năm 1919 có khai đại hội bên kinh đô Mỹ, để giải quyết việc thợ thuyền trong thế giới. Trong hội ấy có đại biểu các chính phủ, các tư bản, và các công hội các nước. Nhưng nó chỉ cho bọn Đệ nhị quốc tế đại biểu cho thợ thuyền. Nước nào công nhân thịnh đã đòi được 8 giờ (như Anh, Pháp), thì đại biểu Chính phủ nước ấy yêu cầu các nước kia cũng phải dùng 8 giờ làm lệ chung (vì sợ tư bản nước kia được lợi hơn tư bản nước nó).

    Sau tư bản lập ra hội Vạn quốc, lại lập thêm một bộ công nhân, có 12 đại biểu cho các chính phủ, 6 đại biểu cho tư bản, và 6 đại biểu cho thợ thuyền. Nó lại dắt mấy anh công tặc 50) làm đại biểu thợ thuyền!

    3. Tư bản làm như vậy, thợ thuyền các nước có làm gì không ?

    Thợ thuyền có 31 quốc tế.

    29 quốc tế nghề nghiệp, nghĩa là nghề nghiệp nào có riêng quốc tế nghề nghiệp ấy; 1 quốc tế gọi là Quốc tế Amxtécđam hay là Quốc tế "vàng" và 1 Quốc tế đỏ.

    Quốc tế nghề nghiệp có đã lâu, ước chừng 20.000.000 hội viên. Trong 29 quốc tế ấy, nghề sắt to hơn hết (3.000.000 người); hai là nghề than (2.500.000 người); ba là thợ làm nhà máy (2.300.000 người), vân v..

    Lúc Âu chiến, các quốc tế ấy cũng tan, Âu chiến rồi lập lại, nhưng vì bọn hoạt đầu cầm quyền, nên công việc không ra gì. Như năm 1921, 1.000.000 người đào than Anh bãi công, vì người đào than Mỹ, Đức và các nước không giúp mà thua. Qua năm 1922, 500.000 thợ đào than Mỹ bãi công, cũng vì không ai giúp mà thất bại. Nói tóm lại là các quốc tế ấy có danh mà không thực.

    4. Sao gọi là Quốc tế Amxtécđam hay "vàng"?

    Vì Quốc tế ấy lập ra tại Amxtécđam (kinh đô Holăng 51) ). Trong tiếng mới, phản cách mệnh gọi là sắc vàng; cách mệnh gọi là sắc đỏ.

    Năm 1919, các công hội theo Vạn quốc công hội hội nhau tại Amxtécđam lập nên quốc tế này. Khi đầu rất to, nhưng sau nhiều công hội bỏ vào Quốc tế “đỏ”, nay chỉ còn lại công hội 23 nước, tất cả 14.400.000 người.

    Quốc tế này theo bọn hoạt đầu Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, và làm nhiều việc phản cách mệnh như:

    1. Tán thành điều ước Vécxây của đế quốc chủ nghĩa bắt Đức đền 400.000.000 đồng.

    2. Đức không gánh nổi, Mỹ lại đặt ra kế hoạch (gọi là kế hoạch Đạo Uy Tư) 52) bắt Đức đền 132.000.000.000 đồng. Kế hoạch ấy làm cho công nông Đức hoá ra nô lệ. Thế mà Quốc tế Amxtécđam cũng tán thành.

    3. Không cho công hội Nga vào.

    4. Phản đối cộng sản rất kịch liệt, mà đối đãi fasity rất hoà bình.

    5. Sao gọi là Công nhân quốc tế đỏ?

    Quốc tế vàng đã đề huề với tư bản, những thợ thuyền thiệt cách mệnh kiếm cách lập ra quốc tế khác.

    Năm 1920, tháng 7, chỉ có mấy người công nhân Anh, Ý, Pháp, Tây Ban Nha và Nga lập ra một cơ quan tuyên truyền. Năm 1921, đã có nhiều công hội bỏ bên kia theo bên này. Ngày mồng 3 tháng 7 năm ấy, Công nhân quốc tế đỏ lập thành.

    Quốc tế đỏ theo về Đệ tam quốc tế, quyết làm giai cấp cách mệnh.

    Nay đã có công hội 47 nước, 11.750.000 người vào.

    Tháng 5 năm 1925 bên Á - Đông có những hội này vào:

    Tàu:           450.000 người;

    Java:            35.000 người;

    Nhật:            32.000 người;

    Cao Ly:         5.000 người;

    Mông Cổ:      5.000 người;

    Thổ Nhĩ Kỳ: 20.000 người;

    An Nam:             000.

    6. Quốc tế này đối với cách mệnh An Nam ra thế nào?

    Xem trong Quốc tế vàng không có công hội Á - Đông nào, Quốc tế đỏ thì có 8 hội thuộc địa vào.

    Khi thợ thuyền Java, Ấn Độ bãi công, Quốc tế đỏ hết sức giúp, còn Quốc tế vàng thì không ngó đến.

    Ở Tàu, thợ thuyền Thượng Hải bãi công hơn ba tháng, Hương Cảng bãi công hơn một năm rưỡi, Quốc tế đỏ đã giúp tiền bạc, phái đại biểu qua yên ủi, lại sức công hội các nước giúp. Quốc tế vàng chỉ in vài tờ tuyên ngôn rồi làm thinh.

    Vậy thì biết nếu thợ thuyền An Nam biết tổ chức thì chắc Quốc tế đỏ sẽ hết lòng giúp cho mà làm cách mệnh. Nhưng muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã. 

    CỘNG SẢN THANH NIÊN QUỐC TẾ

    l. Cộng sản thanh niên quốc tế là gì?

    Trước kia các đảng xã hội có xã hội thanh niên. Các đảng ấy hợp lại thành Đệ nhị quốc tế. Các thanh niên ấy cũng tổ chức xã hội thanh niên quốc tế. Khi Âu chiến, phần nhiều Đệ nhị quốc tế đề huề với tư bản, phần nhiều thanh niên cũng bắt chước đề huề.

     Những người thanh niên cách mệnh  bỏ hội ấy cũng như ông Lênin và những người chân chính cách mệnh bỏ Đệ nhị quốc tế ra.

    Đến tháng 11 năm 1919, thanh niên cách mệnh 14 nước bên Âu hội nhau tại kinh đô Đức (Béclin) lập ra Thanh niên cộng sản quốc tế.

    Nãm 1921 đã có thanh niên 43 nước theo vào.

    Năm 1922 có 60 nước, 760.000 người.

    Năm 1924 có hơn 1.000.000 (thanh niên Nga chưa tính).

    2. Cách tổ chức ra thế nào?

    Đại khái cũng theo cách tổ chức Đệ tam quốc tế. Thanh niên các nước khai đại hội, cử ra một Hội uỷ viên; Hội uỷ viên có quyền chỉ huy, và thanh niên các nước nhất thiết phải theo kế hoạch và mệnh lịnh Hội ấy.

    Ước chừng 16 đến 20 tuổi thì được vào Hội. Trước lúc Hội cho vào thì phải thử, công nông binh thì 6 tháng, học trò thì một năm, làm việc được mới cho vào.

    Mục đích Cộng sản thanh niên quốc tế là:

    1. Thế giới cách mệnh;

    2. Bồi dưỡng nhân tài để đem vào đảng cộng sản;

    3. Chuyên môn về việc kinh tế và chính trị, có quan hệ cho bọn thanh niên;

    4. Tuyên truyền tổ chức và huấn luyện bọn thợ thuyền, dân cày, học trò và lính thanh niên;

    5. Phản đối mê tín và khuyên dân chúng học hành.

    3. Cách họ làm việc thế nào?

    Nơi thì công khai, như ở Nga, nơi thì nửa công khai, nửa bí mật, như ở các nước Âu và Mỹ. Nơi thì bí mật như ở Cao Ly, Java, vân v..

    Tuyên truyền và tổ chức thì theo hoàn cảnh. Phái người lòn vào ở lính, hoặc làm thợ, hoặc đi cày, hoặc đi học để tuyên truyền và kiếm đồng chí. Khi kiếm được một ít đồng chí rồi, thì lập ra tiểu tổ chức. Hoặc lập ra hội học, hội đá bóng, hội chơi để lựa đồng chí và tuyên truyền.

    Nói tóm lại là họ làm hết cách để xen vào trong dân chúng.

    4. Cộng sản thanh niên đối với đảng cộng sản thế nào?

    Hai đoàn thể ấy đối với nhau theo cách dân chủ, nghĩa là khi đảng có việc gì thì có đại biểu thanh niên dự hội. Khi thanh niên có việc gì, thì đảng có đại biểu dự hội. Đường chính trị, thì thanh niên theo đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc lập. Nếu đảng và thanh niên có việc gì không đồng ý, thì có hai Quốc tế xử phân.

    Thanh niên cộng sản làm việc rất nỗ lực, rất hy sinh.

    Trong năm 1921, Thanh niên Đức chỉ có 27.000 người và Mỹ chỉ có 4 chi bộ. Năm 1922 Đức đã có đến 70.000 người và Mỹ có đến 150 chi bộ.

    Hồi lính Pháp đóng bên Đức, vì việc tuyên truyền, phản đối đế quốc chủ nghĩa trong quân đội, mà 120 thanh niên Pháp bị tù. Hồi Pháp đánh Marốc, cũng vì việc ấy mà hơn 3.000 thanh niên Pháp bị bắt.

    Việc bãi khoá ở Tàu, vận động ở Cao Ly, bãi công ở Anh, vân v., Cộng sản thanh niên đều đứng đầu đi trước.

    Ngày nay nước nào cũng có thanh niên cộng sản.

    Chỉ An Nam là chưa 53) !

    QUỐC TẾ GIÚP ĐỠ

    l. Quốc tế giúp đỡ là gì?

    Năm 1921, nước Nga bị đại hạn mất mùa, dân chết đói nhiều. Đế quốc chủ nghĩa lợi dụng cơ hội ấy, bên thì muốn xui dân Nga nổi loạn, bên thì muốn kéo binh vào phá cách mệnh Nga. Phần thì đem các tàu bè vây biển Nga, không cho các tàu bè đi lại chở đồ ăn bán cho dân Nga.

    Những người có lòng tốt như ông Nanxăn (người khoa học rất có danh tiếng nước Noócve 54) , ông ấy đi tàu bay qua Bắc cực), và các công hội đều có tổ chức hội cứu tế đi quyên tiền, đồ ăn, và áo quần gửi cho dân Nga. Nhưng vì tổ chức tản mát cho nên sức lực yếu.

    Đệ tam quốc tế và Công nhân quốc tế đỏ (mới tổ chức) xướng lên lập một hội Quốc tế giúp đỡ, để tập trung tất cả các hội cứu tế lại. Đệ nhị quốc tế và Công nhân quốc tế vàng không chịu vào, lập riêng ra một hội cứu tế riêng.

    Tuy vậy, Quốc tế giúp đỡ cũng lập thành. Từ cuối năm 1921, đến năm 1922, Quốc tế này quyên được hơn 5.000.000 đồng bạc, và 40.000.000 kilô đồ ăn cho dân Nga.

    2. Khi Nga khỏi đói rồi, quốc tế này làm việc gì?

    Nga khỏi đói rồi, Quốc tế này vẫn tiếp tục làm việc mãi. Bất kỳ xứ nào có tai nạn gì, Quốc tế này đều ra sức giúp. Như năm 1923 Ailan (Ireland) mất mùa, mấy vạn dân cơm không có ăn, áo không có mặc, nhờ Quốc tế qua giúp mà khỏi chết đói. Năm 1924, thợ thuyền Đức bãi công hơn 60 vạn người, Quốc tế này lập ra nhà ăn không mất tiền, mỗi ngày hơn 25.000 người thợ tới ăn. Lại lập ra nhà thương để nuôi những người bãi công đau ốm; lập ra nhà nuôi trẻ con của thợ thuyền, lập ra đội lữ hành đem trẻ con Đức qua gửi cho công hội các nước nuôi dạy. Lúc bãi công gần rồi mới đem về 55) .

    Năm Nhật Bản có động đất, Tàu mắc lụt, Quốc tế này cũng chở đồ ăn, đồ mặc và đồ làm nhà qua giúp.

    Nói tóm lại là ở đâu mắc nạn lớn, là Quốc tế này đều giúp cả.

    3. Quốc tế giúp đỡ lấy tiền đâu?

    Quốc tế này không phải là một hội làm phúc phát chẩn và bố thí như các hội của tư bản lập ra. Mục đích Quốc tế này là "thợ thuyền và dân cày trong thế giới là anh em, khi anh em xứ này rủi ro, thì anh em xứ khác phải giúp đỡ", vậy nên, khi có việc thì hội viên ra sức quyên, khi vô sự thì phải góp hội phí. Hội phí tuỳ theo hạng người như thợ thuyền làm ra đồng tiền dễ, thì đóng nhiều hơn, dân cày ít tiền thì đóng ít. Nhưng ai cũng phải đóng.

    Vì Quốc tế có chi bộ khắp cả 5 châu, và hội viên rất đông, nhất là ở Nga, cho nên chỉ hội phí góp lại cũng đã khá nhiều.

    Quốc tế lại đem tiền ấy làm ra hoa lợi, như mở sở cày, làm hát bóng, mở nhà buôn, sở đánh cá, vân v.. Phần nhiều những công cuộc này đều là ở Nga. Chỉ một chỗ đánh cá ở Atrakan mỗi năm đánh được 4-5 triệu kilô cá.

    Tiền bán ra đều để dành để giúp đỡ cho thế giới cả.

    4. Quốc tế này đối với cách mệnh có ích gì?

    Như nước An Nam gặp lúc vỡ đê vừa rồi, hay những khi đại hạn và lụt. Nếu Quốc tế biết, chắc có giúp đỡ. Song:

    l. Là vì dân ta chưa ai biết đến mà kêu van;

    2. Là Pháp sợ Quốc tế làm cho dân ta biết cách thân ái và liên hợp của vô sản giai cấp trong thế giới;

    3. Nó sợ tuyên truyền cách mệnh cho nên nó hết sức giấu dân ta không cho biết rằng trong thế giới có một hội như thế và ngăn trở Quốc tế ấy lọt vào đến An Nam.

    Cái gì Pháp ghét, tất là có ích cho An Nam.

    Còn như việc cách mệnh, Quốc tế này cũng giúp được nhiều. Xem như khi dân Nga đói, nhờ Quốc tế này mà không đến nỗi oán Chính phủ cách mệnh. Thợ thuyền Nhật nhờ Quốc tế này mà khôi phục được công hội lại mau. Thợ thuyền Đức nhờ Quốc tế này mà cứ việc phấn đấu, vân v., thì biết rằng Quốc tế này sẽ có ích cho cách mệnh An Nam nhiều.

    QUỐC TẾ CỨU TẾ ĐỎ

    l. Quốc tế cứu tế đỏ là gì?

    Quốc tế giúp đỡ thì cứu tế cho dân bị tai nạn, và cũng cứu tế cho những người chính trị phạm nữa. Quốc tế cứu tế đỏ thì chuyên môn giúp đỡ cho chính trị phạm mà thôi.

    Bây giờ là hồi tranh đấu; vô sản thì tranh đấu với tư bản, dân bị áp bức thì tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa. Tư bản và đế quốc chủ nghĩa về một phe, vô sản và dân bị áp bức về một phe. Hai phe ấy cũng như hai quân đội đánh nhau. Quân đội cách mệnh thì theo cờ Đệ tam quốc tế. Quân phản cách mệnh thì theo cờ bọn nhà giàu. Đánh nhau thì chắc có người phải bắt 56) , người bị thương, người bị chết. Quốc tế cứu tế đỏ là như cái nhà thương để săn sóc cho những người bị thương, giùm giúp cho những người bị bắt, trông nom cho cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ của những người đã tử trận cho cách mệnh.

    2. Quốc tế cứu tế đỏ lập ra bao giờ?

    Năm 1923, Đệ tam quốc tế khai đại hội, có hội "bị đày chung thân" và hội "những người cộng sản già" đề nghị, và Đệ tam quốc tế tán thành lập ra Quốc tế cứu tế đỏ. Trước hết lập ra tổng bộ tại Nga. Bây giờ nước nào cũng có chi bộ. (Chỉ có An Nam chưa).

    Nga bây giờ có 50.000 phân bộ và 9 triệu hội viên. Tất cả công nhân và nhiều dân cày vào hội ấy, hoặc vào từng người, hoặc cả đoàn thể. Tất cả các người cộng sản và cộng sản thanh niên đều phải vào hội ấy.

    Khi mới lập ra, ba tháng đầu đã quyên được 300.000 đồng. Bốn tháng sau thì quyên được 4.000.000 đồng. Ở tỉnh Quảng Đông, Tàu mới lập chi bộ được 6 tháng mà đã được 250.000 hội viên.

    Xem thế thì biết Quốc tế ấy phát triển rất chóng.

    3. Quốc tế giúp cách thế nào?

    Khi những người cách mệnh hoặc bị đuổi, hoặc bị bắt, hoặc bị tù, hoặc bị chết, thì Quốc tế giúp đỡ:

    l. Chính trị;

    2. Kinh tế;

    3. Vật chất;

    4. Tinh thần.

    a) Giúp chính trị: Như có người bị bắt, bị giam, thì Quốc tế sức 57) cho các chi bộ khai hội và tuần hành thị uy. Như vừa rồi có hai người cách mệnh Ý bị bắt tại Mỹ, toan phải án chết, Quốc tế sức chẳng những là thợ thuyền Mỹ làm như thế, mà lại nước nào, xứ nào có lĩnh sự 58) Mỹ thì thợ thuyền đều khai hội tuần hành và tuyên ngôn rằng: Nếu Chính phủ giết hai người ấy, thì thợ thuyền Mỹ bãi công, và thợ thuyền thế giới sẽ tẩy chay Mỹ. Mỹ thấy vậy thì không dám làm tội hai người ấy.

    b) Giúp kinh tế: Hễ bị giam thì thường ăn uống cực khổ, còn vợ con cha mẹ ở nhà thì không ai nuôi. Quốc tế gửi tiền cho để mua đồ ăn trong nhà giam và giúp cho người nhà ít nhiều để khỏi phải đói rách. Như vậy thì những người bị giam cầm đã khỏi cực khổ quá, mà lại vui lòng. Hoặc Quốc tế xuất tiền thuê thầy kiện để chống án cho. Hoặc gửi áo quần sách vở cho.

    c) Giúp tinh thần: Hoặc phái người hoặc gửi thơ đến thăm.

    1. Người ở giam biết rằng mình tuy hy sinh cho quần chúng mà quần chúng không quên mình, thế thì trong lúc bị giam đã không buồn sau được khỏi lại càng hết sức.

    2. Là người ta biết rằng mình tuy phải giam một nơi, nhưng công việc cách mệnh vẫn cứ phát triển, vẫn có người làm thế cho mình.

    4. Cách mệnh An Nam nên theo Quốc tế này không ?

    Nên lắm. Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau. Huống gì, dân An Nam là đương lúc tranh đấu với đế quốc chủ nghĩa Pháp, chắc là về sau sẽ có nhiều người cách mệnh phải hy sinh, phải khốn khổ, phải cần anh em trong thế giới giúp giùm.

     

     

      

     

    CÁCH TỔ CHỨC CÔNG HỘI  

    1. Tổ chức công hội làm gì ?

    Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới.

    Đi lại không phải là bữa này người A có giỗ chạp thì người B tới ăn; mai người B có cúng quảy lại mời người C tới uống rượu. Nhưng đi lại để bày vẽ cho nhau điều khôn lẽ phải, để giao hoán trí thức cho nhau.

    Nghiên cứu chẳng những là giở sách vở, giở báo ra giảng; nhưng phải bàn bạc cách phấn đấu với tư bản và đế quốc chủ nghĩa 59) .

    Sửa sang cách sinh hoạt như lập hiệp tác xã, mở hội học, hội chơi cho công nhân, vân vân.

    Giữ gìn lợi quyền là khi hội đã có thế lực rồi, thì đòi thêm tiền công, bớt giờ làm, vân vân.

    Giúp cho quốc dân và thế giới là đem lực lượng thợ thuyền cách mệnh làm cho ai cũng được bình đẳng tự do như thợ thuyền Nga đã làm từ năm 1917.

    2. Cách tổ chức công hội thế nào ?

    Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp.

    Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề ấy. Như thợ may vào hội may, thợ rèn vào hội rèn.

    Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội. Như việc xe lửa, người đốt than, người sơn xe, người phát vé, người coi đường, người cầm máy; tất cả nhập vào một công hội xe lửa.

    Tổ chức theo cách sản nghiệp thì mạnh hơn, vì thống nhất hơn. Thí dụ khi xe lửa muốn bãi công, nếu hội là sản nghiệp thì hội viên đều phải bãi công hết, thì tư bản sợ hơn. Nếu hội là nghề nghiệp, thì có khi người đốt lửa bãi công mà người cầm máy không, hoặc người phát vé bãi công mà người làm ga không, thế thì sức bãi công yếu đi.

    3. Một người công nhân có thể vào hai hội không?

    Không. Nếu hội ấy là nghề nghiệp, thì chỉ những người đồng nghề nghiệp được vào; ai đã vào hội sản nghiệp rồi thì không được vào hội nghề nghiệp nữa. Thí dụ: xe lửa đã tổ chức theo sản nghiệp, mấy người thợ việc 60) đã vào hội ấy rồi. Trong xứ ấy lại có một hội thợ mộc khác, những người thợ mộc trong hội xe lửa 61) không được vào.

    Trong một nghề hoặc một sản nghiệp cũng không được lập hai hội.

    Nhưng mà một công hội có phép vào hai tổng công hội. Thí dụ: Hội xe lửa Hà Nội đã vào Tổng công hội xe lửa An Nam lại vào tổng công hội ta nào 62) .

    Nói tóm lại là đoàn thể thì có phép vào nhiều tổng công hội mà từng người thì chỉ được vào một hội mà thôi. Nếu giới hạn này không nghiêm thì sau hay bối rối.

    4. Công hội với chính đảng khác nhau thế nào ?

    Công hội chú trọng mặt kinh tế hơn. Đảng chú trọng mặt chính trị hơn. Ai là thợ thuyền thì được vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là theo đúng quy tắc hội là được.

    Đảng thì bất kỳ người ấy làm nghề gì, thợ thuyền hay là dân cày, học sinh hay là người buôn, miễn là người ấy tin theo chủ nghĩa đảng, phục tùng phép luật đảng 63) thì được vào.

    Ai vào cả đảng và hội, chính trị thì theo đảng chỉ huy, mà kinh tế thì theo công hội chỉ huy. Đảng viên ai cũng phải vào hội để mà tuyên truyền chủ nghĩa của đảng. Nhưng không phải hội viên nào cũng vào được đảng.

    5. Cái gì là hệ thống của công hội ?

    Hệ thống là cách tổ chức ngang hay là dọc.

    Ngang là như trong một tỉnh có hội thợ rèn, hội thợ may, hội thợ mộc, hội thợ nề, vân vân, tất cả các hội tổ chức thành tỉnh tổng công hội; hội nào cũng bình đẳng, bằng ngang nhau.

    Dọc là như mỗi huyện có một hội thợ may, 4,5 hội huyện tổ chức một hội thợ may tuyền tỉnh, tất cả hội thợ may trong mấy tỉnh tổ chức một hội thợ may cả nước. Ấy là dọc, nghĩa là từ dưới lên trên.

    Đã ngang lại dọc, thế thì theo mệnh lịnh tổng công hội ngang hay là tổng công hội dọc ? Nếu quan hệ về sản nghiệp thì theo mệnh lịnh dọc. Nếu quan hệ về địa phương thì theo mệnh lịnh ngang.

    6. Muốn hội vững bền thì phải tránh những việc gì ?

    Đã vào công hội thì:

    l. Nên bỏ giới hạn xứ sở, nghĩa là chớ phân biệt người này là Trung Kỳ, người kia là Nam Kỳ, người nọ là Bắc Kỳ. Và cũng không nên chia ra người An Nam, người Tàu hay là người nước nào. Đã một nghề, một hội tức là anh em cả, phải xem nhau như người một nhà.

    2. Đàn ông, đàn bà đều phải bình đẳng.

    3. Chớ có bỉ thử mình khéo hơn, lương cao hơn, mà khinh người vụng và ăn tiền ít.

    4. Chớ cậy mình là nhiều tuổi mà muốn làm đàn anh.

    5. Chớ cho bọn tư bản vào hội.

    7. Phải tổ chức thế nào cho kiên cố?

    Công hội là cơ quan của công nhân để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa, cho nên tổ chức phải nghiêm nhặt, chỉ huy phải mau mắn, làm việc phải kín đáo. Muốn được như thế thì phải tổ chức như quân đội.

    Quân lính thì có đội ngũ.

    Thợ thuyền phải có tiểu tổ, chi bộ.

    Thí dụ: Trong tỉnh có 5 nhà máy dệt vải, mỗi nhà máy phải có một chi bộ. Trong mỗi chi bộ lại chia làm mấy tiểu tổ; mỗi chi bộ phải cử 3 hoặc 5 người làm uỷ viên; (phần nhiều nên cử những người làm trong lò đã lâu, thuộc tình hình nhiều) mỗi tiểu tổ phải cử tổ trưởng. Mỗi tiểu tổ không được quá 10 người.

    Tiểu tổ theo mệnh lịnh chi bộ, chi bộ theo tỉnh hội, tỉnh hội theo quốc hội 64) . Có thứ tự như thế thì trong hội có mấy mươi vạn người chỉ huy cũng dễ, và hành động cũng nhất trí.

    8. Tiểu tổ làm những việc gì?

    Cây có nhiều rễ mới vững, hội có nhiều tiểu tổ mới bền. Tiểu tổ phải:

    1. Huấn luyện và phê bình anh em;

    2. Thi hành những việc hội đã định;

    3. Bàn bạc việc hội;

    4. Điều tra tình hình trong lò máy;

    5. Đề nghị những việc hội nên làm;

    6. Thu hội phí; .

    7. Báo cáo những việc làm cho chi bộ, để chi bộ báo cáo cho tỉnh bộ, vân vân.

    Chi bộ nhiều người khó khai hội, khó xem xét. Tiểu tổ ít người, làm gần nhau, quen biết nhau, cho nên xem xét, huấn luyện, làm việc và khai hội dễ bí mật hơn và mau mắn hơn. Tiểu tổ là có ích như thế. Vả lại, nếu Chính phủ cấm công hội, mà tiểu tổ khéo tổ chức, thì công hội cứ tiến bộ, cứ làm việc được. Vậy cho nên người ta gọi tiểu tổ là gốc của hội.

    9. Thứ tự trong công hội thế nào?

    Tiểu tổ lên chi bộ.

    Nếu trong tỉnh nhiều lò máy, 4, 5 chi bộ tổ chức một bộ uỷ viên (4, 5 lò ấy mỗi lò cử l hoặc 2 người).

    Bộ uỷ viên lên tỉnh hội.

    Tỉnh hội lên quốc hội.

    Ấy là thứ tự tổ chức. Còn quyền bính thì về dự hội, nghĩa là tất cả hội viên khai hội bàn định. Nếu hội viên nhiều quá, khai hội không tiện thì định mấy người cử một đại biểu dự hội, ấy là đại biểu đại hội. Đại hội nghị định việc gì, thì chấp hành uỷ viên hội phải thi hành. Khi hội tan thì quyền về chấp hành uỷ viên hội.

    Đại biểu đại hội trong tỉnh một tháng khai hội một lần. Đại biểu đại hội trong nước, một năm một lần.

    Đại biểu nên cử công nhân làm, không nên cử những người chức việc trong hội. Khi khai hội, đại biểu phải báo cáo tình trạng và ý kiến của công nhân (không phải ý kiến riêng mình), đề nghị và bàn bạc các việc. Khai hội rồi, phải về báo cáo việc hội cho công nhân.

    10. Có việc gì thì giải quyết thế nào?

    Từ tiểu tổ đến đại hội đều theo cách dân chủ tập trung. Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. Ấy là dân chủ. Đã bỏ thăm rồi, thì giao cho hội uỷ viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải theo mệnh lịnh hội ấy. Ấy là tập trung. Ai không nghe lời thì uỷ viên hội có quyền phạt.

    Gặp việc bất thường không kịp khai hội, thì uỷ viên có quyền xử trí, sau báo cáo cho hội.

    Gặp việc bất thường lắm, thì hội uỷ viên cứ phép giao quyền cho một người, người này có quyền độc đoán, việc rồi 65) báo cáo với hội.

    11. Sao hội viên phải nộp hội phí?

    Có hội thì có phí tổn, như thuê nhà, bút mực, vân vân, ấy là thường phí, hội viên phải gánh. Lại có bất thường phí, như để dành phòng lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi công, hoặc giúp đỡ những người trong hội mất việc làm, hoặc làm các việc công ích, vân vân. Nếu hội không tiền thì làm không được. Cho nên hội viên phải "góp gió làm bão".

    Khi hội có tiền thừa thãi, thì nên làm những việc này:

    l. Lập trường học cho công nhân;

    2. Lập trường cho con cháu công nhân;

    3. Lập nơi xem sách báo;

    4. Lập nhà thương cho công nhân;

    5. Lập nhà ngủ, nhà tắm, nhà hát;

    6. Mở hiệp tác xã;

    7. Tổ chức công binh 66) , đồng tử quân 67) , vân vân. Phải xem hoàn cảnh mà làm, chớ cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa chú ý. Hội tiêu tiền phải rất phân minh, cho hội viên đều biết. Hội phí không nên thu nặng quá; phải theo sức hội viên.

    12. Cách tổ chức bí mật thế nào?

    Khi hội được công khai, các tiểu tổ cũng phải giữ bí mật. Khi không được công khai, thì phải mượn tiếng hợp tác xã, trường học, hoặc câu lạc bộ (nhà xéc) vân vân, che mắt người ta. Ở Tàu, ở Nhật nhiều nơi thợ thuyền lập nhà bán nước, ngoài thì bán bánh bán nước, trong thì làm việc hội. Thợ thuyền vào uống nước ăn bánh, và bàn việc; cho nên ma tà mật thám không làm gì được. Có nơi lại giả hội cúng tế hoặc hội chơi, vân vân để che cho công hội.

    Lại khi mới gây dựng ra hoặc ở nơi thợ thuyền ít, phải tuỳ cơ ứng biến, không nhất định cứ theo cách thường.

    Đại khái cách tổ chức công hội phải thống nhất, bí mật, nghiêm nhặt, thì hội mới vững vàng.  

    TỔ CHỨC DÂN CÀY

    l. Vì sao phải tổ chức dân cày?

    Nước ta kinh tế chưa phát đạt, trong l00 người thì đến 90 người là dân cày. Mà dân cày ta rất là cực khổ, nghề không có mà làm, đất không đủ mà cày, đến nỗi cơm không đủ ăn, áo không có mặc.

    Xem như Trung Kỳ, tất cả chừng 5.730.000 người dân mà chỉ có chừng 148.015 mẫu ruộng.

    Trước năm 1926, Tây đồn điền đã chiếm mất 62.000 mẫu. Từ năm 1926, 175 thằng Tây đồn điền lại chiếm hết:

    l.982 mẫu ở Thanh Hoá,

    35.426 mẫu ở Nghệ An,

    17.076 mẫu ở Nha Trang,

    13.474 mẫu ở Phan Thiết,

    92.000 mẫu ở Kon Tum,

    67.000 mẫu ở Đồng Nai.

    Như thế thì dân ta còn ruộng đâu nữa mà cày!

    2. Tây đồn điền choán ruộng cách thế nào?

    Chúng nó dùng nhiều cách. Như tháng 6 năm 1922 68) , 20 thằng Tây rủ nhau xin Chính phủ Tây mỗi thằng 3000 69) mẫu trong lục tỉnh. Xin được rồi nhóm cả lại thành ra 60.000 mẫu, 19 thằng bán lại cho 1 thằng.

    Tháng 8 năm 1926, nhà ngân hàng Đông - Pháp xin 30.000 mẫu, trong đám đất ấy đã có 6 làng An Nam ở. Khi nhà ngân hàng xin được rồi thì nó đuổi dân ta đi.

    Nam Kỳ bị Tây đồn điền chiếm mất 150.000 mẫu ruộng tốt.

    Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ năm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem văn khế ruộng cầm cho nó và ăn lời thiệt nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau trả không nổi, thì các cố xiết ruộng 70) ấy đem làm ruộng nhà thờ.

    3. Chính phủ Pháp đãi 71) dàn cày An Nam thế nào?

    Tư bản Tây và nhà thờ đạo đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì Chính phủ lại đánh thuế thiệt nặng, mỗi năm mỗi tăng. Như mỗi mẫu ruộng tốt mỗi năm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, Tây nó đã lấy mất 2 đồng 5 hào thuế, nghĩa là 10 phần nó lấy mất một.

    Nếu tính tiền thuê trâu bò, mua phân tro, mướn làm, tiền ăn uống, thì mỗi mẫu mỗi năm đã hết chừng 30 đồng. Nghĩa là dân cày đã lỗ mất 5 đồng, mà Chính phủ lại còn kẹp 72) lấy cho được 2 đồng rưỡi.

    Chẳng thế mà thôi. Dân ta cày ra lúa mà không được ăn. Đến mùa thuế thì bán đổ bán tháo để nộp thuế. Tây nó biết vậy thì nó mua rẻ để nó chở đi bán các xứ, mỗi năm nó chở hết 150 vạn tấn. Nó chở đi chừng nào, thì gạo kém chừng ấy, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.

    4. Bây giờ nên làm thế nào?

    Sự cực khổ dân cày An Nam là:

    l. Ruộng bị Tây choán hết, không đủ mà cày.

    2. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ăn.

    3. Làm nhiều, được ít, thuế nặng.

    4. Lại thêm nước lụt, đại hạn, vỡ đê, mất mùa.

    5. Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới.

    6. Nào là chính trị áp bức (thử hỏi dân cày ta có quyền chính trị gì?) văn hoá áp bức (dân cày ta được mấy người biết chữ, trong làng được mấy trường học?).

    Nếu dân cày An Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.

    5. Cách tổ chức dân cày thế nào?

    Cách tổ chức đại khái như sau:

    1. Bất kỳ đàn ông đàn bà, từ những người tiểu điền chủ cho đến những dân cày thuê cày rẽ, từ 18 tuổi trở lên thì được vào. (Những người đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến 73) thì chớ cho vào hội).

    2. Ai vào phải tình nguyện giữ quy tắc hội, và phải có hội viên cũ giới thiệu.

    3. Làng nào đã có 3 người tình nguyện vào hội thì tổ chức được một hội làng, 3 làng có hội thì tổ chức hội tổng, 3 tổng có hội thì tổ chức hội huyện, 3 huyện có hội thì tổ chức hội tỉnh, 3 tỉnh có hội thì tổ chức hội nước.

    4. Còn cách khai hội, tổ chức các bộ làm việc, tuyển cử, đề nghị, giải quyết, báo cáo thì cũng như công hội.

    6. Hội dân cày nên đặt tiểu tổ hay không?

    Dân cày trong làng không xúm xít đông đúc như thợ thuyền trong lò máy, cho nên hội dân cày làng thế cho tiểu tổ; người uỷ viên thế cho tổ trưởng cũng được.

    Uỷ viên bên thì chỉ huy cho hội viên làm việc, bên thì thi hành mệnh lịnh từ thượng cấp truyền đến, bên thì báo cáo việc đại hội với hội viên, bên thì báo cáo công việc hội viên với đại hội.

    Các hội viên thì phải:

    l. Kiếm hội viên mới;

    2. Điều tra cách ăn làm và các việc trong làng;

    3. Đề xướng làm các hợp tác xã;

    4. Hết sức mở mang giáo dục, như lập trường, tổ chức nhà xem sách, vân vân;

    5. Khuyên anh em dân cày cấm rượu, a phiến, đánh bạc;

    6. Đặt hội cứu tế, vân vân.

    Nói tóm lại là kiếm làm những việc có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống.

    7. Nếu không có tiểu tổ sao giữ được bí mật?

    Ấy là nói về lúc bình thường, có lẽ công khai được. Nếu lúc phải giữ bí mật, thì:

    l. Phải dùng cách tiểu tổ;

    2. Chớ gọi là hội dân cày, nhưng gọi là phường lợp nhà, phường đánh cá, phường chung lúa, vân vân để mà che mắt thiên hạ. Vả trong làng xã An Nam hiện bây giờ cũng có nhiều phường hội như thế, muốn tổ chức dân cày thì nên theo hoàn cảnh mà lợi dụng những phường ấy. Cốt làm sao cho người ngoài đừng chú ý là tốt.

    Khi hội đã vững, hội viên đã đông, lại nên đặt các bộ chuyên môn 74) như:

    Bộ tập thể thao;

    Bộ cải lương nghề cày cấy 75) ;

    Bộ người cày thuê (đi cày thuê gặt mướn cho người ta, mình không có đất ruộng trâu bò gì cả);

    Bộ người cày rẽ;

    Bộ thủ công nghiệp (thợ thuyền trong làng tuy không cày ruộng, hoặc nửa cày nửa thợ, cũng phải cho vào hội dân cày);

    Bộ thanh niên, bộ phụ nữ, bộ giáo dục, vân vân.

    8. Có nông hội rồi đã khỏi những sự cực khổ nói trên chưa?

    Sự tự do, bình đẳng phải cách mệnh mà lấy lại, hội nông là một cái nền cách mệnh của dân ta. Nếu thợ thuyền và dân cày trước tổ chức kiên cố, sau đồng tâm hiệp lực mà cách mệnh thì sẽ khỏi những sự cực khổ ấy. Dẫu chưa cách mệnh được ngay, có tổ chức tất là có ích lợi. Như mỗi năm Tây nó bắt dân ta hút 150 vạn kilô a phiến, nó lấy 1.500 vạn đồng lời. Nó bắt ta mua 173.000.000 lít rượu, nó lấy l000 triệu phrăng lời. Nó vừa lấy lời vừa làm cho ta mất nòi mất giống. Nếu dân cày tổ chức mà khuyên nhau đừng uống rượu, đừng hút a phiến, thì đã cứu được nòi giống khỏi mòn mỏi, mỗi năm lại khỏi đem 1.000.000.000 phrăng và 15.000.000 đồng bạc cúng cho Tây. Tây nó áp bức ta vì ta không thương yêu nhau, vì ta ngu dốt. Có hội hè rồi trước là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành. Chúng ta đã biết "cách mệnh" tinh thần, "cách mệnh" kinh tế, thì "cách mệnh" chính trị cũng không xa.

    HỢP TÁC XÃ

    l. Lịch sử.

    Hợp tác xã đầu hết 76) sinh ra ở bên Anh. Năm 1761, mấy người thợ dệt vải rủ nhau lập ra một cái hội "làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm".

    Năm 1777, một hội khác lập ra. Sau còn nhiều hội lập ra nữa, nhưng chẳng được lâu.

    Năm 1864, một hội mới lại lập ra được 999 đồng vốn. Đến năm 1923, thì hội này có 5.673.245 đồng vốn và tiền buôn bán đi lại được 47.777.000 đồng, 14 chiếc tàu, và 5.000 mẫu vườn chè (trà), 6 người đại biểu làm hạ nghị viện, 4.580.623 người hội viên.

    Hợp tác xã bây giờ bên Nga lớn nhất, thứ hai đến Anh (tiêu phí hợp tác 77) ), thứ ba Pháp (sinh sản hợp tác 78) ), thứ tư Đan Mác 79) (nông dân hợp tác), thứ năm Đức (ngân hàng hợp tác 80) ).

    Ở Nhật có một hội khi mới lập chỉ có 1.840 đồng vốn cách 8 năm đã có 370.000 đồng.

    2. Mục đích.

    Tuy cách làm thì có khác nhau ít nhiều, nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau. Mục đích ấy thì trong lời tuyên ngôn của hợp tác xã Anh đã nói: "Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hoá ra anh em. Anh em thì làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau. Bỏ hết thói tranh cạnh. Làm sao cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây".

    Hồi bây giờ tư bản và đế quốc chủ nghĩa bá tước 81) dân chẳng sót cách gì, chúng nó lấy tiền dân trở lại áp bức dân, chúng nó đã rán sành ra mỡ, lại còn "lấy gậy thầy đánh lưng thầy" cho nên hợp tác xã trước là có ích lợi cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa.

    3. Lý luận.

    Tục ngữ An Nam có những câu: "Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó" và "Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao". Lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều ấy.

    Nếu chúng ta đứng riêng ra, thì sức nhỏ, mà làm không nên việc. Thí dụ mỗi người mang một cái cột, một tấm tranh ở riêng mỗi người một nơi, thì lều chẳng ra lều, nhà chẳng ra nhà.

    Nhóm những cột ấy, tranh ấy, sức ấy, làm ra một cái nhà rộng rãi bề thế rồi anh em ở chung với nhau. Ấy là hợp tác.

    Lại thí dụ l0 người muốn ăn cơm, mỗi người riêng một nồi, nấu riêng một bếp, nấu rồi ăn riêng; ăn rồi ai nấy dọn dẹp riêng của người nấy, thế thì mất biết bao nhiêu củi, nước, công phu và thì giờ.

    Hợp tác xã là "góp gạo thổi cơm chung" cho khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ.

    4. Mấy cách hợp tác xã.

    Hợp tác xã có 4 cách:

    1. Hợp tác xã tiền bạc 82) ;

    2. Hợp tác xã mua;

    3. Hợp tác xã bán;

    4. Hợp tác xã sinh sản.

    Trước khi nói rõ những hợp tác ấy là thế nào, chúng ta phải biết rằng:

    a) Hợp tác xã khác hội buôn, vì hội buôn lợi riêng, hợp tác xã lợi chung.

    b) Hợp tác xã tuy là để giúp đỡ nhau, nhưng không giống các hội từ thiện. Vì các hội ấy có tiêu đi mà không làm ra , và giúp đỡ bất kỳ ai nhưng có ý bố thí, hợp tác xã có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp cho người trong hội, nhưng giúp một cách bình đẳng, một cách "cách mệnh" ai cũng giúp mà ai cũng bị giúp.

    5. Hợp tác xã tiền bạc.

    Hay là ngân hàng của dân; dân cày và thợ thuyền chung vốn lập ra:

    l. Hội viên thiếu vốn làm ăn (vay về tiêu xài thì không cho) thì đến vay được lời nhẹ;

    2. Hội viên có dư dật ít nhiều, thì đem đến gửi, được sinh lợi.

    Dân nghèo, người có mà góp thì ít, người muốn vay thì nhiều, vậy thì thế nào lập được ngân hàng? Muốn lập được phải có ba điều:

    a) Tiền vốn - Nếu 1 người bỏ vào một đồng, l000 người đã được l000 đồng. Có l000 vốn, lưu thông khéo thì cũng bằng l0.000 đồng.

    b) Lưu thông - Nếu mỗi người giữ lấy một đồng, thì l000 đồng ấy cũng tiêu mất. Nếu góp lại, tháng đầu cho A vay l00 hẹn 6 tháng trả; tháng 2 cho B vay 100 vân vân, chuyển đi mãi, lưu thông mãi, cả lời đến vốn, mỗi tháng mỗi nhiều, và giúp được hội viên cũng mỗi ngày một nhiều thêm.

    c) Tín dụng - Làm có bề thế cho người ta tín dụng 83) , thì giao dịch dễ. Vậy thì vốn tuy ít mà dùng được nhiều.

    6. Hợp tác xã mua.

    Nhà nào cũng không làm đủ đồ dùng được, chắc phải đi mua. Mua nhiều (mua sỉ) 84) thì chắc rẻ hơn mà đồ tốt hơn. Mua lẻ thì đắt mà đồ thì xấu. Nhưng thợ thuyền và dân cày lấy tiền đâu mà mua sỉ? Mua được, một nhà dùng cũng không hết. Cho nên phải chịu thua thiệt mãi.

    Nếu nhiều nhà góp lại, mua sỉ về chia nhau, thì đã được rẻ, đồ lại tốt lại khỏi mất thì giờ.

    Thí dụ: Mỗi thùng (dầu lửa giá 3 đồng, được 50 lít. Nhà buôn mua về kiếm cách pha phết thành ra 53 lít. Dân mỗi nhà phải có một người xách chai đi chợ mua mỗi lít phải trả một hào, dầu đã xấu, thắp lại mau hết. Tính lại nhà buôn lời:

    1 cái thùng                              0đ20

    23 lít đầu                       2đ30

    Cộng cả                        2đ50

    53 nhà dân lỗ: 2đ50 và 53 giờ đồng hồ.

    Nếu 53 nhà ấy góp nhau phái một người đi mua một thùng, thì đã khỏi mất 2đ50, lại lời được 53 giờ. Đem 53 giờ ấy làm việc khác, lại càng lời nữa.

    7. Hợp tác xã bán.

    Mua càng nhiều càng rẻ, bán càng nhiều càng đắt. Mua càng ít càng đắt, bán càng ít càng rẻ. Ai cũng biết như vậy. Nhưng dân nghèo có đồ đâu mà bán nhiều. Vả lại khi đã đem rổ khoai thúng lúa đi chợ, thì đắt rẻ cũng muốn bán cho xong, không lẽ mang đi mang về mãi. Phần thì sợ mất công, phần thì sợ mất thuế, phần thì sợ hao mòn. Nhà buôn biết vậy, lại càng bắt bí trả rẻ.

    Lại thí dụ: 53 nhà có 53 thúng lúa, cho 53 người đem đi bán, phải nộp 53 lần thuế; đong đi đong lại đổ tháo mất 53 nắm, nhà buôn bắt bí trả rẻ mất 53 xu (mỗi thúng một xu). Giời nắng, 53 người phải uống 53 xu nước, vân v.. Tính lại, thua thiệt biết chừng nào.

    Nếu 53 nhà ấy có hợp tác xã bán, thì lời biết bao nhiêu!

    8. Hợp tác xã sinh sản.

    Hợp tác này là để giúp nhau làm ăn. Thí dụ: Dân cày mỗi nhà có một con bò, phải có một thằng bé chăn, phải có một cái ràn 85) , lôi thôi biết chừng nào? Lại như những nhà không có, mùa cày phải thuê trâu. Mỗi nhà phải tự sắm lấy cày, bừa, cuốc, liềm, vân v., khi cày mẻ, cuốc cùn chưa có tiền mua thì phải ngồi chịu. Nếu chung nhau mua trâu, mua đồ cày, ai dùng đến thì phải nộp ít nhiều, như thế há chẳng hơn sao?

    Lại như trồng ra bông; nhưng không có bàn đánh bông, không có đồ kéo sợi, phải đem bông bán rẻ. Nếu góp nhau làm hợp tác xã, mua đủ đồ mà làm, thì công ít mà lợi nhiều.

    Nói tóm lại là hợp tác xã rất có lợi cho nên dân các nước làm nhiều lắm. Thử xem các hàng buôn sở dĩ mà giàu có, chẳng qua nó bớt ngược bớt xuôi của dân. Hợp tác xã là để cho khỏi bị hàng buôn ăn bớt.

    9. Nhà buôn lấy lời.

    Nhà buôn kiếm được lời là vì người làm ra đồ và người dùng đồ, người mua và người bán cách xa nhau, phải nhờ nhà buôn đứng giữa, nó đã ăn lời khi mua, lại ăn lời khi bán. Thí dụ: Ngoài Bắc là xứ trồng chè, trong Nam là hay uống chè. Nhưng dân Bắc không đem vào Nam bán, dân Nam không ra tới Bắc mua.

    Mấy nhà có chè đem bán cho A, hàng chè trong tổng; A đem bán lại cho B, buôn chè trong phủ, ăn lời một lần. B lại đem bán cho phố C ở tỉnh , ăn lời 2 lần. C bán cho công ty Đ Hà Nội , ăn lời 3 lần. Công ty Đ bán cho công ty E Sài Gòn, ăn lời 4 lần. Công ty E lại bán cho nhà buôn F các tỉnh, ăn lời 5 lần . Nhà buôn F bán sỉ cho phố G các phủ, ăn lời 6 lần. G bán lẻ cho H, ăn lời 7 lần. H bán lẻ cho người uống, ăn lời 8 lần.

    Thế là người làm ra chè thua thiệt, người uống chè cũng thua thiệt. Nếu có hợp tác xã thì tránh khỏi những điều ấy.

    l0. Cách tổ chức.

    Không phải làng nào cũng phải lập mỗi làng mỗi hợp tác xã. Cũng không phải mỗi làng phải lập cả mấy hợp tác xã. Cũng không phải có hợp tác xã này thì không lập được hợp tác xã kia. Chẳng qua theo hoàn cảnh nơi nào lập được hợp tác xã nào, và có khi hai hợp tác xã - mua và bán - lập chung cũng được.

    Nếu nhiều nơi đã lập thành hợp tác như nhau, thì các hợp tác xã ấy nên liên lạc với nhau, thế lực càng mạnh hơn. Hoặc khi hai hợp tác xã tính chất khác nhau, thì cũng nên liên kết, như một hợp tác xã mua và một hợp tác xã bán.

    Hợp tác xã chỉ có hội viên mới được hưởng lợi, chỉ có hội viên mới có quyền, nhưng những việc kỹ thuật như tính toán, xem hàng hoá, cầm máy, vân v., thì có phép mướn người ngoài.

    Đã vào hội thì bất kỳ góp nhiều góp ít, vào trước vào sau, ai cũng bình đẳng như nhau.

      

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.2, tr. 257-312.

    ____________

    1) Hai câu này trích trong cuốn Làm gì ? của Lênin

    2) Trắc đạc: đo đạc.

    3) Cách vật cách mệnh: sinh vật cách mệnh.

    4) Sinh hoá: nảy nở và biến đổi.

    5) Cuộc Minh Trị duy tân từ năm 1868.

    6) Giành lấy chính quyền.

    7) Cuộc nội chiến ở Mỹ kéo dài từ 1861 đến 1865 giữa các tập đoàn tư sản công nghiệp miền Bắc và các tập đoàn chủ nô miền Nam.

    8) Đồng phrăng Pháp.

    9) Giai cấp bị áp bức cách mệnh, tức là giai cấp bị áp bức làm cách mạng.

    10) Nay là nước Triều Tiên.

    11) Công nông là người chủ cách mệnh, tức là công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt, là đội quân chủ lực của cách mạng.

    12) Giảng giải lý luận và chủ nghĩa, tức là giảng giải lý luận cách mạng và chủ nghĩa Mác - Lênin.

    13) Tức là không biết nắm thời cơ cách mạng.

    14) Dân thường bị chia rẽ (do âm mưu của bọn thực dân là chia rẽ để dễ cai trị).

    15) 48 tỉnh: 48 bang, khi cách mạng tư sản Mỹ bùng nổ (1776) ở Mỹ có khoảng 3 triệu dân với 13 bang, hiện nay có khoảng 200 triệu dân với 52 bang.

    16) Cách mạng tư sản là cuộc cách mạng không triệt để.

    17) Kẻ phản bội Tổ quốc.

    18) Quân đội cách mạng Pháp thành lập năm 1793, gồm phần lớn là nông dân và thợ thủ công nghèo. Họ không được trang bị quần ngắn như quân đội của bọn quý tộc.

    19) Chỉ cuộc cách mạng tư sản Pháp lần thứ 2, nổ ra tháng 2 năm 1848.

    20) Tức là Chính phủ của nhân dân.

    21) Cơ sở sản xuất.

    22) "Culít": Cảnh sát.

    23) Tước đoạt.

    24) Kẻ theo chủ nghĩa cơ hội.

    25) Tức là phải chịu luồn cúi bọn nhà giàu.

    26) Tức là Các Mác.

    27) Năm 1894, Lênin tham gia vào các nhóm mácxít Nga ở Pêtécbua. Năm 1895, Lênin hợp nhất các nhóm mácxít đó lại thành Liên minh chiến đấu giải phóng giai cấp công nhân. Đó là bước chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Nga.

    28) Bọn cải lương, thoả hiệp.

    29) Khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nổ ra.

    30) Tin dùng.

    31) Được tham gia chính quyền, được dự vào chính phủ.

    32) Pháp luật.

    33) Thực hiện chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

    34) Thành công triệt để.

    35) Lại ra sức giúp đỡ công nông các nước và nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa.

    36) Thì phải lấy dân chúng.

    37) Bóc lột.

    38, 39, 40) Trong nguyên bản thường viết là Đệ 3, Đệ 1, Đệ 2.

    41) Nước Ai Cập.

    42) Các nước nằm trên bán đảo Bancăng, gồm: Anbani, Bungari, Nam Tư, Hy Lạp, một phần Thổ Nhĩ Kỳ.

    43) Chủ nghĩa Mác mà Quốc tế thứ nhất đi theo.

    44) Trong điều kiện tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản không đủ sức duy trì sự thống trị của chúng bằng phương pháp nghị trường được nữa, mà phải dùng đến những chính sách phát xít: độc tài, khủng bố cùng với chính sách mị dân. Để thực hiện các chính sách đó, giai cấp tư sản ở một số nước đã lập ra những đảng phát xít.

    45) Đến lúc cùng đường.

    46) Nay là nước Iran.

    47) Nay là nước Inđônêxia.

    48) Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha- những nước nói tiếng Latinh (T.G).

    49) Chủ nghĩa cải lương chủ trương công hội nên giúp đỡ chính đảng nhưng không nên chịu sự lãnh đạo của chính đảng.

    50) Những công nhân bị bọn tư sản mua chuộc.

    51) Nước Hà Lan.

    52) Kế hoạch Đaoxơ.

    53) Lúc đó ở Việt Nam chưa thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản.

    54) Na Uy.

    55) Lúc bãi công gần thắng lợi rồi mới đem về.

    56) Bị bắt.

    57) Chỉ thị.

    58) Lãnh sự quán.

    59) Câu này hiểu như sau: Nghiên cứu chẳng những là giở sách vở, giở báo ra giảng, mà còn phải bàn bạc cách đấu tranh với bọn tư bản và đế quốc chủ nghĩa.

    60) Công nhân các nghề trong ngành xe lửa.

    61) Công hội xe lửa.

    62) Câu này hiểu là: Hội xe lửa Hà Nội đã vào Tổng công hội xe lửa Việt Nam, còn có thể vào một tổng công hội khác.

    63) Điều lệ đảng.

    64) Công hôi toàn quốc.

    65) Xong việc rồi.

    66) Ở đây có thể là đội tự vệ.

    67) Một tổ chức của thiếu niên, nhi đồng. (Sau này Đảng ta đã thành lập tổ chức này vào những năm 1930-1931).

    68, 69) Số này trong nguyên bản bị mờ.

    70)Một hình thức tước đoạt ruộng đất để trừ vào tiền cho vay.

    71) Đãi: đối xử với...

    72) Bắt ép, chắt chẹt.

    73) Thuốc phiện.

    74) Các ban chuyên môn.

    75) Ban cải tiến nghề cày cấy.

    76) Đầu tiên.

    77) Hợp tác xã tiêu thụ.

    78) Hợp tác xã sản xuất.

    79) Nước Đan Mạch.

    80) Hợp tác xã vay mượn hay còn gọi là hợp tác xã tín dụng.

    81) Bóc lột.

    82) Hợp tác xã vay mượn hay hợp tác xã tín dụng.

    83) Tín dụng là công việc của ngân hàng về cho vay và nhận tiền gửi. Đoạn nói về tín dụng ở đây hiểu là: cần phải làm cho có bề thế để người ta tin tưởng khi gửi tiền và vay tiền.

    84) Ở đây dùng từ này theo nghĩa địa phương mua buôn hay mua nhiều.

    85) Cái chuồng.  

    Năm 1928

     

     Năm 1928 (*)

    THƯ GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Các đồng chí thân mến,

    Đây là tóm tắt tình hình của tôi:

    Tháng 5-1927...                 rời Quảng Châu

    Tháng 6...                         tới Mátxcơva

    Tháng 7 - tháng 8              ở bệnh viện

    Tháng 11                          được phái đi Pháp

    Tháng 12                          rời Pháp (không thể công tác được do cảnh sát) đến hội nghị Bruyxen.

    Tháng 1 - tháng 4 - 1928     Chờ chỉ thị của các đồng chí ở Béclin và sống bằng sự giúp đỡ của MOPRE 1) .

    *

    Vì không thể công tác ở Pháp, ở Đức thì vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

    Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một năm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

    Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

    Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

    l) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

    2) Không có gì để sống vì rằng MOPRE không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

    Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

    Xin gửi lời chào cộng sản.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Béclin ng ày 12-4-1928.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.2, tr. 325-326.

    _______________

    1) Tên viết tắt của Tổ chức Quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng.

    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.

     

     

     

    PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN MỚI ĐÂY TẠI ẤN ĐỘ

    Tại Ấn Độ cũng như ở các thuộc địa khác, chủ nghĩa đế quốc Anh đang tìm cách chia rẽ giai cấp vô sản bằng cách thường xuyên khơi sâu những thành kiến về chủng tộc. Vì thế tất cả các chỗ làm được trả lương cao đều dành cho người Anh và những người lai Anh- Ấn. Trong những nhà máy điện, những người này lĩnh mỗi ngày 15 rupi; họ có nhà ở sang trọng không phải trả tiền, trong khi thợ thuyền Ấn Độ chỉ được từ 4 anna 1) đến 1,5 rupi mỗi ngày và nhà ở phải trả tiền. Trong ngành xe hoả, một người Anh hoặc người lai lĩnh tới 7 rupi mỗi ngày; trái lại, một thợ không chuyên Ấn Độ chỉ được 8 anna và một công nhân được 13 anna mỗi ngày. Những viên chức người Anh và người lai, ngoài lương cao, còn có các trường học, vườn trẻ và hợp tác xã tiêu thụ mà Chính phủ hoặc các công ty dành riêng cho, cấm không cho người Ấn Độ đến, trong khi ấy các viên chức bàn giấy người Ấn chỉ lĩnh hằng tháng từ l0 đến 20 rupi.

    Để đáp lại những đặc quyền đó, những viên chức người Anh và người lai hợp tác với giới chủ chống công nhân bản xứ. Các sự kiện đẫm máu ngày 28 tháng 3 vừa qua minh hoạ một cách rõ ràng thái độ bài vô sản của thứ thợ thuyền quý tộc này: những viên chức người Anh và người lai trên đường sắt Lilôa đã hợp tác tích cực với cảnh sát có vũ trang trong việc ám sát năm người bãi công có nhiệm vụ kiểm tra lệnh đình công.

    Nhưng thợ thuyền Ấn Độ đấu tranh không mệt mỏi chống các mưu mô của đế quốc và các thành kiến chủng tộc. Vì thế nên mặt trận chiến đấu của họ được củng cố hằng ngày, như nhiều cuộc đấu tranh vừa qua đã cho thấy.

    Ngày 21 tháng 2, 400 thợ điện các lò cao tại Iamsétpua bãi công để đòi tăng lương. Họ đòi 5 rupi mỗi ngày chứ không phải 14-15 anna như hiện đang lĩnh.

    Ngày 5 tháng 3, sau khi sáu công nhân bị đuổi vì hoạt động nghiệp đoàn, 14.000 công nhân hoả xa ở Lilôa lãn công và, ngày 8, từ lãn công chuyển thành bãi công thực sự. Những người bãi công đòi cho các đồng chí bị đuổi được trở lại làm việc, đòi tăng 25% lương và đòi tự do nghiệp đoàn. Xin nhắc lại rằng Liên đoàn Công nhân hoả xa tồn tại đã được mười năm mà vẫn chưa được Chính phủ và công ty công nhận.

    Ngày 7 tháng 3, 10.000 thợ làm việc cho thành phố bãi công đòi 30 rupi mỗi tháng chứ không phải 14 như hiện nay họ lĩnh.

    Ngày 9 tháng 3 có cuộc bãi công của 2.500 thợ nhà máy bông ở Lútlốc vì một người thợ bị tên đốc công đánh.

    Ngày 15 tháng 3, 900 thợ nhà máy Paren (Bombay) đấu tranh để đòi tăng lương.

    Ngày 10 tháng 3 có một hội nghị của nhân viên bưu điện Mađrát.

    Hiện nay họ chỉ lĩnh từ 10 đến 20 rupi mỗi tháng. Nhà ở của họ tiều tuỵ đến mức đáng sợ, trong khi những viên chức có đặc lợi, người Anh và người lai, lĩnh đồng lương đế vương và có nhà đầy đủ tiện nghi. Nhân viên bưu điện Mađrát đòi nâng lương từ 30 lên 40 rupi mỗi tháng. Ta hãy nhớ rằng một người đưa thư ở nông thôn, phụ trách đến 60 làng và đi bộ mỗi ngày 30 kilômét mà chỉ lĩnh có 16 rupi mỗi tháng.

    Ngày 19 tháng 3, công nhân xe điện Mađrát họp hội nghị đặc biệt đòi tăng lương và phản kháng công ty đuổi thợ mà không hoàn lại số tiền ký quỹ họ đã phải nộp khi được nhận vào làm.

    Ngày 22 tháng 3, Đại hội Liên hiệp nghiệp đoàn tỉnh Bombay, thay mặt cho 30.000 công nhân có tổ chức họp tại Đamôda. Nhiều nghị quyết đã được thông qua. Những nghị quyết đó đòi: ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, lương phải trả hằng tuần, có tiền bảo hiểm xã hội cho những trường hợp thất nghiệp, ốm đau, sinh đẻ, già yếu cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân, bãi bỏ chế độ phạt tiền và chế độ khấu lương để đền bù dụng cụ và vật liệu hỏng, trả lại tự do cho những công nhân vì hoạt động nghiệp đoàn mà bị bắt. Đại hội có dự kiến thay thế các nghiệp đoàn nghề bằng các nghiệp đoàn công nghiệp. Về phương diện chính trị, Đại hội tuyên bố chống chiến tranh và chống các luật đàn áp. Đại hội cũng đã dự kiến tổ chức một Đảng Lao động để bảo vệ các quyền chính trị của người lao động.

    Những cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản Ấn Độ. Đây là một bảng so sánh minh hoạ số thu nhập theo đầu người, trong nhiều nước, do bác sĩ Hácđica lập ra vào tháng 5 năm 1927: Hoa Kỳ 1.116 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468, Ấn Độ 15. Ta cũng nên nói qua rằng vấn đề nhà ở là một trong những cái ung đau nặng nhất của vô sản Ấn Độ. Theo báo cáo của ông chủ tịch Liên hiệp thợ thuyền thành phố Mađrát, hơn 10.000 người lao động của thành phố này ngủ đêm ở các chuồng bò hoặc nhà xe, và điều này cũng đúng với những thành phố khác. Sự khổ cực kinh tế này làm cho tuổi thọ của người Ấn Độ rất thấp. Dưới đây là so sánh tuổi thọ tăng bình: Anh 51,5; Hoa Kỳ 50; Pháp 48,5; Đức 47,4; Ấn Độ 24,7. Tỷ lệ tử vong ở Ấn Độ cũng cao hơn ở bất kỳ nơi nào khác: Hoa Kỳ 12,9 phần nghìn; Anh 14,6; Đức 16,2 và Ấn Độ 30!

    Nông thôn cũng nổi dậy, ngày càng có phản ứng mạnh đối với tình trạng như vậy. Ngày 15 tháng 2, tại Viện dân biểu Miến Điện, Chính phủ thuộc địa đề nghị cử "những đại biểu đặc biệt" đến các huyện đang đặc biệt tích cực chống thuế. Đề nghị đó bị bác với 24 phiếu chống trên 18 phiếu thuận. Thất bại đó của Chính phủ đã gây chấn động trong nước; lại càng chấn động khi Chính phủ buộc phải thú nhận rằng biện pháp cử “những đại biểu đặc biệt" là cần thiết vì từ mấy tuần nay đã có đến 22 người thu thuế bị nông dân làm cho khốn đốn.

    Để trả thù, ông thống đốc đã cấm 25 tổ chức nông dân và tôn giáo hoạt động và tăng cường cảnh sát ở 44 huyện.

    Ngày 19 tháng 3, khi một người của họ bị ngược đãi, các culi ở đồn điền trồng chè lớn tại Đíchgubác đã nổi dậy và đẩy những tên đốc công vào tình trạng khốn đốn. Biến cố nhỏ này có một ý nghĩa lớn: những công nhân nông nghiệp vốn rất dễ bảo và thụ động giờ đây đã thức tỉnh và biết tự vệ. Một dấu hiệu của thời đại! Phong trào chống thuế ở Bácđôlê tiếp tục. Họ tổ chức những nhóm người tình nguyện để bảo vệ những nông dân bị doạ tịch biên. Chính cảnh sát huyện cũng có cảm tình với nông dân và tuyên bố rằng họ sẽ không thực thi những lệnh đàn áp của Chính phủ.

    WANG

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.2, tr. 333-336.

    ____________

    1) 1 anna = 1/6 rupi.

     

     

    THƯ GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG, QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Béclin, ngày 21 tháng 5 năm 1928

    Các đồng chí thân mến,

    1. Tôi đã nhận đủ cái cần thiết để lên đường. Xin cảm ơn. Tôi sẽ ra đi vào khoảng tuần thứ ba tháng 5 này.

    2. Do lúc này không thể trực tiếp liên lạc với các đồng chí, mọi sự liên lạc của tôi đều qua đồng chí Satô ở Liên đoàn chống đế quốc tại Béclin.

    3. Trước khi lên đường, tôi xin phép trình bày mấy nhận xét về Ban thuộc địa thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

    Tôi đã thông báo với các đồng chí rằng Ban thuộc địa đó đã có nhiều tiến bộ (Trước kia chẳng có gì. Nay đã có những văn phòng và đồng chí thường trực). Tuy nhiên, mới làm được rất ít việc trong số những người bản xứ ở Pháp, ít ra trong những người Đông Dương. Báo chí. Đại hội. Tổ chức. Tất cả những thứ đó mới chỉ còn trên giấy. Tôi nghĩ rằng Ban thuộc địa thiếu sự linh hoạt trong công tác. Tôi xin kể trường hợp riêng của tôi. Trong một tháng rưỡi tôi ở Pari, vì đồng chí Đôriô đang ở tù, cho nên tôi không có dịp nào nói chuyện nghiêm túc với các đồng chí khác. Nhiều lần , tôi xin những địa chỉ chắc chắn để có thể liên lạc với họ khi tôi sẽ ở phương Đông, thì đồng chí có trách nhiệm đã từ chối không đưa cho tôi . Các đồng chí nói rằng Ban thuộc địa có một ngân quỹ dành cho công tác thuộc địa. Nhưng theo tôi biết quỹ hoàn toàn rỗng, thậm chí chẳng có gì để lo ăn cho các đồng chí đi công tác qua.

    Tôi kiến nghị:

    a) Tài chính của Ban thuộc địa cần được các đồng chí kiểm soát.

    b) Ban thuộc địa thường xuyên gửi đến các đồng chí những báo cáo về công tác đã làm và kế hoạch công tác sắp tới.

    c) Ban thuộc địa phải tổ chức những phương tiện giao thông liên lạc đường Pháp - Đông Dương (qua Boócđô, Mácxây, Lơ Havơrơ), chuyển tên các đồng chí và tên các tàu đến chỗ Liên đoàn (đồng chí Satô) báo cho tôi biết, để tôi có thể bắt liên lạc với họ.

    d) Sẽ là rất có ích nếu vài đồng chí của Đảng hay của Đoàn thanh niên Nga chịu trách nhiệm săn sóc các sinh viên Đông Dương ở Mátxcơva, giúp họ tìm hiểu đời sống công nhân và thực hành công tác tổ chức (tất cả họ không thuộc thành phần vô sản và, theo như tôi có thể nhận xét, họ biết rất ít các phương pháp tổ chức).

    Xin gửi lời chào cộng sản.

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.2, tr. 341-342.

     

     

    ĐÔNG DƯƠNG KHỔ NHỤC

    "Ở Đông Dương giết người là việc xảy ra hằng ngày", một diễn giả đã tố cáo như vậy ở Đại hội Liên đoàn chống áp bức thuộc địa và chống chủ nghĩa đế quốc họp ở Brúcxen. Câu nói đơn giản nhưng bao hàm cả sự thật hiển nhiên, đau xót của dân tộc đang bị đày đoạ này, mà đế quốc Pháp đang ra sức bưng bít những tiếng kêu gào của họ. Thực thế, ở đây, trong cái "pháo đài của nước Pháp ở Thái Bình Dương" ấy, người ta được mục kích hằng ngày những hành vi bạo ngược, giết người ăn cướp ghê tởm nhất. Dĩ nhiên là những tội ác của bọn thực dân tàn bạo ấy được chính quyền bao che. Từ người đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, ai nấy cũng tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ dân tộc đã bị chinh phục này. Chính Toàn quyền Varen, một đảng viên xã hội, đã cướp không hàng chục nghìn hécta đất của nông dân đem cho bạn nó; chính viên đội Đuyruýt đã bắt phạm nhân tự đào lấy mồ, đánh chết họ như đánh chó rồi đem chôn cất những người đang còn sống; một tên cai mỏ than ở Bắc Kỳ, đã làm chết một anh thợ bằng cách đánh anh gãy hai chiếc xương sườn vì anh đã dám coi thường nó. Đối với những tên sát nhân ấy, tòa án đã cho đứa thứ nhất vô tội, kết án đứa thứ hai hai tháng tù treo. Thật đúng là một thứ công lý chính tông! Đương nhiên cướp của giết người đối với bọn thực dân cá mập là những điều hợp pháp! Chúng ta không có đủ thì giờ kể hết tội ác của bọn côn đồ ấy. Chúng ta chỉ cần nói rằng đế quốc Pháp với quân lính của chúng đã coi tính mạng người Đông Dương như cỏ rác, muốn thì chúng tước đoạt của cải, thích thì chúng bắn giết. Nhưng áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Trong những năm gần đây, dân bản xứ bị bóc lột ngày một thêm tệ nên họ đã chống chủ nghĩa đế quốc quyết liệt. Những mưu toan mới đây nhằm trưng thu đất đai của nông dân nghèo đã gặp một sự phản ứng đích đáng biểu hiện trong các cuộc nổi dậy và đổ máu. Công việc nặng nhọc không lúc nào được nghỉ ngơi của những phu đồn điền cao su - ở mỗi đồn điền này hằng tháng trung bình có 62 người chết - đời sống khổ sở, đói rét đã dẫn họ đến bạo động, kết quả là một số người cầm đầu bị tử hình. Điều này chứng tỏ rằng bây giờ căm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp những cuộc đấu tranh một sống một chết. Vì vậy Chính phủ thuộc địa quay lại đàn áp tàn nhẫn những người bất mãn chống lại chính sách cai trị của nó, những người đấu tranh để giành lại tự do và quyền sống. Chính phủ ấy còn đàn áp một cách chưa từng thấy đối với những người cách mạng và tình nghi cách mạng. Chúng xử rất nhiều án tù tội hàng chục năm. Ông Phan Văn Trường, một nhà báo An Nam, đã bị hai năm tù vì ông đã có tội đăng lại một bài của báo L' Humanité bàn về sự "Đoàn kết huynh đệ với cách mạng Trung Quốc".

    Sách báo viết về vấn đề độc lập dân tộc đều bị cấm ngặt không được lưu hành; còn tác giả và quản lý thì bị kết án nặng. Vì vậy nên hai anh em ông Vương Gia Bật và Vương Gia Ngãi ở Trung Kỳ đã bị kết án một người ba năm tù, một người hai năm, chỉ vì có tội là bày vào tủ hàng sách của các ông quyển "Tiểu sử Tưởng Giới Thạch" 1) . Một học sinh 17 tuổi bị giam cho đến tuổi thành niên vì đã làm bài thơ "Chiêu hồn nước" 2) .

    Những vụ khám xét nhà cửa thì không kể xiết được. Chẳng có gì trong nhà, người ta cũng có thể bị bắt vì đã bị tình nghi. Học sinh Hà Tĩnh đã bị bắt như vậy. Chúng bắt các anh đó, tống giam hai tháng rồi thả ra, chẳng cần thủ tục gì. Không những Chính phủ thuộc địa trấn áp những người mong muốn tự do, độc lập mà còn xúc phạm đến cả phong tục tập quán của dân bản xứ nữa. Thờ phụng những người đã quá cố, một việc rất thiêng liêng và thiết tha của người An Nam, cũng bị cấm đoán. Mới đây trong cuộc đưa đám một nhà cách mạng cũ 3) , cảnh sát đã đánh đập dân chúng đến viếng mồ, làm một phụ nữ bị thương nặng, và bắt 12 người đưa ra toà, chúng kết án người một năm, kẻ 6 tháng hay 3 tháng tù. Ở Sài Gòn, sáu người bị kết án mỗi người sáu tháng tù vì đã có tên trong danh sách ban tổ chức tang lễ.

    Những sự việc trên đây được nhặt ra một cách tình cờ trong lịch sử chế độ thực dân, một lịch sử đầy dẫy chém giết, cướp bóc, đã mô tả khá rõ đời sống khổ cực của dân tộc Đông Dương bị xâm lăng. Bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông Dương không thể chịu ngồi yên mà không phá gông xiềng của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Bọn chúng biết lắm, nên chúng tìm cách giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét căm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ không ngớt. Bọn chúng muốn cô lập xứ Đông Dương với nước ngoài để áp bức, bóc lột và cướp của được nhiều hơn. Chúng làm không được. Ngày nay bức màn bưng bít đã bị xé toang, tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp. Hỡi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, hỡi các bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền, chúng tôi kêu gọi:

    "Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khăn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét căm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ăn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột".

    NGUYỄN

    Năm 1928.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.2, tr. 363-366.  

    Năm 1930

     

     Năm 1930 (*)

    CHÁNH CƯƠNG VẮN TẮT CỦA ĐẢNG

    Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.

    A. Về phương diện xã hội thì:

    a) Dân chúng được tự do tổ chức.

    b) Nam nữ bình quyền, v.v..

    c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.

    B. Về phương diện chính trị:

    a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

    b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.

    c) Dựng ra chính phủ công nông binh.

    d) Tổ chức ra quân đội công nông.

    C. Về phương diện kinh tế:

    a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.

    b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý.

    c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo.

    d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.

    e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.

    f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 1-3.

    ___________

    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.

     

     

     

    SÁCH LƯỢC VẮN TẮT CỦA ĐẢNG

    1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng.

    2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.

    3. Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia.

    4. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới 1) làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ.

    5. Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp, trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 3.

    __________________

    1) Có thể hiểu là: ít ra cũng.

     

     

     

    CHƯƠNG TRÌNH TÓM TẮT CỦA ĐẢNG

    1. Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng.

    2. Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến.

    3. Đảng giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản.

    4. Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư bản bậc trung, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, v.v..

    5. Không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác.

    Đảng phổ biến khẩu hiệu "Việt Nam tự do" và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp.

    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1930

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.4.

     

     

     

    ĐIỀU LỆ VẮN TẮT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    I- Tên: Đảng Cộng sản Việt Nam.

    II- Tôn chỉ: Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản.

    III- Lệ vào Đảng: Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng. Thợ vào Đảng thời phải có một đảng viên giới thiệu và phải dự bị 3 tháng, thủ công nghiệp nghèo, dân cày và lính phải có hai đảng viên giới thiệu và dự bị 6 tháng, học sinh, các giai cấp khác và người đảng phái khác phải có hai đảng viên giới thiệu và phải dự bị 9 tháng.

    Người dưới 21 tuổi phải vào thanh niên cộng sản đoàn.

    IV- Hệ thống tổ chức:

    Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố, v.v..

    Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ:

    Huyện bộ gồm tất cả các chi bộ trong một huyện.

    Thị bộ gồm tất cả các chi bộ trong một châu thành nhỏ.

    Khu bộ gồm tất cả các chi bộ trong khu của một thành phố lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, Hà Nội hay của một sản nghiệp lớn như mỏ Hòn Gai.

    Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ:

    Tỉnh bộ gồm các huyện bộ, thị bộ trong một tỉnh.

    Thành bộ gồm tất cả các khu bộ trong một thành phố. Đặc biệt bộ gồm tất cả khu bộ trong một sản nghiệp lớn.

    Trung ương

    V- Trách nhiệm của đảng viên:

    a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng.

    b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông.

    c) Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản.

    d) Điều tra các việc.

    e) Kiếm và huấn luyện đảng viên mới.

    VI- Quyền lợi đảng viên:

    Trong các cuộc hội nghị của chi bộ, đảng viên dự bị có quyền tham gia và phát biểu ý kiến, song không có quyền biểu quyết, ứng cử và tuyển cử.

    VII- Các cấp đảng chấp hành uỷ viên:

    a) Một cấp đảng bộ có hội chấp hành uỷ viên để giám đốc và chỉ huy cho mọi đảng viên làm việc.

    b) Mỗi chấp hành uỷ viên phải thường báo cáo cho đảng viên biết.

    VIII- Kinh phí:

    a) Kinh phí của Đảng do nguyệt phí và đặc biệt quyên mà ra.

    b) Nguyệt phí do các cấp đảng bộ tuỳ kinh phí mỗi đảng viên mà định.

    c) Người không việc hoặc ốm thì khỏi phải góp nguyệt phí.

    IX- Kỷ luật:

    a) Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc.

    b) Bất cứ về vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành.

    c) Cách xử phạt người có lỗi trong đảng viên: Cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do hội chấp hành uỷ viên trong cấp Đảng hay đại biểu đại hội định.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.5-7.

     

     

     

    LỜI KÊU GỌI

    Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em 1) bị áp bức, bóc lột!

    Anh chị em! Các đồng chí!

    Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này.

    Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra Chiến tranh thế giới 1914-1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới mà đội tiên phong là nước Nga Xôviết, và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà tổng hành dinh là Hội quốc liên.

    Cuộc chiến tranh đế quốc ấy đã làm cho thế giới bị thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là đế quốc Pháp bị thiệt hại nhiều hơn các đế quốc khác. Hiện nay, để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên "của chúng" ở Đông Dương. Chúng xây dựng thêm nhà máy để bóc lột công nhân và buộc họ phải chịu đói rét. Chúng chiếm ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, làm cho nông dân mất hết ruộng đất và lâm vào cảnh tuyệt vọng. Chúng tìm mọi cách để bóp nặn nhân dân ta; chúng thu thuế ngày càng nặng, bắt mua "quốc trái" ngày càng nhiều, làm cho ồng bào ta ngày thêm nghèo khổ.

    Càng ngày chúng càng tăng cường quân đội: một là để giết hại cách mạng An Nam, hai là để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa, ba là để phá cách mạng Trung Quốc, bốn là để chống lại nước Nga Xôviết, vì nước này đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị. Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác. Nếu chúng ta để cho chúng chuẩn bị chiến tranh, nếu chúng ta để cho chúng chống lại cách mạng Trung Quốc và nước Nga Xôviết, nếu chúng ta để cho chúng tiêu diệt cách mạng An Nam thì khác nào chúng ta để cho chúng dìm giống nòi An Nam ta xuống Thái Bình Dương.

    Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh: công nhân bãi công, học sinh bãi khoá, nông dân đòi ruộng đất, nhà buôn nhỏ đóng cửa hàng, nhân dân cả nước đang vùng dậy chống bọn đế quốc.

    Phong trào cách mạng An Nam làm cho đế quốc Pháp phải run sợ. Cho nên, một mặt chúng dùng bọn phong kiến An Nam, bọn đại tư sản phản cách mạng và bọn địa chủ để áp bức, bóc lột nhân dân An Nam. Mặt khác, chúng khám xét nhà cửa, bắt bớ, giam cầm và giết hại những người cách mạng An Nam; chúng hy vọng dùng khủng bố trắng tiêu diệt cách mạng An Nam.

    Nếu đế quốc Pháp tưởng có thể dùng khủng bố trắng hòng tiêu diệt cách mạng An Nam thì chúng đã lầm to! Một là, cách mạng An Nam không bị cô lập, trái lại nó được giai cấp vô sản thế giới nói chung và giai cấp cần lao Pháp nói riêng ủng hộ. Hai là, giữa lúc các cuộc khủng bố trắng lên đến đỉnh cao thì những người cộng sản An Nam trước kia chưa có tổ chức, đang thống nhất lại thành một đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, để lãnh đạo toàn thể anh chị em bị áp bức chúng ta làm cách mạng.

    Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh! Anh chị em bị áp bức, bóc lột!

    Đảng Cộng sản Việt Nam 1 đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để:

    1) Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng.

    2) Làm cho nước An Nam được độc lập.

    3) Thành lập Chính phủ công nông binh.

    4) Tịch thu tất cả các nhà băng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chính phủ công nông binh.

    5) Quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo.

    6) Thực hiện ngày làm 8 giờ.

    7) Huỷ bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.

    8) Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.

    9) Thực hành giáo dục toàn dân.

    10) Thực hiện nam nữ bình quyền.

    Thay mặt Quốc tế Cộng sản

    và Đảng Cộng sản Việt Nam

    NGUYỄN ÁI QUỐC

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.8-10.

    _______________

    1) Trong Thư gửi Đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, ngày 27-2-1930, dùng chữ Compatriotes (đồng bào).

     

     

     

     

    BÁO CÁO GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Ngày 18-2-1930

     A. 1) Nhận được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về công tác ở Đông Dương, tôi từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm vào tháng 7-1928. Tôi đã làm việc với một số người An Nam di cư ở đấy tới tháng 11-1929.

     2) Những điều kiện ở Xiêm (đúng hơn là cả ở Lào).

    (a) Dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên chúa.

    (b) Chừng 10 hay 15 nghìn người An Nam di cư ở Xiêm và ở Lào. Hơn một nửa trong số họ đã nhiều thế hệ theo đạo Thiên chúa.

    (c) Kinh tế - không có công nghiệp, nông nghiệp tự nhiên và lạc hậu, điều đó dẫn đến chỗ đồng ruộng bỏ hoang; người ta có thể sử dụng bao nhiêu đất tùy ý, không hạn chế, không đánh thuế. Thương nghiệp ở trong tay người Trung Quốc.

    (d) Thiên nhiên - nửa năm nóng, nửa năm lạnh, và ở mùa này, tất cả mọi thứ giao thông liên lạc đều không thực hiện được.

    B. Công tác của tôi ở Lào.

    1) Do những điều kiện của người An Nam (nông dân tự do, thợ thủ công, tiểu thương), họ chỉ có thể được tổ chức vào "Hội ái hữu" với tư tưởng yêu nước và chống đế quốc. Trước đây, họ có hơn 1000 người. Nhưng hiện nay ít hơn vì những người An Nam theo đạo Thiên chúa bị các giám mục người Pháp đe doạ rút phép thông công nên họ đã rút ra khỏi Hội ái hữu.

    2) Ba trường học đã được tổ chức. Một trường khác sắp được tổ chức nhưng phải hoãn lại, vì:

    (a) Địa điểm gần người Pháp.

    (b) Tỉnh trưởng người Xiêm theo đạo Thiên chúa.

    (c) Có một nhà thờ do người Pháp làm cố đạo, dĩ nhiên là ông ta chống lại chúng tôi.

    3) Một tờ báo, tờ "Thân ái" sắp được xuất bản.

    C. Đi về An Nam.

    Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam "Quốc dân đảng".

    D. Tới Trung Quốc.

    Tôi đã cố gắng đi lần thứ ba khi một đồng chí từ Hồng Công tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng 1) bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái v.v..

    Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12. Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của 2 nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày mồng 6-1.

    Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng.

    Chúng tôi cùng nhau xác định cương lĩnh và chiến lược theo đường lối của Quốc tế Cộng sản.

    Các đại biểu phải tổ chức một Trung ương lâm thời gồm 7 uỷ viên chính thức và 7 uỷ viên dự khuyết. Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2.

    E. Công tác của Trung ương mới.

    1) Ngoài công tác hàng ngày, họ phải tổ chức ngay:

    a. Đoàn thanh niên cộng sản.

    b. Hội tương tế.

    c. Hội phản đế.

    Họ cũng phải làm những việc tốt nhất của họ để mở rộng ảnh hưởng của Xôviết Quảng Tây.

    2) Để tạo cho quần chúng cách mạng, đặc biệt là giai cấp cần lao, biết rằng họ được Quốc tế Cộng sản dìu dắt và giai cấp công nhân thế giới ủng hộ, rằng họ phải bảo vệ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc, rằng họ phải đấu tranh chống việc chuẩn bị chiến tranh thế giới mới - tôi đã viết Lời kêu gọi để phân phát khi Trung ương được tổ chức xong (khoảng ngày 20-3).

    F. Những lực lượng của chúng tôi

    Có 5 tổ chức chính trị ở Đông Dương:

    a) Đảng Lập hiến được lập nên bởi một số tư sản An Nam - ở Nam Kỳ - hợp tác với đế quốc.

    b) Đảng Tân Việt được lập nên bởi tầng lớp trí thức đã một thời có ảnh hưởng nhưng bắt đầu suy yếu từ khi có khủng bố trắng.

    c) An Nam Quốc dân đảng cũng được tổ chức bởi trí thức và giai cấp tiểu tư sản. Từ khi bị khủng bố trắng, lực lượng chủ yếu của họ bị tiêu diệt và số còn lại thì phân hóa thành nhiều phe phái: cánh tả thì quan hệ chặt chẽ với chúng tôi, cánh hữu thì đang trở thành như những người manh động.

    d) Hội An Nam Thanh niên Cách mạng do chúng tôi tổ chức từ năm 1925. Có thể nói rằng, nó là quả trứng, mà từ đó, nở ra con chim non cộng sản (Đảng Cộng sản). Con chim ra đời, cái vỏ bị phá huỷ gần hết do chính sách sai lầm của những người cộng sản. Phần còn lại của nó chịu ảnh hưởng và chịu sự lãnh đạo của chúng tôi trong công tác vận động quần chúng. Từ nay, với chính sách đúng và với sự thống nhất, chúng tôi có thể chắc rằng Đảng Cộng sản sẽ tiến bộ nhanh chóng.

    e) Mặc dù non trẻ và nhỏ bé, Đảng Cộng sản được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh nhất trong tất cả các lực lượng. Chúng tôi có:

    Xiêm:                 40 đảng viên chính thức và dự bị.

    Bắc Kỳ:             204              "

    Nam Kỳ:            51               "

    Trung Quốc và nơi khác: 15.

    (Trung Kỳ thì ghép vào Bắc Kỳ và Nam Kỳ).

    Các tổ chức quần chúng:

    Bắc Kỳ:             2.747 hội viên

    Nam Kỳ:            327      "

    Xiêm:                 500      "

    Hồng Công:       14        "

    Thượng Hải:                  "

    Nên nhớ rằng, từ khi Hội An Nam Thanh niên Cách mạng tan rã, hai nhóm cộng sản sử dụng nhiều - nếu không nói là tất cả - nghị lực và thời gian trong cuộc đấu tranh nội bộ và bè phái.

    g) Tình hình kinh tế và chính trị nói chung sẽ được báo cáo sau vì lúc này không có tài liệu.

    G. Phong trào đình công

     

    Tên địa phương

    Tháng

    Nghề nghiệp

    Hà Nội

    6-1929

    Công nhân cơ khí

    Sài Gòn

    6

    "

    Đà Nẵng

    6

    "

    Hải Phòng

    6

    Công nhân thuỷ tinh

    Nam Định

    6

    Công nhân điện

    Hải Phòng

    7

    Công nhân dệt lụa

    Rạch Giá

    8

    Công nhân kéo xe

    Thủ Dầu Một

    8

    Công nhân đồn điền

    Sài Gòn

    9

    Công nhân khách sạn

    Chợ Lớn

    9

    Công nhân nhà in Trung Quốc

    Bắc Ninh

    9

    Công nhân làm gạch

    Hải Phòng

    9

    Công nhân hãng dầu lửa

    Cần Thơ

    9

    Công nhân kéo xe

    Bến Tre

    9

         "

    Mai Mot

    9

    Phu đồn điền

    Trà Vinh

    10

         "

    Rạch Giá

    10

         "

    Kiến An

    11

    Công nhân kéo xe

    Châu Đốc

    11

         "

    Nam Định

    12

    Công nhân xây dựng

    Hải Phòng

    12

    Công nhân xi măng

    (Bản Thống kê này không đầy đủ, mà chỉ là điều tôi biết vào thời gian hiện giờ).

    H. Khủng bố trắng

    Bị bắt giữ, kết án từ 2 năm đến 20 năm, lưu đày, tống giam vào nhà ngục:

                  407 đàn ông

                  14 con gái và đàn bà

    Bị kết án chung thân: 7

    Xử tử theo luật hình: 4 (tôi là một trong số họ)

    Chết trong tù: 3

    Bị bắn chết: 1

    I. Những kiến nghị

    1) Singapo. Đảng bộ Singapo đã viết thư cho chúng tôi nói rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ở dưới sự chỉ dẫn của Singapo. Nhưng xét về hoàn cảnh địa lý (Nga - Trung Quốc - An Nam) cũng như hoàn cảnh chính trị (Đảng mạnh hơn, công nghiệp phát triển ở Bắc Kỳ hơn ở Nam Kỳ), tôi kiến nghị rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ được sự chỉ dẫn từ Thượng Hải qua Hồng Công.

    Tuy nhiên Đảng Cộng sản Việt Nam phải quan hệ thật chặt chẽ với Singapo. Vì lẽ đó, tôi đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi một bức thư giới thiệu để chúng tôi có thể phái một đồng chí An Nam làm việc với Singapo.

    2) Xiêm. Tôi yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi một bức thư khác và địa chỉ của đồng chí lãnh đạo nào đó (Trung Quốc) tại Xiêm để các đồng chí An Nam ở nước này có thể làm việc với các đồng chí Trung Quốc.

    3) Sài Gòn. Trong chừng mực tôi biết thì có khoảng 200 đồng chí Trung Quốc ở đó. Nhưng họ hoạt động rất ít vì họ không có người lãnh đạo có năng lực.

    Tôi đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc:

    (a) Phái một số đồng chí lãnh đạo đến đó.

    (b) Các đảng bộ Trung Quốc và An Nam ở đó, mỗi Đảng sẽ có 1 đại biểu hoặc nhiều hơn để thành lập một văn phòng. Văn phòng này phải:

    (1) Phối hợp công tác của họ với nhau nhằm giải quyết quyền lợi của cả người Trung Quốc và An Nam.

    (2) Làm tốt nhất việc xếp đặt các đồng chí Trung Quốc hay An Nam làm công dưới tàu thuỷ đi Singapo, Sài Gòn, Hải Phòng, Hồng Công, Thượng Hải để giải quyết tốt hơn giao thông liên lạc của chúng ta.

    (3) Bất cứ khi nào một đồng chí Trung Quốc bị cảnh sát làm khó khăn 2) , các đồng chí An Nam phải bảo vệ họ, và "ngược lại".

    4) Bắc Kỳ. Có một số lớn công nhân Trung Quốc ở Bắc Kỳ, đặc biệt là ở Hải Phòng và Hà Nội. Hơn nữa, hai thành phố này và các vùng miền ngược là đường duy nhất dễ dàng cho sự thông thương với Quảng Tây và Vân Nam, tôi kiến nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc phái một số đồng chí có khả năng đến công tác ở những thành phố đó.

    5) Vân Nam. Có chừng 2.000 người Trung Quốc và nhiều hơn một chút là công nhân An Nam ở ngành đường sắt Vân Nam . Tôi nghe nói có các đồng chí Trung Quốc ở đó.

    Tôi hỏi địa chỉ của vài người trong số các đồng chí đó để chúng tôi có thể phái một số đồng chí An Nam đến phối hợp với họ.

    6) Quảng Tây. Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn và những tỉnh khác của An Nam ở vùng đó rất quan trọng về chiến lược đối với Quảng Tây. Trước đây, chúng tôi đã có năm đồng chí làm việc ở đó. Mới đây tất cả họ đều đã bị bắt. Tôi kiến nghị phái những người khác đến. Nhưng chúng tôi phải bàn xem thực hiện việc đó như thế nào.

    7) Hồng Công. Sự hiểu biết về lý luận và chính trị của các đồng chí An Nam rất thấp, việc học tập và đọc sách báo ở thuộc địa gần như không có được. Thượng Hải thì quá xa. Do đó, tôi đề nghị tổ chức một lớp học ở Hồng Công. Chúng tôi phải thảo luận xem nên tổ chức lớp học đó thế nào.

    8) Thượng Hải. Có binh lính An Nam ở đây. Chúng tôi phải bàn xem nên làm việc với họ như thế nào.

    K. Những vấn đề như phái những đồng chí An Nam đến học ở trường Đại học, vấn đề kinh tế, cương vị công tác của tôi, v.v.. Tôi nghĩ là tôi sẽ nói với các đồng chí khi chúng ta gặp nhau thì tốt hơn.

    Một lần nữa tôi đề nghị gặp các đồng chí, càng sớm càng tốt, vì các đồng chí của tôi có thể cần tôi ở Hồng Công đúng vào lúc này.

    L. Tôi rời Hồng Công vào ngày 13-2. Cho tới khi đó tôi không nhận được tin tức gì từ Pháp và hai đồng chí An Nam. Tôi rất lo lắng về họ.

    (Nguyên văn Lời kêu gọi) 3)

    Tái bút: Đồng chí thân mến, tôi mong được gặp đồng chí càng sớm càng tốt. 1- Vì báo cáo này viết đã được hai ngày mà vẫn chưa đến tay đồng chí. Như vậy quá chậm trễ. 2- Chúng ta có thể giải quyết tất cả những vấn đề này trong vòng vài giờ nhưng tôi đã mất tám ngày rồi. 3- Tôi buộc lòng phải đợi, không biết làm gì cả, trong khi đó công việc khác đang chờ tôi.

    N.A.Q

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.11-18.  

     

     

    Năm 1931

    NĂM 1931 (*)  

    BÁO CÁO GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG

    Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ

    Ngày 11-12-1930, ở các huyện Anh Sơn, Thanh Chương và Nam Đàn, hơn 10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động: họ kéo cờ đỏ đi biểu tình và rải truyền đơn.

    Ngày 12-12-1930, lính Tây đến làng Đạo Ngạn bắt nhân dân; không bắt được ai, chúng bèn hãm hiếp một chị phụ nữ. Chị em các vùng lân cận và nông dân kéo đến cứu chị. Bọn lính dùng súng bắn chết hai người đàn ông. Ngày hôm sau, một đoàn 400 nông dân kéo cờ đỏ đi đầu đã đi đưa đám hai người hy sinh.

    Số 2. ở Nhà máy xi măng Hải Phòng

    30 công nhân bị đuổi. 400 người khác cũng bị doạ thải hồi. Các báo đưa tin 3.000 công nhân Nhà máy xi măng đã bãi công và đấu tranh:

    a) Đòi cho những anh em bị đuổi được trở lại làm việc;

    b) Phản đối bớt lương;

    c) Phản đối việc đóng cửa nhà máy, họ đòi trả 3 tháng lương.

    Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ

    1. Đảng nhấn mạnh đến việc củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt bằng cách tiến hành bầu cử. Thực hiện đúng nguyên tắc bầu cử vẫn tốt hơn là chỉ định cán bộ bổ sung. Đảng cũng nhắc nhở đến việc tổ chức các ban chuyên môn do các cấp uỷ lãnh đạo. Những Ban hành động phải được thành lập ngay; ít nhất là phải có một Ban tuyên truyền, một Ban công vận, một Ban nông vận và một Ban ấn loát.

    2. Phải tuyên truyền về vấn đề thay đổi tên Đảng. Mỗi đảng viên và mỗi chi bộ Đảng đều phải nghiêm chỉnh thảo luận những án nghị quyết của Trung ương, bước đầu để tiến tới Đại hội toàn Đảng. Trung ương sắp xuất bản một tờ báo đặc biệt đặt tên là "C".

    3. Các cấp uỷ phải xúc tiến việc thi hành các nghị quyết của Đảng. Đại biểu các Ban công vận phải họp lại nghiên cứu để tiến hành có kết quả việc tổ chức Công hội ở ngay địa phương mình - xứ, tỉnh, v.v.. Việc tổ chức các đại hội không nên để cho đảng viên và hội viên Công hội biết, chỉ nên tin khi nào đại hội đã chuẩn bị tổ chức xong.

    4. Các cuộc hội nghị đó phải được chuẩn bị chu đáo. Vấn đề tổ chức đại hội phải bàn bạc kỹ trong mỗi tổ chức Công hội. Mỗi Công hội phải nghiên cứu tường tận tình hình công nhân để đặt trước những nguyện vọng chủ yếu. Báo chí cũng phải tranh luận về các đại hội. Việc tổ chức mít tinh cũng phải nghiên cứu kỹ.

    Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội

    1. Tất nhiên là tất cả những gì có liên quan đến Công hội đều phải có tính chất cách mạng, nên chỉ có những công nhân hiểu rõ cách mạng vô sản và cách mạng cộng sản chủ nghĩa mới được kết nạp vào Công hội. Nhưng công nhân nào đã thấy rõ sự cần thiết phải có một tổ chức để bênh vực quyền lợi của mình cũng có thể vào Công hội, mặc dầu người đó chưa có thể hiểu gì về các vấn đề khác. Công hội và đấu tranh sẽ giáo dục cho họ.

    2. Nếu có hội viên ít hoạt động hoặc tỏ ý dè dặt trong đấu tranh thì cũng không nên loại họ ra ngoài hội. Tinh thần cách mạng là điều kiện duy nhất để một Công hội có thể gia nhập Tổng hội. Nhưng chúng ta cũng không thể vì vậy mà kết luận rằng mỗi công nhân vào hội đã là người cách mạng rồi.

    Có những công nhân đấu tranh chỉ vì quyền lợi trước mắt chứ chưa hiểu cách mạng. Nhưng vì Công hội là một tổ chức có một đội tiên phong và có đường lối chính trị nên Công hội là một tổ chức cách mạng.

    Công hội phải tham gia Mặt trận phản đế như một hội viên tập thể. Có nhiều người tưởng gia nhập Mặt trận, Công hội sẽ mất độc lập tính. Công hội vẫn độc lập và tiếp tục tiến hành những công việc của mình. Nếu Công hội có gia nhập Mặt trận thì chỉ để tham gia cuộc đấu tranh chung chống đế quốc chủ nghĩa mà thôi.

    3. Yêu cầu các đồng chí hỏi người thông tín viên của các đồng chí lấy những tin số 1 và 2 đã gửi cho các đồng chí một tuần nay- bài của V.

    Đại biểu đi dự Đại hội Quốc tế Công hội đỏ lần thứ V về cho chúng tôi biết rằng: Một uỷ viên Quốc tế Cộng sản nói không nên tổ chức Nông hội lên đến Tổng Nông hội toàn quốc.

    Vấn đề này đang làm cho các đồng chí của chúng tôi lúng túng, các đồng chí ấy hỏi phải làm như thế nào. Tôi đã trả lời họ cứ tiếp tục tổ chức Tổng Nông hội toàn quốc, vì lý do:

    a) Khi nào các đồng chí đến đây các đồng chí mới thấy lợi ích của tổ chức đó.

    b) Trong báo cáo, đại biểu cho biết rằng, trước kia, ở Trung Quốc, đã có những hội tương tự bao gồm địa chủ và phú nông. Thực tế lại không phải như vậy: Các thành phần ấy đã bị gạt ra, nhưng nếu không có Tổng hội toàn quốc thì làm sao mà tập hợp chỉ đạo mọi hoạt động đấu tranh được?

    Các đồng chí có đồng ý với tôi không ?

    8-2-1931

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.61-63.

    ___________________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.

     

     

     

     

    NGHỆ TĨNH ĐỎ

    Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách 360 kilômét về phía bắc thành phố Huế, kinh đô nước An Nam (nơi tên vua "bù nhìn" thiết lập triều đình) và cách 326 kilômét về phía nam Hà Nội, thủ phủ xứ Đông Dương thuộc đế quốc Pháp. Tỉnh Nghệ An có 3 phủ, 6 huyện với số dân 614.000 người ở 942 làng. Tỉnh Hà Tĩnh có 2 phủ, 6 huyện, 601 làng, với số dân 405.000 người. Trong số 500.000 người đàn ông của cả hai tỉnh, thì 120.000 người phải đóng thuế thân 2đ20 mỗi năm một đầu người.

    Hà Tĩnh không có công nghiệp. Vinh là thành phố chính của Nghệ An. ở Vinh, có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện nước, một nhà máy diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ôtô và một vài xưởng nhỏ, tất cả dùng 4.000 công nhân.

    Ngoài số công nhân đó và một số như vậy quan lại, chủ đồn điền và người buôn bán..., nhân dân hai tỉnh đều là bần và trung nông (hơn 1 triệu).

    Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở. Sưu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.

    Nhân dân Nghệ - Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ - Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình.

    Từ tháng 5 đến tháng 12, công nhân Nghệ An (Vinh) đã 8 lần bãi công và biểu tình có 2.500 người tham gia. Cũng trong thời gian đó, 137 cuộc biểu tình đã nổ ra bao gồm tất cả 300.000 nông dân.

    Thiệt hại: 625 nông dân bị máy bay ném bom và súng máy giết chết, 8 làng bị triệt hạ, hơn 1.000 chiến sĩ bị bắt giam, hàng trăm người bị đem đi đày.

    Ở cả hai tỉnh, hơn 60.000 nông dân (đàn ông, đàn bà và thanh niên) đã được tổ chức vào Hội .

    Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu "đỏ"!

    II

    Từ ngày 26-12 đến ngày 19-1, có hai cuộc lễ lớn ở gần Vinh: một cuộc lễ "đỏ" và một cuộc lễ "vàng".

    Cuộc lễ thứ nhất được tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 kilômét, 4.000 công nhân thành phố Vinh và nông dân Hưng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự để làm lễ truy điệu những chiến sĩ bị hy sinh trong ngày 11-12, nhân dịp kỷ niệm Công xã Quảng Châu.

    Một lá cờ búa liềm được chăng ra trên bàn thờ đầy hương hoa, xung quanh cắm 100 lá cờ đỏ và một dây 200 ngọn đèn đỏ. 10 giờ đêm, khi mọi người đã đến đông đủ, hai đoàn xe đạp được bố trí đi tuần tra trên các ngả đường về Vinh và Bến Thuỷ mà từ các ngả đó lính Pháp có thể kéo đến, còn một đoàn khác vây quanh quần chúng và hát bài Quốc tế ca. Lệnh "mặc niệm" bỗng nhiên được đưa ra. Người chủ trì buổi lễ lên đọc điếu văn. Sau đó, đại biểu Công hội, Nông hội và đại biểu các làng lên nói chuyện.

    Một đại biểu đề nghị: Ngày hôm sau, tất cả các chợ ở Hưng Nguyên và Nghi Lộc đều bãi thị.

    Đề nghị đó được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Ngày hôm sau, đúng như lời cam kết, tất cả các chợ đều vắng tanh.

    Trong lúc buổi lễ đang tiến hành, anh em công nhân cắt điện làm cho cả thành phố Vinh - Bến Thuỷ bị chìm ngập 10 phút trong đêm tối.

    III

    Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở riêng Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí... đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ - Tĩnh. Vì thế bọn đế quốc Pháp đã nghĩ ra một thủ đoạn mới: tổ chức những cuộc biểu tình phản cách mạng và bắt buộc nhân dân thành phố tham gia.

    Ngày 19-1, nhân dân 24 khu phố bị lôi ra đường, từng tốp một bước theo nhịp trống, mang 5 lá cờ vàng có ba sắc đè lên góc. Cờ vàng là quốc kỳ của Vương quốc An Nam. Những đoàn người "quy thuận" (bọn Pháp đặt cho họ cái tên này mặc dầu những người An Nam đáng thương đó chưa khi nào chiến đấu) bị dẫn đến hoàng cung (nơi bọn quan lại thường đến đó bái vọng nhà vua, mặc dầu ông ta không bao giờ đến đó). Họ được viên tổng đốc bận lễ phục đón tiếp. Quan lớn nói với họ như thế này: "Bây giờ nhân dân thành phố đã xin tạ lỗi quy thuận Chính phủ Nam triều và Chính phủ Pháp thì phải lo giữ gìn trật tự, an ninh trong thành phố. Các người đừng nghe những lời tuyên truyền bậy bạ và đừng phạm những điều đáng chê trách" (tên tổng đốc muốn nói đến cách mạng đấy, nhưng nó không dám dùng những tính từ quá chua cay, mỗi khi nói đến cách mạng trước nhân dân). Tên tổng đốc bảo mọi người lạy ba lạy trước ảnh vua để tỏ lòng trung với vua. Rồi nó dẫn nhân dân đến trước toà sứ và cũng buộc phải lạy ba lần để tỏ lòng trung thành với đế quốc Pháp.

    Bọn đế quốc và phong kiến Nam triều xem cuộc biểu tình tỏ lòng trung thành đó là một thành công lớn của chúng và hôm sau tin này được đăng đầy trên báo chí.

    Chúng định tiếp tục tổ chức những cuộc biểu tình như vậy ở Nghệ - Tĩnh. Nhưng ở các thôn xã có nông dân cách mạng thì khó mà tổ chức được như ở thành phố nơi mà chúng chỉ tập hợp được một số người ngốc nghếch mà thôi.

    Ngày 19 tháng 2 năm 1931

    V.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 70-72.

     

     

     

     

    THƯ GỬI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

    Đây là tôi phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc.

    A- CÁCH KHAI HỘI - Trước khi khai hội, từ đảng viên cho đến các đồng chí phụ trách chưa nghiên cứu kỹ vấn đề. Đến khi khai hội, mới đem ra bàn thì chắc thảo luận không kỹ. Thì giờ khai hội quá dài (Trung 18 buổi, Bắc 13 ngày) mà lại trật tự không sắp sẵn, vậy nên tốn thì giờ nhiều mà các vấn đề thì bàn không hết. Xứ hội Bắc thì những chỗ rất quan trọng như Hải Phòng mà không có đại biểu.

    B- CÁCH THẢO LUẬN - Bắc không thảo luận một cách thiết thực mà thảo luận một cách "tầm chương trích cú". Thí dụ: như chất vấn Trung ương sao khi thì nói "để" dự bị võ trang, khi thì nói "và" dự bị võ trang, v.v.. Vì đảng viên chưa thảo luận cho nên những ý kiến trong hội nghị không thể đại biểu được ý kiến của quần chúng trong Đảng. Vả lại trong khi khai hội, nhiều đồng chí mệt mỏi hoặc phải vắng mặt để đối phó việc khác, ít phát biểu ý kiến. Thành thử ý kiến trong cuộc hội nghị lại là ý kiến của số ít trong số ít.

    C- VẤN ĐỀ CÔNG TÁC - Trong hai hội nghị, các lời đề nghị đều có ý mênh mông, không thấy đề nghị thế nào để tất cả đảng viên, tất cả chi bộ thảo luận và thực hành được các nghị quyết án của Trung ương; không thấy đề nghị kế hoạch thiết thực cho mỗi địa phương.

    D- VẤN ĐỀ TÊN ĐẢNG - Trung đề nghị chờ bao giờ Cao Miên và Lào có Đảng rồi sẽ nhập các Đảng lại và đổi tên. Thế là các đồng chí Trung không hiểu chỉ thị Quốc tế nói rằng Đảng phải gồm cả vô sản ở Đông Dương và không hiểu nhiệm vụ Đảng là phải làm cho Lào và Cao Miên có đảng bộ. (Trung ương đã in và phát hành chỉ thị Quốc tế cho đảng viên chưa? Sao thấy trong Nghị quyết Bắc có hỏi: "Trung ương bảo thảo luận "chỉ thị" là chỉ thị nào? ").

    E- LỰC LƯỢNG CỦA ĐẢNG - Muốn hiểu rõ sức mạnh và chỗ yếu của Đảng ở Trung và Bắc thì chúng ta nên xem bảng này 1) :

     

    Đảng viên

    Chi bộ

    Thanh niên

    Công hội

    Nông hội

    Phụ nữ

    Ghi chú

    - Nam Đàn

    170

    21

    641

    -

    10.000

    452

     

    - Thanh Chương

    273

    27

    78

    -

    10.077

    232

     

    - Anh Sơn

    123

    18

    35

    -

    4.350

    62

     

    - Yên Dũng

    11

    15

    -

    -

    3.022

    -

     

    - Diễn Châu

    51

    2

    -

    -

    345

    -

     

    - Quỳnh Lưu

    33

    4

    -

    -

    278

    -

     

    - Vinh

    185

    8

    -

    312

    -

    -

     

    - Hưng Nguyên

    55

    9

    -

    -

    2.032

    70

     

    - Nghi Lộc

    58

    15

    -

    -

    1.574

    -

     

    - Hà Tĩnh

    370

    -

    122

    -

    2.000

    48

     

    - Quảng Trị

    42

    -

    -

    -

    -

    -

     

    - Quảng Ngãi

    69

    -

    -

    -

    1.200

    -

     

    - Bình Định

    40

    -

    -

    -

    100

    -

     

    - Hải Phòng

    37

    9

    8

    101

    -

    -

     

    - Hòn Gai

    8

    -

    -

    10

    -

    -

     

    - Nam Định

    115

    -

    31

    293

    100

    -

     

    - Phủ Lý

    82

    -

    13

    -

    300

    -

     

    - Thái Bình

    40

    8

    14

    -

    270

    -

     

    - Hải Dương

    9

    -

    1

    -

    31

    -

     

    - Hà Đông

    12

    -

    -

    -

    51

    -

     

    - Bắc Ninh

    6

    -

    -

    -

    -

    -

     

     

    36

    -

    -

    -

    -

    -

     

    Nhìn vào bảng trên thì thấy:

    Ở Trung:

    a) Tổ chức Đảng có trong 13 huyện và tỉnh. Nhưng chỉ có 3 huyện là có tổ chức thanh niên. Trong một huyện thanh niên chỉ bằng một phần ba của Đảng, trong một huyện khác thì bằng một phần tư.

    b) Phụ nữ chỉ được tổ chức trong 5 huyện, số lượng phụ nữ trong một huyện chỉ bằng một nửa đảng viên, trong một huyện khác thì chỉ bằng một phần 9.

    c) Trong 13 tỉnh và huyện trên, năm nơi có Nông hội rất yếu. Ở một nơi số lượng nông dân được tổ chức gấp hai lần rưỡi số lượng đảng viên.

    d) Ở Trung, Công hội chỉ có ở một nơi trên, nhưng công nhân nông nghiệp các nơi thì chưa chỗ nào được tổ chức.

    e) Ở Trung có 16 tỉnh, mới có tổ chức ở năm tỉnh thôi.

    f) Báo cáo Trung không nói rõ số lượng đảng viên phụ nữ và số lượng phụ nữ vào Nông hội.

    Tổ chức ở Bắc thì yếu quá. Trong một xứ công nghiệp như Bắc, mà chỉ có hai tỉnh là có Công hội, bốn nơi có Thanh niên, năm nơi có Nông hội, nhưng xem ra tất cả chưa bằng tổ chức của một huyện thuộc hạng bốn ở Trung. Ở một trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng như Hà Nội, trừ vài đồng chí lãnh đạo ra thì không có một chiến sĩ nào khác.

    Cả hai xứ đều không có tổ chức “Mặt trận phản đế”, “Cứu tế đỏ” và “Cứu tế thất nghiệp” (Trung đã có một chút Cứu tế đỏ).

    Tôi đề nghị:

    A- Đảng phải:

    1. Sửa chữa những sai lầm trên.

    2. Lập chương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh.

    3. Phân phối đảng viên (như nhà binh phân phối binh sĩ).

    Các đồng chí phụ trách một vùng hay một công tác nào đó phải lập chương trình hành động cho mỗi đồng chí trong mỗi một tổ chức.

    4. Các ban chấp ủy phải quản lý và kiểm soát rất tỉ mỉ việc thi hành các chương trình hành động đó.

    5. Trước tiên phải thống nhất tổ chức Thanh niên và Công hội và những tổ chức đó phải có sinh hoạt độc lập của mình.

    B- Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương, rồi phải ra Nghị quyết về những Nghị quyết và Chỉ thị nói trên. Những Nghị quyết ấy phải đệ trình lên Trung ương, Trung ương sẽ chuyển lên Quốc tế thứ ba. Có làm như thế thì mới có thể nâng cao được trình độ đảng viên, tất cả Chỉ thị và Nghị quyết mới được thi hành, tư tưởng và hành động của đảng viên mới thống nhất; và Quốc tế thứ ba mới nắm được trình độ cách mạng của đảng viên và sự liên lạc từ chi bộ tới Trung ương và với Quốc tế thứ ba mới thực hiện được chặt chẽ (đó là ý kiến của Quốc tế thứ ba).

    1- Nhớ gửi:

    1) Báo cáo của Nam Kỳ.

    2) Báo cáo của Hội nghị Trung ương.

    3) Báo cáo về công tác công vận. Tôi đã nói đến ba vấn đề trong thư trước của tôi.

    2- Người quen của chúng ta Đuycru (Ducroux) chưa về bằng chuyến tàu này.

    3- Các đồng chí biết những tàu này chạy đường Sài Gòn – Tân Gia Ba? Ở đây cần biết rõ điều đó.

    4- Tôi nghe nói người ta có quen một người Pháp trên một chiếc tàu của sở hàng hải, nếu đúng như vậy (mà cũng cần như vậy) yêu cầu các đồng chí điều tra (về người đó) xem.

    5- Khi có một chuyến tàu về, các đồng chí nên đến xem có ai về không. Khi có tàu vào cảng thì tín hiệu như thế nào.

    6- Có người ở “kia” sắp về, khi có tin tàu về (từ đầu tháng 5) thì phải lên tàu đón. Trên tàu “Metzinger” có Nghĩa, thợ giặt. Có thể có gì đó (gửi cho các đồng chí) . Nhớ đến hỏi anh ta mà lấy.

    Ngày 20 tháng 4 năm 1931

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 73-76.

    _____________

    1) Đây là một phần bức thư chụp ảnh để lại, tiếp phần sau là dịch ở bản tiếng Pháp.

     

     

     

     

    THƯ GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Đồng chí thân mến,

    1. Tôi đã nhận được bức thư ngày 25-4.

    2. Đồng chí Tổng bí thư đã bị bắt ngày 19 hoặc 20-4 1) .

    Kể từ khi xuất bản Tạp chí cảnh sát, 7 trong số 101 người đã bị bắt. Vì vậy trong ban thư ký chỉ còn lại một công nhân trẻ tuổi.

    3. Riêng ở Hải Phòng đã có 36 trường hợp bị bắt vào ngày 20-4 và 16 trường hợp bị bắt ngày 23-4. Điều đó nói lên rằng mọi hoạt động ở bốn địa phương đều bị lộ.

    Một số đồng chí đã dùng súng lục chống lại cảnh sát. 1 đồng chí đã bị hy sinh và nhiều đồng chí khác bị thương.

    4. Ngày 20-4 mấy tàu chạy hơi nước của chúng ta chờ để đón sinh viên lên tàu nhưng không có người nào đến. Có lẽ họ cũng đã bị bắt.

    5. Ngày 29-4, một đồng chí phụ trách vấn đề thông tin liên lạc đã bị bắt. Vẫn chưa nhận được tin tức từ các đồng chí khác: Khi nào có tin cụ thể hơn thì tôi sẽ báo cho đồng chí biết. Tất cả các mối liên hệ tạm thời bị gián đoạn. Hình như tạp chí cảnh sát cũng lưu truyền ở đây. Tất cả những thanh niên Việt Nam ở đây đều bị kiểm soát và đã bị mật thám Pháp nhận dạng.

    6. Nhiều tổ chức Đảng ở địa phương đã bị giải tán, nhiều tài liệu quan trọng rơi vào tay cảnh sát. Chúng tôi sẽ phải tổ chức lại mọi việc. Chúng tôi sẽ trao nhiệm vụ này cho các sinh viên trở về nước. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, thì khoảng 2 tuần nữa 4 sinh viên sẽ có mặt ở đây. Tôi sẽ họp với họ.

    7. Ngày 20-4, mọi biện pháp đã được sử dụng để ban bố thiết quân luật trên toàn đất nước chống lại các cuộc biểu tình ngày 1-5. Trường học và nhà máy sẽ phải nằm trong sự kiểm soát quân sự chặt chẽ.

    8. Ngày 12-4, 55 nông dân đã bị giết trong cuộc diễu hành. Ngày 14-4, 80 người bị giết và ngày 20-4, 30 người bị giết. Bọn đế quốc đã quyết định ngăn chặn phong trào bằng tàn sát.

    Chúng tôi nên chỉ ra cho các đồng chí của mình kế hoạch đấu tranh cụ thể nào? Nếu chúng ta cứ để họ đi theo con đường đó thì sẽ rất manh động, nguy hiểm. Tôi sẽ đề nghị thêm rằng Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho tất cả các tổ chức cách mạng của chúng ta tham gia với khẩu hiệu "Bảo vệ Đông Dương" cùng với những hành động: "Không can thiệp vào Trung Quốc", "Không can thiệp vào nước Nga Xôviết". Đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp và các tổ chức cách mạng khác sẽ tăng cường hơn nữa việc bảo vệ phong trào cách mạng ở Đông Dương.

    9. Tôi không thể ký tên vào các bức thư vì tôi không có địa chỉ. Xin đồng chí hãy làm tất cả những gì có thể cho tôi. Tất nhiên, điều đó thật phiền phức. Vì điều kiện hiện thời, tôi luôn luôn phải viết cho đồng chí bằng phương pháp này và không phải lúc nào cũng viết cho P.O.B của đồng chí. Tôi đề nghị đồng chí sử dụng phương pháp viết thư tương tự. Nó có rắc rối nhưng an toàn hơn.

    Gửi lời chào cộng sản

    VICTO

     

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 81-82.  

    Năm 1935

     

     NĂM 1935 (*)  

    THƯ GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG

    Các đồng chí thân mến!

    Căn cứ vào báo cáo của đồng chí H.N. về tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương và theo kinh nghiệm của tôi ở Hoa Nam, Đông Dương, Thái Lan và ở Mã Lai, tôi thấy có bổn phận bức thiết đối với các đảng của chúng tôi là phải đề xuất với các đồng chí đề nghị sau đây:

    Trừ một vài đồng chí rất hiếm hoi (đã được huấn luyện ở Trường đại học những người lao động phương Đông, hoặc là trí thức), còn đại đa số đồng chí của chúng tôi, trình độ lý luận và chính trị rất thấp.

    Hậu quả của tình trạng thiếu kiến thức về lý luận như vậy là gì? Hậu quả khá nhiều. Các đồng chí đã nghe đồng chí H.N. kể về những hậu quả ấy trong báo cáo. Tôi nói thêm một vài hậu quả nữa:

    1. Đa số các đồng chí - ngay cả những đồng chí có trách nhiệm- cũng không hiểu thật rõ "cách mạng dân chủ tư sản" là gì. Các đồng chí ấy nhắc đi nhắc lại những chữ ấy mà không hiểu nghĩa. Vì không thể giải thích được cho công nhân và nông dân, cho nên các đồng chí ấy thường tỏ vẻ lúng túng trong công tác tuyên truyền và cổ động. Để khỏi lung tung, các đồng chí buộc phải "bịa ra". Do đó, một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác.

    2. Các đồng chí ấy cũng không hiểu tại sao phải kết hợp cuộc cách mạng phản đế với cách mạng ruộng đất. Vì vậy mà những khẩu hiệu đưa ra lộn xộn, không phối hợp với nhau. 

    3. Các đồng chí ấy không hiểu sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác, cho đó là sự khác biệt về "cấp bậc". Ví dụ như xếp Đảng ở số 1, Thanh niên cộng sản ở số 2, Công hội ở số 3, v.v.. Và khi một đồng chí đang hoạt động trong Đảng mà được cử sang hoạt động ở một tổ chức khác, đồng chí đó xem việc chuyển dịch ấy như là một "việc hạ cấp bậc", gần như là một hình phạt!

    4. Hoặc là, các đồng chí ấy bắt đầu tổ chức một nhóm liên minh chống đế quốc, rồi chọn những thanh niên của liên minh để tổ chức một Công hội. Cuối cùng chọn những hội viên Công hội để tổ chức một tổ Đảng.

    5. Một cuộc bãi công bùng nổ. Những người lãnh đạo là trí thức viết vào một quyển vở theo trật tự 1, 2, 3, v.v. những bước đi phải tiến hành rồi họ đưa quyển vở ấy cho các đồng chí có trách nhiệm là công nhân. Các đồng chí này đưa quyển vở về nhà máy và thi hành máy móc những điều đã ghi trên giấy mà không biết phán đoán xem những điểm ấy có phù hợp với thực tế hay không!

    Hoặc là, các đồng chí ấy dùng mọi biện pháp để phát động bãi công, nhưng khi công nhân đã rời nhà máy xuống đường, các đồng chí ấy không biết phải làm gì nữa.

    6. Còn có một nguy cơ lớn khác. Tuy các đảng đã đưa những đồng chí công nhân vào các ban lãnh đạo, nhưng các đồng chí này vẫn bị ảnh hưởng của những phần tử trí thức, bởi vì theo các đồng chí ấy, "những người trí thức đã được đọc tất cả những điều ấy trong các bản luận cương hoặc trong sách".

    Tình hình ấy diễn ra trong thời kỳ 1930-1931, lúc mà các đồng chí của chúng ta đã là những chiến sĩ khá lão luyện và khá từng trải rồi. Nhưng hiện nay, tất cả hoặc hầu như tất cả các đồng chí ấy đã bị giết hay bị cầm tù. Những đồng chí đang hoạt động trẻ hơn, ít kinh nghiệm hơn, do đó có khả năng phạm những sai lầm nghiêm trọng hơn.

    Vì vậy, tôi thấy tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có.

    Và biện pháp duy nhất có hiệu quả để giúp các đồng chí theo phương hướng đó là cho xuất bản những quyển sách nhỏ viết về các vấn đề sau đây:

    1. Tuyên ngôn cộng sản,

    2. Đảng cộng sản và tổ chức của Đảng,

    3. Lịch sử Quốc tế Cộng sản,

    4. Lịch sử Đảng,

    5. Lịch sử R.K.P.B (Đảng Cộng sản Bônsơvích toàn Liên bang Xôviết),

    6. Lịch sử Quốc tế Thanh niên (KIM),

    7. Thanh niên cộng sản và tổ chức thanh niên,

    8. Công hội,

    9. Quốc tế Công hội đỏ,

    10. Nông hội,

    11. Vấn đề dân tộc,

    12. Vấn đề ruộng đất,

    13. Quốc tế Cứu tế đỏ (MOPR),

    14. Liên minh chống đế quốc,

    15. Chủ nghĩa đế quốc Pháp,

    16. Cách mạng Tháng Mười,

    17. Cách mạng Trung Hoa,

    18. Khởi nghĩa vũ trang,

    19. Những bài học của các sự biến 1930-1931,

    20. Chủ nghĩa Tờrốtxki,

    21. Nền kinh tế xôviết,

    22. Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin,

    23. Làm thế nào để kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp, 

    24. Làm thế nào để tổ chức các chi bộ và làm cho các chi bộ hoạt động,

    25. Làm thế nào để tổ chức một cuộc bãi công, một cuộc biểu tình, v.v.,

    26. Làm thế nào để thực hiện mặt trận thống nhất,

    27. Làm thế nào để tổ chức một tờ báo Đảng, tờ báo nhà máy, v.v.,

    28. Làm thế nào để tổ chức học sinh, phụ nữ, v.v.,

    29. Làm thế nào để vận động binh lính,

    30. Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa (của Quốc tế Cộng sản), v.v. và v.v..

    Khi xuất bản những tập sách nhỏ ấy, cần phải chú ý đến: 1. Những khó khăn về việc in lại sách ở các xứ này; 2. khó khăn về việc giữ sách; 3. khó khăn của độc giả cất giấu sách; 4. trình độ văn hoá thấp của các đồng chí chúng tôi không thể đọc và hiểu được những điều diễn đạt quá dài, quá khó. Vì vậy các tập sách nhỏ ấy phải ngắn, từ ngữ phải rất đơn giản, rất rõ ràng và dễ hiểu đối với quần chúng. Nếu có thể được, nội dung nên trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời.

    Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hăng hái. Các đồng chí ấy công tác rất tận tuỵ. Nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn luôn vấp váp vì thiếu thốn như vậy. Tất nhiên là các đồng chí sẽ được giáo dục rèn luyện trong đấu tranh và trong công tác thực tế hàng ngày. Nhưng có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác.

    Đồng chí Xtalin nghìn lần có lý khi nói rằng: "Lý luận tạo cho các đồng chí làm công tác thực tế, sức mạnh định hướng, sự sáng suốt dự kiến tương lai, kiên định trong công tác và lòng tin ở thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta".

    Những điều mà tôi nói về các đồng chí chúng tôi ở Đông Dương, ở Thái Lan, v.v. chắc chắn là cũng đúng đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa khác, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hoá của những người lao động còn thấp. Những cuốn sách nhỏ đề nghị trên đây nhất định là cũng rất có ích đối với cả những nước ấy.

    Thân ái chào cộng sản

    Ngày 16 tháng 1 năm 1935

                                                                         LIN

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 83-87.

    __________________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt. 

    Năm 1937

    NĂM 1937 (*)  

    THƯ GỬI ĐỒNG CHÍ MÁCTI

    Đồng chí Mácti thân mến,

    Chúng tôi đã nhận được tin đồng chí Pôn Vayăng Cutuyariê của chúng ta sớm từ trần với một nỗi đau buồn sâu sắc.

    Đây là một tổn thất to lớn cho Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, cho giai cấp vô sản Pháp, giai cấp vô sản thuộc địa và giai cấp vô sản thế giới.

    Tôi đã khóc khi biết tin đồng chí Vayăng Cutuyariê qua đời. Đối với tôi, anh là một đồng chí, một bạn thân và một người anh em. Chúng tôi đã quen biết nhau từ Đại hội Tua đáng ghi nhớ. Cho tới năm 1934, chúng tôi đã cùng nhau làm việc trong vấn đề thuộc địa mà anh từng chứng tỏ hết sức quan tâm.

    Trong chuyến anh sang Viễn Đông với tư cách đại biểu và người tổ chức Hội nghị vì hoà bình và chống chiến tranh, chúng tôi đã gặp lại nhau tại Trung Quốc. Dịp đó, anh đã giúp tôi một việc rất lớn để tôi thoát khỏi một hoàn cảnh vô cùng khó khăn mà tôi vấp phải.

    Chúng tôi lại gặp nhau ở đây vào mùa hè, và đã cùng nhau thảo luận vấn đề thuộc địa, đặc biệt là vấn đề Đông Dương.

    Giai cấp vô sản thuộc địa đã mất đi một người chiến sĩ tốt và một người bạn chân thành. Vayăng Cutuyariê đã qua đời, nhưng tấm gương về sự tận tuỵ và lòng can đảm của anh vẫn còn. Khóc than anh qua đời, chúng tôi hứa sẽ noi theo tấm gương cao quý của anh, đấu tranh kiên trì hơn cho tới thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta.

    Nhân danh cá nhân và nhân danh những người cộng sản Đông Dương cùng các giai cấp cần lao Đông Dương, tôi nhờ anh, đồng chí thân mến, chuyển tới Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, tới gia đình của đồng chí và bạn thân tiếc thương của chúng ta những lời chia buồn sâu sắc.

    Ngày 12-10-1937

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.88-89.

    ________________________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt. 

    Năm 1939

     

     NĂM 1939 (*)

    THƯ GỬI MỘT ĐỒNG CHÍ

    Ở BAN PHƯƠNG ĐÔNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Bạn thân mến,

    Trong thư trước, tôi quên nói với bạn một vài điều. Hôm nay tôi bổ sung thêm điều đó.

    Ít lâu nay, tôi có quan hệ với chủ nhiệm báo Notre Voix - tờ tuần báo xuất bản ở Hà Nội từ 1-1939. Đó là những mối liên hệ thuần tuý báo chí. Tôi đã gửi cho ông ta một bài báo nói về những sự tàn bạo của Nhật Bản 1) ở Trung Quốc. Sau khi đăng bài báo đó, ông ta viết cho tôi rằng, bài báo được bạn đọc hoan nghênh và yêu cầu tôi luôn luôn gửi cho ông ta tài liệu. Để đáp lại, tôi đã đề nghị ông ta phái ai đó nói chuyện cụ thể với tôi về hình thức cộng tác này. Ông ta không trả lời. Tôi viết thư lần thứ hai. Không có sự trả lời. Tuy nhiên ông ta tiếp tục gửi báo của ông ta cho tôi; và tôi - thỉnh thoảng gửi cho ông ta những bài báo.

    Có thể đến tháng 5 tôi sẽ phái một người nào đó nói chuyện với ông ta.

    Khi đọc Notre Voix, tôi thấy những thông tin khá hay:

    1. Nhóm cánh tả có nhiều tờ báo:

    Dân chúng (Masse), nhật báo cộng sản tiếng bản xứ, xuất bản hợp pháp ở Sài Gòn, có 10.000 người đọc.

    Lao động (Travail).

    Dân tiến (Progrès).

    Dân muốn (Voeux du Peuple), tất cả ở Sài Gòn.

    Đời nay (époque Actuelle).

    Thế giới (Monde), cơ quan của Thanh niên dân chủ.

    Notre Voix - tờ tuần báo cộng sản - tất cả ba tờ ở Hà Nội.

    Những tờ báo này bị cấm nghiêm ngặt ở Trung Kỳ và luôn luôn bị các nhà chức trách Bắc Kỳ và Nam Kỳ không để cho yên. Những phần tử cánh tả người Pháp có hai tờ báo: Effort và Agir .

    Giúp Trung Quốc: Những thanh niên cánh tả người bản xứ đã tổ chức lạc quyên để giúp những nạn nhân chiến tranh và cả những đảng viên nữa, gửi thuốc men cho quân đội chúng ta, tung ra khẩu hiệu "Giúp Trung Quốc", và tuyên truyền tẩy chay hàng hoá Nhật Bản. Họ đã đòi trục xuất ra khỏi lãnh thổ Đông Dương tên Uông Tinh Vệ và những tên phản bội khác.

    Theo tờ Notre Voix , họ đã sáng tác một bài ca dao "Cứu Trung Quốc là cứu mình!"; bài ca dao đó đã trở nên rất phổ thông trong quần chúng. Ngay cả những trẻ chăn trâu bò cũng hát.

    Thanh niên Trung Quốc và thanh niên bản xứ cùng nhau tổ chức những buổi biểu diễn để giúp Trung Quốc.

    Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Hội nhân quyền (Hà Nội) và những phần tử cánh tả người bản xứ đã lập "Hội bảo vệ Trung Quốc". Mới đây, Hội này đã tổ chức một chợ phiên lớn để giúp đỡ nạn nhân chiến tranh.

    2. Đảng Xã hội 2) - Trong hội nghị (đầu tháng 1), họ đã biểu quyết về các nghị quyết chống đàn áp, về sự thống nhất hành động và về sự bảo vệ Trung Quốc.

    Những đại biểu của Thanh niên dân chủ đã có mặt ở hội nghị để yêu cầu thành lập một chi hội thanh niên xã hội nhằm thống nhất và lãnh đạo phong trào thanh niên ở Đông Dương.

    Trong thời gian hội nghị, Notre Voix đã đăng một bức thư chào mừng hội nghị của những người xã hội và đề nghị lập mặt trận thống nhất.

    Hội nhân quyền đã đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ.

    3. Dưới một cớ tầm phào vô lối, hai đảng viên Dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ đã bị tước quyền đại biểu và bị buộc tội.

    Để chống lại sự tăng thuế, ba đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội (được bầu vào tháng 12 trước, với số trung bình 409 phiếu so với với số trung bình 157 phiếu của danh sách tư sản) đã từ chức.

    Những lãnh tụ cánh tả - Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn được ân xá vào dịp đầu năm âm lịch, đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ.

    4. Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những ... phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động.

    Những sự khám xét, bắt bớ diễn ra hàng ngày ở tỉnh này hay ở tỉnh khác.

    Thuế má tăng.

    Sự phá hoại chống lại luật xã hội lan rộng. Ngày nghỉ hàng tuần bị bãi bỏ ở một loạt hiệu buôn.

    5. Bọn phản động hoạt động mạnh.

    Ở Hà Nội, mới xuất bản một tờ báo phát xít: Cứu nước, đấu tranh chống mặt trận nhân dân, những hội viên Tam điểm, những người Do Thái, những người xã hội và những người cộng sản. Số báo Cứu nước đầu tiên viết: "Chúng ta không giấu giếm, chính chúng ta muốn nói to lên rằng Đảng được chúng ta tán thành nhất đó là Đảng bình dân Pháp do Đôriô (Doriot) lãnh đạo...".

    Đọc, một tờ báo mới do một người bản xứ lãnh đạo cũng đòi chủ nghĩa quốc xã. Đây là một vài chỗ nổi của nó: "Chính phủ Pháp, nếu muốn cộng tác thành thực với người An Nam phải thực hiện chính sách chống cộng". Tất cả được in bằng tít chữ to (10-1-1939) "Chủ nghĩa cộng sản là tai hoạ của loài người. Chính phủ còn chờ gì để tiêu trừ bọn vô lại cộng sản ?" (13-1-1939). Biên tập viên của tờ báo này vừa mới được phép xuất bản một tờ báo hàng ngày bằng tiếng bản xứ Pháp - An Nam và Chính phủ đã hứa cho hắn làm quan ở cấp khá cao.

    Tờ Tổ quốc An Nam có khuynh hướng phát xít. Nó tôn thờ Mútxôlini (Moussolini) và nước Italia phát xít.

    Bọn tờrốtkít chia làm hai nhóm cãi lộn nhau.

    Bọn Nhật Bản hoạt động khá mạnh ở Đông Dương. Một nhà báo Pháp và một người bản xứ đã bị kết án 15 năm tù khổ sai vì làm gián điệp cho Nhật Bản. Một sĩ quan Nhật Bản đã bị bắt giữ với chiếc cặp đầy tài liệu mật về phòng thủ Đông Dương.

    Đọc Notre Voix, tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh.

    Tôi khá khoẻ. Tôi góp phần nhỏ bé của tôi vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân. Tôi chúc bạn sức khoẻ tốt và tôi xin bạn nhận lời chào thân thiết nhất của tôi.

    20-4-1939

    LIN

    Địa chỉ: (Bằng máy bay)

    Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc 3)

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr. 121 – 124.

    ____________

    1) Ở đây, ý tác giả chỉ bọn phát xít Nhật. 

    2) Nguyên văn: S.F.I.O 

    3) Sau dòng địa chỉ bằng tiếng Pháp là dòng chữ Hán viết tay: Tân Hoa nhật báo, số nhà 35, đường Quế Tây, Quế Lâm, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên. 

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

     

     

     

     

    THƯ TỪ TRUNG QUỐC

    VỀ CHỦ NGHĨA TỜRỐTXKI

    Quế Lâm, ngày 10-5-1939

    Các bạn thân mến,

    Trước kia, chủ nghĩa Tờrốtxki đối với tôi cũng như đối với nhiều người khác, hình như là một vấn đề tranh cãi trong nội bộ giữa các phe phái khác nhau của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, chúng tôi không lưu ý đến nó. Nhưng ít lâu trước khi xảy ra chiến tranh - nói đúng hơn là hồi cuối năm 1936, và nhất là trong thời gian chiến tranh, những sự cổ động đầy tội lỗi của bọn tờrốtxkít đã làm cho chúng tôi sáng mắt ra. Thế là chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Và việc nghiên cứu đó đã chứng minh cho chúng tôi thấy như sau:

    1. Vấn đề chủ nghĩa Tờrốtxki không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì giữa những người cộng sản và bọn tờrốtxkít không có quan hệ, hoàn toàn không có quan hệ gì với nhau cả. Nhưng đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc.

    2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài đều biết rõ điều đó, bởi vậy chúng cố ý gây mối bất hoà để lừa gạt thiên hạ và làm mất uy tín của những người cộng sản, chúng làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

    3. Bọn tờrốtxkít Trung Quốc (cũng như bọn tờrốtxkít nước ngoài) không lập thành nhóm, càng không lập thành chính đảng. Chúng chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật (và chủ nghĩa phát xít quốc tế).

    4. Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng. Chẳng hạn: ở Tây Ban Nha, chúng gọi là "Đảng công nhân thống nhất mác xít" hoặc "POUM". Chắc các bạn cũng biết rằng chính bọn chúng đã tổ chức tất cả những tổ do thám ở Mađrít, ở Bácxơlon và ở các nơi khác để phục vụ cho Phrăngcô. Chính chúng đã tổ chức cái "đội quân thứ 5" nổi tiếng để giúp làm nội ứng cho các quân đội phát xít ý - Đức. ở Nhật Bản, chúng gọi là "MEL" (Đồng minh Mác, Ăngghen, Lênin). Bọn tờrốtxkít Nhật dụ dỗ thanh niên vào trong đồng minh, rồi tiếp đó chúng đi tố cáo họ với sở cảnh sát. Chúng còn mưu toan chui vào Đảng Cộng sản Nhật Bản cốt để phá hoại nó. Tôi cho rằng bọn tờrốtxkít Pháp hiện giờ cũng đang tập hợp chung quanh nhóm "Cách mạng vô sản" và nhiệm vụ của chúng là phá hoại Mặt trận nhân dân. Về việc này, chắc các bạn biết rõ hơn tôi. ở nước Trung Hoa chúng tôi, bọn tờrốtxkít liên kết với nhau chung quanh nhóm "Tranh đấu", nhóm "Chiến tranh chống Nhật và văn hoá" và nhóm "Cờ đỏ".

    5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

    Chắc các bạn đã đọc bản án xử bọn tờrốtxkít ở Liên Xô. Nếu các bạn chưa đọc thì tôi khuyên các bạn nên đọc và làm cho bạn bè mình cũng đọc nó. Đọc bản án này rất bổ ích. Nó sẽ giúp các bạn thấy rõ bộ mặt thật đáng ghê tởm của chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít. ở đây, tôi xin phép các bạn chỉ trích dẫn vài đoạn trong bản án có liên quan trực tiếp đến Trung Quốc thôi.

    Trước toà án, tên tờrốtxkít Racốpxki khai như sau: Năm 1934, khi hắn còn ở Tôkiô (với tư cách là đại diện Hội chữ thập đỏ Liên Xô), một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Nhật đã nói với hắn:

    "Chúng tôi có quyền mong đợi ở những người tờrốtxkít một sự thay đổi về sách lược. Tôi không cần đi sâu vào chi tiết. Chỉ cần nói rằng chúng tôi mong đợi ở họ những hành động thuận lợi cho sự can thiệp của chúng tôi vào công việc của Trung Quốc".

    Racốpxki trả lời với tên Nhật: "Tôi sẽ viết thư cho Tờrốtxki về vấn đề này". Đến tháng 12-1935, Tờrốtxki ra chỉ thị cho những tên Trung Quốc đồng bọn của hắn, và nhắc đi nhắc lại rằng: "Đừng gây trở ngại cho cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc".

    Như vậy là bọn tờrốtxkít Nga muốn bán cho đế quốc Nhật không chỉ những phần đất của Tổ quốc mình - Xibêri và những tỉnh ven biển - mà chúng còn muốn bán cho đế quốc Nhật cả Tổ quốc chúng tôi - nước Trung Hoa nữa!

    - Thế thì bọn tờrốtxkít Trung Quốc đã hành động như thế nào? Rõ ràng các bạn sẽ nôn nóng, hỏi tôi như vậy.

    - Nhưng, thưa các bạn thân mến, chỉ trong bức thư sau, tôi mới có thể trả lời các bạn được. Các bạn há chẳng đã dặn tôi viết những bài ngắn đó sao?

    Mong sớm được gặp lại các bạn.

    P.C.LIN

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 125-127.

     

     

     

    NHỮNG CHỈ THỊ MÀ TÔI NHỚ VÀ TRUYỀN ĐẠT

    1. Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật.

    Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp.

    2. Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

    Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc.

    3. Đối với tư sản dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ ở trong Mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần. Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tăng thêm lực lượng cho chúng.

    4. Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

    5. Để phát triển và củng cố lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và hành động có hiệu quả. Mặt trận dân chủ Đông Dương phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp, vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ và có thể giúp rất nhiều cho ta.

    6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.

    7. Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn hoá và chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.

    8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị (ví dụ: đăng tiểu sử đồng chí R., báo "Lao động" viết đồng chí đó ở đâu, đồng chí đó trở về như thế nào, v.v.. Báo đó lại đăng và không bình luận gì về bức thư của đồng chí này cho rằng chủ nghĩa Tờrốtxki là sản phẩm của tính khoe khoang cá nhân, v.v.).

    Viết năm 1939

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 138-139.

     

     

     

    BÁO CÁO GỬI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    Các bạn thân mến,

    Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi.

    Trong bảy tháng qua, tôi đã làm gì ? Được sự giúp đỡ của một số bạn, tôi bắt tay tiến hành nghiên cứu, nhưng chẳng thu được kết quả nào. Sau đó, tôi tìm cách bắt các mối liên lạc, và việc này đã đưa lại ít nhiều kết quả như sau đây chúng ta sẽ rõ. Trong khi chờ đợi, để khỏi phí thời gian, tôi đến làm việc phiên dịch các tin tức thế giới (nghe đài thu thanh) ở Bát lộ quân, làm bí thư chi bộ, chủ nhiệm câu lạc bộ và hiện nay, uỷ viên uỷ ban câu lạc bộ. Đồng thời tôi đã viết một cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn Nhật Bản, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tờrốtxkít... để tuyên truyền quốc tế.

    Từ ngày 12-2-1939, số lớn những bài đó đã được đăng trên tờ Notre Voix, tuần báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội. Trên các bài đó tôi đều ghi Quế Lâm và ký tên Lin, hy vọng rằng các đồng chí có trách nhiệm có thể đoán được ai là tác giả và hiện người đó ở đâu. Nhưng hy vọng này không đạt được. Tuy nhiên, giữa tôi và đồng chí chủ nhiệm tờ báo đã hình thành một mối liên hệ chặt chẽ, và đồng chí ấy vẫn tin chắc tôi là một nhà báo Trung Quốc.

    Chỉ đến cuối tháng này (tháng 7), thông qua một người bạn, rồi thông qua đồng chí chủ nhiệm tờ báo nói trên, tôi mới gửi được cho Ban Chấp hành Trung ương địa chỉ của tôi và các đường lối, chủ trương. Nên chú ý là từ lúc ra đi, để cho dễ nhớ, tôi đã ghi lại những điểm chính của đường lối, chủ trương. Nhưng bản ghi đó, cùng với tất cả đồ đạc còn lại của tôi, đã bị thất lạc ở Diên An và đến lúc tôi về tới nơi thì chỉ còn lại vẻn vẹn một quyển từ điển. Vì vậy, tôi chỉ có thể truyền đạt cho Ban Chấp hành Trung ương những điều tôi còn nhớ. Đề nghị các đồng chí xem có những gì sai lầm và thiếu sót lớn không (bản sao kèm theo) 1) .

    *

    *     *

    Qua tờ Notre Voix và tờ Đời nay - một tờ tuần báo công khai khác của Đảng xuất bản bằng tiếng Việt ở Hà Nội - tôi có thể tóm tắt tình hình trong nước như sau:

    Nhìn chung, từ năm 1936 đến năm 1938, tình hình đã được cải thiện khá nhiều, chế độ ngày làm 8 giờ, hằng tuần có ngày nghỉ, chế độ nghỉ hằng năm là 10 ngày có lương, tự do tổ chức đã bắt đầu được thực hiện. Nhiều tù chính trị đã được ân xá. Nhưng tất cả những điều đó đã xấu đi từ khi Chính phủ Đalađiê ngả về hữu, nhất là từ năm 1939. Tình hình nghiêm trọng này đã gây nên phong trào đấu tranh trong quần chúng.

    TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ TRONG NGƯỜI BẢN XỨ

    Trung Kỳ: 2 đảng viên xã hội người bản xứ, nghị viên dân biểu và biên tập viên báo " Dân " đã bị tước quyền đại biểu, quyền công dân và bị tống giam. Tờ báo " Dân " bị đóng cửa.

    Trong cuộc bầu cử bổ sung, 2 đảng viên xã hội khác đã trúng cử với đa số phiếu: 669 và 878 phiếu, so với 292 và 500 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra. (Hình như nhiều người cộng sản đã lấy danh nghĩa Đảng Xã hội để dễ hoạt động hợp pháp).

    Nam Kỳ: Trong dịp bầu cử Hội đồng quản hạt, Mặt trận dân chủ đã đưa ra danh sách Ninh, Tạo, Mai. Chính quyền đã gây mọi khó khăn đối với các ứng cử viên này: từ chối không nhận danh sách ứng cử, đe doạ các chủ muốn cho họ thuê phòng làm nơi hội họp, xé áp phích của họ, bắt các biên tập viên báo Dân chúng (tờ báo công khai của Đảng ở Sài Gòn), tịch biên toà báo và tài chính của nó... Sau hàng trăm cuộc mít tinh phản đối, có hơn 2 vạn người tham gia, chính quyền mới buộc phải thừa nhận danh sách ứng cử đó. Và chỉ đến vòng bầu cử thứ hai, 3 tên tờrốtxkít và 3 tên lập hiến mới trúng cử.

    Bắc Kỳ: Do các đại biểu người Pháp từ chối không chịu thảo luận đề nghị nâng số đại biểu người bản xứ lên bằng số đại biểu người Pháp (hiện nay có 12 Pháp và 6 bản xứ), 3 đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ đã từ chức. Trong khi bầu lại, những người từ chức đó đã thắng lợi rất oanh liệt và trúng cử với con số từ 750 đến 772 phiếu so với con số từ 11 đến 370 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra.

    ít lâu sau, anh Phan Thanh, một trong số đại biểu đảng viên xã hội đó, chết. Dân chúng đã tổ chức tang lễ rất trọng thể. Đám tang có 153 vòng hoa, có đại biểu 14 tỉnh về dự và dài 2 kilômét. Gia đình anh nhận được 110 điện viếng. Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội.

    TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP Ở BẮC KỲ

    Tháng 1, Đại hội Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương họp tại Hà Nội. Nhiều quyết nghị đã được thông qua:

    Kết nạp đảng viên: - "...tới tận các thợ thủ công mù chữ...".

    Thống nhất hành động: - "... Đại hội thông qua đường lối thống nhất hành động của Ban Thường vụ và giao cho Ban Thường vụ thực hiện sách lược này...".

    Giúp đỡ Trung Quốc: - "Một uỷ ban thường trực sẽ được thành lập để đảm nhiệm việc giúp đỡ Trung Quốc, đồng thời giúp đỡ cả những người cộng hoà Tây Ban Nha, những người lưu vong Tiệp Khắc, những người Do Thái và các nạn nhân Đông Dương".

    Chống đàn áp - "... cực lực phản đối những hành động phá hoại lòng tin cậy và mối hy vọng của nhân dân bản xứ đối với nước Pháp dân chủ.... Báo động cho tất cả các tổ chức tiến bộ đang hoạt động ở miền Bắc Đông Dương và đề nghị các tổ chức ấy cùng phối hợp hoạt động để ngăn chặn những hành động vô chính trị và độc đoán đó".

    Một đại biểu thanh niên dân chủ (không phải là một tổ chức) đã đọc trước Đại hội một bản kiến nghị yêu cầu cho thành lập một chi hội Thanh niên xã hội (vào tháng 4, một chi hội như thế đã được thành lập ở Hà Nội).

    Tờ Notre Voix đã đăng một lời chào mừng anh em gửi cho Đại hội.

    Hội nhân quyền 19 đã đòi tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ. (Về sau tôi sẽ trình bày chính sách của bọn tờrốtxkít Đông Dương).

    CÔNG NHÂN

    Tuỳ từng vùng, tiền lương có khác nhau. Nhưng nét chung đối với tất cả các nơi là tiền lương rất thấp.

    Lương công nhật tối thiểu là:

    Đàn ông -    Trung Kỳ:    từ 0đ20 đến 0đ33

                       Bắc Kỳ:       - 0đ22   -    0đ33

    Đàn bà -      Trung Kỳ:      - 0,15    -     0,25

                       Bắc Kỳ:       - 0,17    -     0,25

    Trẻ em -      Trung Kỳ:      - 0,11    -    0,19

                       Bắc Kỳ:       - 0,12    -     0,17

    Theo số liệu chính thức ở Bắc Kỳ thì giá sinh hoạt tháng 6-1939 tăng 40% so với tháng 9-1938 và so với năm 1914 thì tăng 177%; trong khi đó, tiền lương chỉ tăng từ 10 đến 12%, vì vậy một làn sóng bãi công đã nổ ra. 

    Địa phương

    Ngành nghề

    Yêu sách

    Người tham gia bãi công

    Tháng

    Kết quả

    - Turan

     công nhân Riksha

    phản đối tăng tiền thuê nhà

    -

    1

    -

    - Vĩnh Long

     thợ làm gạch

     tăng lương

    500

    nt

    thắng lợi

    - Chợ Lớn

     đồn điền

     tăng lương

    -

    nt

    -

    - Thủ Dầu Một

     đồn điền

     giảm giờ làm từ 11 giờ xuống 9 giờ

    300

    nt

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     thợ may

     tăng lương (không nổ ra bãi công)

    -

    3

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     thợ cưa

     tăng lương

    1.000

    4

    -

    - Cần Thơ

     thợ cưa

     tăng lương

    100

    4

    -

    - Hà Nội

     thợ cưa

     tăng lương

    400

    4

    -

    - Uông Bí

     công nhân mỏ than

     tăng lương

    300

    4

    thắng  lợi

    - Mỹ Tho

     công nhân Riksha

     phản đối phạt vạ

    200

    4

    -

    - Chợ Lớn

     thợ cưa

     tăng lương

    100

    4

    -

    - Hải Phòng

     công nhân sợi

     tăng lương

    3.000

    nt

    thắng lợi

    - Hà Nội

     thợ may

     tăng lương

    -

    nt

    -

    - Hà Nội

     thợ in

     tăng lương

    70

    4

    thắng lợi

    - Nam Định

     trẻ em bán
     kem

     phản đối tăng giá

    60

    5

    -

    - Hà Nội

     trẻ em bán kem

     tăng giá

    100

    5

    thắng lợi

    - Hà Nội

     đô tuỳ

     tăng lương

    500

    nt

    -

    - Hà Nội

    thợ dệt

     tăng lương

    14

    nt

    thắng lợi

    - Hà Nội

     học nghề

    cải thiện sinh hoạt

    30

    nt

    -

    - Hà Nội

     nhạc sĩ

    tăng lương

    40

    nt

    -

    - Hà Nội

     thợ dệt

    tăng lương

    -

    nt

    thắng lợi

    - Hà Nội

     thợ mộc

    nt

    700

    nt

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     công nhân
     bốc vác

    nt

    1.500

    nt

    thắng lợi

    - Sài Gòn

     công nhân
     vệ sinh

    nt

    300

    nt

    thắng lợi một phần

    - Hải Phòng

     công nhân
     xi măng

    tăng lương (bãi công 1 giờ)

    60

    6

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     công nhân
     bốc vác

    nt

    100

    nt

    -

    - Hải Phòng

     công nhân
     xe chỉ

    nt

    800

    nt

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     dệt thảm

    nt

    700

    nt

    -

    - Hải Phòng

     làm ô

    yêu sách, (không bãi công)

    -

    nt

    -

    - Hải Phòng

     chè

    tăng lương

    200

    nt

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     thợ máy

    tăng lương

    300

    5

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     hãng buôn

    nt

    300

    6

    nt

    - Hải Phòng

     chè

    nt

    300

    nt

    thất bại

    - Hải Phòng

     thuỷ tinh

    nt

    700
    phụ nữ

    nt

    -

    - Hà Nội

     công nhân
     hoả xa

    nt

    800

    nt

    thắng lợi một phần

    - Hà Nội

     công nhân
     hoả xa

    nt

    800

    nt

    thắng lợi một phần

    - Hà Nội

     thêu

    tăng lương

    -

    nt

    thắng lợi một phần

    - Hà Nội

     làm mũ

    tăng lương

    100

    nt

    thắng lợi một phần

    - Hà Nội

     hãng ô tô Pho

    nt

    300

    6

    -

    - Dĩ An

     xe lửa

    nt

    700

    nt

    -

    - Sài Gòn

     bến tàu

    nt

    4.000

    6

    thắng lợi

    - Sài Gòn

     nhà in

    nt

    300

    6

    thắng lợi một phần

    - Sài Gòn

     thợ giày

    nt

    -

    nt

    -

    - Hà Nội

     máy diêm

    tăng lương

    240 phụ nữ

    6

    thắng lợi

    - Hà Nội

     nhà in

    nt

    60

    6

    thắng lợi

    - Hà Nội

     thợ mộc

    ngày hợp pháp

    -

    6

    thắng lợi

    - Hà Nội

     nhà in khác

    tăng lương

    -

    6

    thắng lợi

    - Hà Nội

     xe lửa

    nt

    -

    6

    -

    - Hà Nội

     thợ máy

    nt

    600

    6

    thắng lợi

    - Hải Phòng

     lái tàu sông

    nt

    -

    6

    thắng lợi

    - Uông Bí

     công nhân
     mỏ than

    nt

    2.000

    6

    thắng lợi

    (Bảng này thống kê từ tháng 1 đến tháng 6, nhưng chưa đầy đủ. Dấu (-) tức là chưa biết).

    Một vài đặc điểm của các cuộc bãi công nói trên:

    So với trước thì các cuộc bãi công năm 1939 có tổ chức và có kỷ luật hơn. Các cuộc bãi công ấy đều đưa ra những yêu sách cụ thể hơn: đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, bảo hiểm xã hội, công nhận các đại biểu, tự do nghiệp đoàn. Đó là những yêu sách cơ bản.

    Hầu hết các cuộc bãi công đều được sự ủng hộ tinh thần và vật chất của công nhân các ngành khác, của nông dân và tiểu thương; đôi khi ngay cả tù chính trị cũng đóng góp vào các cuộc lạc quyên ủng hộ. Những người bãi công đã ra lời kêu gọi lao động trong cả nước và đã nhận được thư tỏ tình đoàn kết. Mỗi lần thắng lợi, họ lại ra những bản tuyên bố động viên toàn thể công nhân đoàn kết lại, đồng thời cũng nhận được nhiều điện mừng gửi tới.

    Trong khi cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng đang nổ ra, bọn mộ công nhân đã tìm cách quyến rũ công nhân thất nghiệp Nam Định; nhưng những người này không muốn trở thành những kẻ phá hoại bãi công và đã gửi thư khuyến khích bạn đồng nghiệp của họ ở Hải Phòng tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi.

    Sau cuộc bãi công, bọn chủ và bọn thanh tra lao động buộc phải ký giao kèo với đại biểu công nhân. Như vậy là đoàn đại biểu công nhân được coi như hợp pháp.

    Những người bãi công đã thực hiện kỷ luật dân chủ. Ví dụ: sau cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng, đến trưa thì ban giám đốc và bọn thanh tra lao động của nhà máy ký giao kèo, nhưng đại biểu của những người bãi công từ chối không chịu ký khi họ chưa có ý kiến đồng ý của toàn thể công nhân. Đến 2 giờ chiều, trước 2.000 công nhân tập hợp rất trật tự trước nhà máy, bản giao kèo được đem ra đọc. Chỉ sau khi toàn thể những người tham gia bãi công nhất trí tán thành, các đại biểu mới ký tên vào bản giao kèo. Lúc bấy giờ, công nhân đã giơ nắm tay "mặt trận đỏ" lên cám ơn viên tổng thanh tra lao động. Bức thư của họ được đăng trên các báo và kết thúc bằng những khẩu hiệu: "Vô sản thế giới muôn năm! Mặt trận dân chủ muôn năm! Tự do nghiệp đoàn, dân chủ và tinh thần đoàn kết muôn năm!".

    Làn sóng bãi công làm cho bọn chủ lo lắng. Một số trong bọn chúng (Nhà máy sợi, Nhà máy rượu Nam Định và một số khác) không đợi công nhân yêu sách, đã thực hiện tăng lương.

    Tổ chức công nhân

    Từ năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân ở Pháp thắng lợi, phong trào đòi tự do nghiệp đoàn ở Đông Dương bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Để ngăn chặn hoặc làm trì trệ phong trào, chính phủ thuộc địa đã "khuyên công nhân trước hết hãy tổ chức những hội ái hữu" với một điều lệ hạn chế do tự chúng thảo ra. Nhưng ngay sau khi chính phủ Pháp ngả về hữu thì các tổ chức ái hữu ở Đông Dương bắt đầu bị khủng bố. ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, người ta đóng cửa một vài tổ chức cũ, gây khó khăn đối với những tổ chức mới và cấm không cho lập thêm các tổ chức khác. ở Trung Kỳ thì lại quá tay! Người ta bỏ tù 4 năm những nông dân tổ chức hợp tác! Vì vậy cho nên "đòi hỏi tự do tổ chức" trở thành một trong những khẩu hiệu chính của tất cả các cuộc bãi công và biểu tình. Cần nhắc lại rằng, ngày 6-3-1939, công nhân dệt ở Hà Nội đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ đòi tự do nghiệp đoàn. Ngày 14-4, cũng ở thành phố này, những người lao động đã gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa tố cáo những hành động đàn áp công nhân và đòi tự do dân chủ. Ngày 6-6, đại biểu các hội ái hữu của 4 thành phố (Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và Hà Đông) đã gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ và cho Tổng thanh tra lao động một lá thư, trong đó, đoạn cuối như sau:

    "Năm 1936, khi phong trào đòi tự do nghiệp đoàn lên cao, chính phủ bảo những người lao động hãy tổ chức những hội ái hữu đã, trong khi chờ đợi thành lập nghiệp đoàn. Chúng tôi không phải là những người bảo thủ để tin rằng hội ái hữu là một bước cần thiết để tiến tới nghiệp đoàn, nhưng vì không muốn bỏ lỡ một cơ hội nhỏ nào, nhằm tổ chức quần chúng lao động lại, nên chúng tôi đã bắt đầu tiến hành thành lập hội ái hữu ở khắp nơi, mỗi nơi một ít, đồng thời không ngừng đòi nhà chức trách phải thực hiện tự do nghiệp đoàn.

    "Khắp nơi, mỗi nơi một ít, các hội ái hữu được thành lập, làm việc trong không khí mới mẻ và với một phương pháp mới. Thấy vậy, nhà chức trách tìm hết cách ngăn chặn, khủng bố các hội ấy, đuổi những công nhân là hội viên hoặc công nhân có trách nhiệm trong các tổ chức này, giải tán một cách độc đoán những hội ái hữu cũ và ngăn cấm không cho thành lập những hội mới.

    "Chúng tôi kịch liệt phản đối việc giải tán các hội ái hữu hoạt động trong vòng trật tự, hợp pháp và không bao giờ vượt quá phạm vi nghề nghiệp của mình. Chúng tôi kiên quyết đòi cho những người lao động được tự do lập hội ái hữu. Thay mặt các hội ái hữu của những người lao động Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hà Đông, đại biểu cho niềm hy vọng của các tầng lớp lao động Bắc Kỳ, với thiện cảm và sự ủng hộ của lao động toàn Đông Dương, chúng tôi lớn tiếng đòi: Tự do nghiệp đoàn! Tự do tổ chức hội ái hữu!".

    Ngày 1-5-1939

    Năm 1938, lần đầu tiên Hà Nội được tổ chức ngày 1-5 hợp pháp. Ngày đó thật là lớn và đối với Đông Dương, có thể nói là vĩ đại: 2 vạn người biểu tình. Năm nay, Đảng Cộng sản tán thành, nhưng Đảng Xã hội lại phản đối biểu tình công khai. Cuối cùng, một cuộc họp đã được tổ chức tại trụ sở Đảng Xã hội, có 100 đại biểu các tổ chức tham dự. ở các thành phố khác lại có nhiều cuộc biểu tình lớn hơn.

    Hải Phòng             700 người biểu tình,

    Thái Bình              500    -

    Thanh Hoá            2.000 - trong 23 cuộc míttinh,

    Nghệ An                500 nông dân,

    Sài Gòn                11 cuộc biểu tình, 5 cuộc bãi công,

    Mỹ Tho                 250 công nhân biểu tình,

    Long Xuyên            300    -

    Thà khẹt (Lào)         40      -

    Sau ngày lễ đó, nhiều vụ bắt bớ và tù tội đã diễn ra.

    Những cuộc biểu tình khác

    Lấy cớ để phòng thủ Đông Dương, ngày 15-5 Chính phủ quyết định thu 10 triệu bạc "đảm phụ quốc phòng". Tất cả gánh nặng đó đè lên lưng người bản xứ. Một công chức người bản xứ phải đóng góp 8 lần so với đồng sự của họ người Pháp. Một người Âu chỉ phải đóng một đồng thuế thân, trong khi đó một người bản xứ phải đóng từ 1đ50 đến 20đ00, cộng thêm 4đ20 tiền miễn trừ tạp dịch nữa. Thuế môn bài tăng gấp đôi, gấp bốn. Ví dụ: một ông già bán thuốc chữa bệnh vốn chỉ 15đ00 mà phải đóng đến 6đ00 thuế thân và 9đ80 thuế môn bài! Nông dân phải đóng nhiều hơn năm 1938 là 38%. Tình hình đó đã gây ra những cuộc biểu tình và phản đối trong nhân dân. Dưới đây là bản thống kê không đầy đủ về những cuộc biểu tình đó.

     

    Ngày tháng

    Địa phương

    Người tham gia

    Yêu sách

    Tháng Tháng 3

    Hà Hà Hà Nội

    200

    - Người buôn bán gửi đơn cho chính phủ phản đối tăng thuế.

    Tháng 4

    Hà Nội

    Tiểu thương

    - Gửi đơn cho chính phủ phản đối tăng thuế.

    Tháng 4

    Vĩnh Long

    Nông dân

    - Đòi chia đất công.

    Tháng 5

    Hải Phòng

    1.500

    - Phản đối tăng thuế, đòi giảm thuế cho người nghèo, đòi tự do tổ chức, đoàn kết với công nhân bãi công, chống khủng bố.

    Tháng 5

    Hà Nội

    722

    - Tiểu thương đòi phủ toàn quyền giảm thuế cho người nghèo và người thất nghiệp. Đánh thuế nặng hơn đối với các công ty lớn.

    Tháng 5

    Hải Phòng

    438

    - Tiểu thương phản đối tăng thuế.

    Tháng 5

    Hải Phòng

    1000

    - Công nhân và tiểu thương phản đối tăng thuế và đòi tự do tổ chức.

    Tháng 5

    Sơn Tây

    -

    - Nông dân làng Dụ Phước đòi chia ruộng công.

    Tháng 5

    Thái Bình

    500

    - Biểu tình chống thuế, đòi tự do dân chủ, đòi ân xá chính trị phạm.

    Tháng 5

    Thanh Hoá

    -

    - Đòi lại phiếu quốc trái mà bọn trung gian đã chiếm mất.

    Tháng 6

    Hà Đông

     100

    - Nông dân Hạ Trì chống thuế.

    Tháng 6

    Cao Bằng

     300

    - Nông dân chống thuế.

    Tháng 6

    Hải Phòng

     1.500

    - Công nhân và tiểu thương chống tăng thuế, chống khủng bố và chủ nghĩa phát xít, đòi tự do tổ chức.

    Tháng 6

    Hà Nội

    650

    Biểu tình phản đối tăng thuế, tỏ tình đoàn kết với những người bãi công và nông dân bị tước đoạt ở Thái Ninh.

    Tháng 6

    Hà Đông

    3.000

    - Nông dân làng Văn Phước chống bán ruộng công.

    Tháng 6

    Thái Bình

    500

    - Nông dân Đặng Phổ chống tăng thuế, tỏ tình đoàn kết với nông dân Thái Ninh.

    Tháng 6

    Thái Bình

    -

    - Nông dân An Thái đòi chia ruộng công.

    Tháng 6

    Hải Phòng

    -

    - Hàng trăm người biểu tình ở công viên phản đối tăng thuế, chống khủng bố công nhân, và tỏ tình đoàn kết với những người bãi công.

    Tháng 6

    Thanh Hoá

    1.739

    - Nhân dân gửi 47 đơn cho phủ toàn quyền đòi giảm thuế và thực hiện tự do dân chủ.

    Tháng 7

    Thái Bình

    -

    - Hàng ngàn nông dân biểu tình phản đối tước đoạt ruộng đất của họ (1.500 mẫu) để cấp cho bọn chủ báo Hà Nội buổi chiều và Đông Pháp. Số ruộng đất này thuộc làng Thái Ninh. Nhiều cuộc bãi thị đã nổ ra.

    BÁO CHÍ

    Theo tôi biết, ở Bắc Kỳ cánh tả có những tờ tuần báo như sau:

              Demain - Đảng Xã hội,

              Tribune républicaine - (Pháp),

              Effort - Tiến bộ - tự trị - (bản xứ),

              Notre Voix - Cộng sản,

              Đời nay - Cộng sản,

              Người mới - Khuynh hướng xã hội,

              Ngày mới - Khuynh hướng xã hội,

              Thế giới - Thanh niên tiến bộ.

    Trung Kỳ:

              Tiếng dân - Quốc gia.

    Nam Kỳ:

              Dân chúng - Cộng sản,

              Lao động - Khuynh hướng cộng sản (tôi cho như vậy),

              Tiến tới - Tiến bộ,

              Đông phương - Tiến bộ,

              Mới - Thanh niên dân chủ.

    Các báo này tán thành đòi tự do, dân chủ và ân xá chính trị phạm.

    Tờ Dân chúng xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 7-1938 là tờ báo đầu tiên đã bất chấp đạo luật cấm phát hành nếu không được phép trước. Sau khi nó ra đời được một tháng, quyền tự do báo chí được ban hành, nhưng hàng ngày, người ta cứ tìm cách cắt xén và thủ tiêu đi, như về sau, chúng ta sẽ thấy. Tôi nghĩ rằng Dân chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc nhất ở Đông Dương, vì số lượng phát hành của nó lớn hơn tất cả - mỗi số 1 vạn bản. Ngày 7-3, tờ báo bị tịch thu, các biên tập viên của nó bị bắt. Trong suốt tháng sau, 28 cuộc mít tinh phản đối đã nổ ra, một vài cuộc có tới 1.000 người tham gia; và để giúp đỡ tờ báo, một cuộc lạc quyên đã được tổ chức và thu được hơn 400đ trong một tuần lễ. Phản đối chính phủ tìm cách ngăn cản các ứng cử viên của Mặt trận dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt, trong vòng đầu, báo Dân chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2.585 cử tri đã làm theo.

    Báo Đời nay ở Bắc Kỳ cũng rất được nhiều người đọc. Trong danh sách "ủng hộ báo Đời nay " người ta đọc thấy tên phụ nữ, thanh niên, học sinh, công nhân, nông dân, tiểu thương ủng hộ từng xu nhỏ một. Người ta còn thấy tên một thiếu nữ ủng hộ tới 20 đồng bạc; có lẽ đó là một người cảm tình trẻ tuổi thuộc tầng lớp tư sản. Công nhân ở Boócđô, Havơrơ, Xiêm, Lào và Vân Nam cũng đều gửi tiền ủng hộ. Khi công nhân, nông dân, tiểu thương và hương sư có kêu ca điều gì thì họ cũng nhờ tới báo " Đời nay ".

    Người đọc tờ Notre Voix thì ít hơn nhiều, và chỉ gồm những người Đông Dương biết tiếng Pháp, làm chính trị. Đây là cương lĩnh của tờ Notre Voix và cũng là cương lĩnh chung của các tờ báo cộng sản Đông Dương:

    " Notre Voix sẽ là tiếng nói của những người mong muốn hoà bình, muốn được tự do và hạnh phúc hơn, của những người quyết tâm đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, đấu tranh chống lại các lực lượng bảo thủ và áp bức xã hội, chống lại những kẻ gây chiến, chủ nghĩa phát xít trong nước và trên quốc tế.

    "Nói một cách chính xác hơn, Notre Voix sẽ hoạt động để mở rộng và củng cố mặt trận những lực lượng tiến bộ, mặt trận dân chủ Pháp - Đông Dương, để tăng cường tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương với các chiến sĩ anh hùng Trung Quốc, Tây Ban Nha và nói chung, với toàn thể nhân dân thế giới".

    Chính phủ thuộc địa tích cực dùng bạo lực chống lại các báo phái tả cũng như các báo dân chủ bản xứ. Chúng đuổi những công nhân, viên chức đọc các báo đó, đe doạ những độc giả khác, tịch thu báo, và đôi khi cả tài chính của toà báo, bắt bớ và tống giam các biên tập viên và phóng viên, truy tố ban biên tập trước toà án, v.v.. Các biên tập viên báo Thanh niên bị bắt ngay sau khi tờ báo phát hành. Thuế môn bài các đại lý báo Đời nay đều tăng 700%.

    Nói về những cuộc đàn áp ấy, báo Đời nay , cơ quan của Đảng Xã hội xuất bản ở Hà Nội, viết:

    "Người ta chỉ có thể khiển trách họ đã đề cập đến những vấn đề dân chủ, đã ca ngợi một sự hợp tác Pháp - Việt chân thành, một sự đoàn kết hợp lý trước hoạ phát xít.... Người ta bóp nghẹt mọi tài liệu dân chủ và dung túng sách báo thân Nhật hoặc có khuynh hướng phát xít".

    Cũng cần nhắc ra đây tên một số sách bị cấm:

    Lênin

    Nước Nga Xô viết

    Lịch sử cách mạng Trung Quốc

    Tây Ban Nha

    Thắng lợi của thái độ kiên trì của Liên Xô

    Việc võ trang Liên Xô

    Công cuộc khôi phục ở Liên Xô

    Sự tiến bộ trong quan hệ Trung - Xô

    (Tóm lại, tất cả sách viết về Liên Xô).

    Tờrốtxki, công cụ của chủ nghĩa phát xít (bằng tiếng Trung Quốc)

    Mặt trận thống nhất chống phát xít sau sự kiện Muyních (bằng tiếng Trung Quốc).

    Tất cả những sách chống phát xít và ngay cả những quyển sách như:

    Nguyên lý lãnh đạo (bằng tiếng Việt) và các tác phẩm văn nghệ như:

    Lúc tôi ở với Lênin của Goócki, cũng đều bị cấm.

    Báo cánh tả bằng tiếng Việt bị cấm lưu hành ở Trung Kỳ và Cao Miên. Các báo tờrốtxkít và có khuynh hướng phát xít được khuyến khích và tự do lưu hành khắp nơi.

    Cuốn Tư bản cũng bị cấm ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

    Tù chính trị

    Theo tờ Notre Voix thì còn khoảng 1.500 tù chính trị ở trong các nhà lao. Tổ chức cứu tế nhân dân ở Pháp luôn luôn can thiệp và các báo cánh tả Pháp, Việt ở Đông Dương (ngay bọn tờrốtxkít cũng có tham gia một lần và theo cách của chúng) đều lên tiếng đòi trả lại tự do cho họ.

    Tháng 6, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đã thông qua một bức điện gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa yêu cầu ân xá toàn thể các chính trị phạm.

    Các báo cộng sản đều tổ chức lạc quyên giúp đỡ họ. Từ năm 1938 cho đến tháng 4-1939, số tiền lạc quyên đã hơn 800đ. Cũng như mọi khi, những người đóng góp vẫn cứ là công nhân, nông dân, sinh viên, tiểu thương, thanh niên dân chủ, công nhân bản xứ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, đôi khi cũng có những hành động cảm động: 2 thanh niên nông dân cùng nhau ủng hộ 7 xu và bên cạnh họ là một người cảm tình vô danh ủng hộ 20đ. Cũng có những người ủng hộ thuốc uống, sách và truyện cũ, kẹo, bưu ảnh, v.v..

    Nhưng nếu lớp tù chính trị này được thả ra thì người ta lại tống giam những lớp mới khác.

    Biểu tình trước trụ sở Hội đồng dân biểu: 3 năm tù và 3 năm quản thúc.

    Tham gia vào hội tương tế, dù hội này đã được phép mở: cũng án như vậy.

    Đưa yêu sách của dân làng cho các nghị viên, dù các nghị viên đó tự mình đến hỏi: 10 năm khổ sai và 10 năm quản thúc, v.v..

    Phi Vân (mà người ta cho rằng đã phản bội) đã bị bắt và bị kết án 10 năm tù hồi tháng 6-1939. Anh ta bị áp giải một cách cẩn mật từ nhà lao đến Toà án Bắc Ninh, tay bị xiềng, đầu trần, chân đất, mình trần trụi và chỉ mang mỗi chiếc quần cộc.

    Tờ Cố gắng viết về các cuộc đàn áp như sau: "... 20 năm sau khi hàng vạn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường Pháp, chúng ta vẫn không được hưởng một chút quyền, một chút tự do sơ đẳng nào mà nhân dân các nước dân chủ văn minh đã được hưởng.

    Không có tự do báo chí.

    Không có tự do lập hội.

    Không có tự do hội họp.

    Sau hai năm thực hiện một mức tự do hạn chế, trong đó, một vài chính kiến đã được phép nói lên đến một chừng mực nào đó, Chính phủ Đông Dương... lại bắt đầu o ép và đàn áp... Tờ Ngày mai viết:

    "Hình như các nhà cầm quyền của chúng ta đã mất hết sáng suốt và bình tĩnh, hình như hễ bị kinh khủng là họ mất hết trí minh mẫn và lòng độ lượng; kể từ năm 1930... - thời kỳ bi thảm mà hiện nay hình như chúng ta đang trở lại - chưa bao giờ lại có những phương pháp đàn áp khốc liệt và tàn bạo quá tay đến thế.

    Người ta tịch thu, người ta cấm đoán, người ta bắt bớ, người ta kết tội một cách không căn cứ, điên rồ, sai trái, độc đoán và hết sức ráo riết. Người ta bịa đặt, người ta nặn ra mọi chứng cớ giả tạo, người ta dùng đến những hành động nhục nhã. Người ta dùng cả những biện pháp bất hợp pháp: người ta đã hành động đến mức không luật pháp, đạo đức, nhân quyền, lương tri nào có thể bào chữa cho một chính sách ngu xuẩn đến thế".

    Đông Dương và Trung Quốc

    Những người lao động Việt Nam hoàn toàn đứng về phía Trung Quốc. Những người có ít nhiều tinh thần dân chủ, những nhà buôn Pháp cũng đều như vậy, tất nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

    Đảng Xã hội, Hội nhân quyền và tất cả những phần tử cánh tả ở Bắc Kỳ đã tổ chức vào đầu năm 1939 một cuộc hội chợ lớn để giúp các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc. Những người cộng sản đưa ra khẩu hiệu: "Giúp đỡ Trung Quốc!". Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu đó và bằng chứng là, dù còn đói khổ, từ tháng 3-1938 tới tháng 2-1939, họ đã đóng góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức (ở các địa phương khác cũng có lạc quyên, nhưng tôi không biết kết quả). Ngày đầu năm, báo Notre Voix đã nhận được 38đ35 ủng hộ những người du kích. Nhân dịp kỷ niệm 2 năm ngày chiến tranh bùng nổ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã gửi cho các chiến sĩ 100 đồng và một lá thư cổ vũ gồm 2.330 chữ ký.

    Những người cộng sản cũng đưa ra khẩu hiệu tẩy chay hàng Nhật. Cần nói thêm rằng, những người cộng sản đã đặt ra bài hát: "Giúp Trung Quốc tức là giúp mình", và bài hát đó đã được truyền đi rất rộng trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức các cuộc biểu diễn ban đêm. Người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên, họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để làm.

    Dưới áp lực của Nhật, Chính phủ Pháp quyết định đóng cửa biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ lại. Chính phủ thuộc địa không tán thành chủ trương ấy. Các thương gia Pháp đấu tranh chống quyết định đó. Báo chí cũng nhất trí chống lại việc đóng cửa biên giới, nhưng với lý do khác nhau, kẻ thì vì vật chất, người thì vì chính trị. Trước Hội đồng dân biểu, Chủ tịch phòng thương mại Hà Nội đã kịch liệt phản đối quyết định của Chính phủ. Sau khi cho biết rằng từ tháng 2 đến tháng 10-1938, Đông Dương đã xuất cảng sang Nhật 341.000 tấn than và quặng sắt, ông nói: "... Nếu chúng ta coi việc xuất cảng này là hợp pháp thì không thể hiểu tại sao chúng ta lại cấm việc xuất cảng sang Trung Quốc, ... Trung Quốc đã nhường đường xe lửa Vân Nam cho một công ty Pháp, Trung Quốc đã nhường đất để làm đường sắt và cung cấp nhân lực cần thiết cho công cuộc xây dựng. Ngoài ra, trong điều 4 của Hiệp ước Trung - Pháp có ghi: "Dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược mà Chính phủ quốc gia muốn chuyển vận xuyên qua đất Bắc Kỳ sẽ được miễn mọi thứ" ... Không tôn trọng lời ký kết của nước Pháp, chúng ta đã cấm vận chuyển hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường sắt (Pháp - Trung Quốc) Vân Nam. Trong lúc đó, chúng ta lại giao than và quặng sắt của chúng ta cho Nhật Bản...".

    Tướng tổng tham mưu trưởng Bạch Sùng Hy tuyên bố với các nhà báo Pháp: "Hiện nay không phải chỉ Quảng Tây tỏ ý bất bình với nước Pháp, mà cả Vân Nam, Quảng Đông và tất cả các tỉnh khác ở Hoa Nam nữa".

    Trong thời gian 3 tháng, người Trung Hoa đã làm xong 250 kilômét đường ôtô nối liền Vân Nam và Rănggun. Anh sẽ cho Trung Quốc vay 100 triệu để xây dựng một con đường sắt chạy theo hướng này. Chính phủ Đalađiê nhận thấy rằng nhiều mối lợi to lớn sẽ mất, không những thế cả nền thương mại Pháp ở Bắc Kỳ cũng sẽ bị phá sản, cho nên chúng buộc phải ngấm ngầm mở lại cửa biên giới mà không nói năng gì.

    Nhật chiếm đảo Hải Nam và Spralây làm cho Pháp lo sợ. Họ liền tìm cách hợp tác với người Anh (Hội nghị quân sự ở Singapo) và chuẩn bị phòng thủ: tăng quân bằng cách tuyển thêm một vạn người, sửa lại các hải cảng, xây dựng sân bay và các nhà máy có thể sản xuất từ 150 đến 400 máy bay một năm.

    Các báo cánh tả cho rằng như vậy vẫn chưa đủ, rằng muốn phòng thủ có kết quả thì phải có sự hợp tác thành thật của dân chúng; muốn thế, cần ban hành những quyền dân chủ cho người bản xứ.

    Nên nhớ rằng chính phủ thuộc địa đã tổ chức một trường học tiếng Nhật ở Thanh Hoá. Lại một sự việc có ý nghĩa hay một dấu hiệu sợ hãi: tháng 6, trong một thông tri gửi cho người Pháp ở Bắc Kỳ, chính phủ đã hỏi họ rằng: Nếu chiến tranh nổ ra thì họ sẽ tản cư vợ con họ ra sao.

    Nói thêm, những người cộng sản đã sáng tác bài hát Giúp Trung Quốc tức là giúp mình, một bài hát rất được phổ biến. Nhiều đêm (vui) kịch đã được tổ chức ở nhiều nơi. Những phần tử hăng hái là công nhân, nông dân và nhất là thanh niên, họ thường hợp tác với thanh niên Trung Quốc.

    Hoạt động của Nhật ở Đông Dương

    Bọn Nhật đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp. Công tác tuyên truyền ấy chỉ tranh thủ được bọn quan lại bất mãn và các cụ đồ nho. Trong khi tuyên truyền, những người này tỏ ra công khai thân Nhật và chống Trung Quốc. Nhưng họ không có chút tác dụng nào trong đông đảo quần chúng, vì như trên đã nói, quần chúng thực sự đứng về phía Trung Quốc. Từ 34 năm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong có dịp sẽ dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác. Thứ hai là bán hàng hoá giá rẻ.

    Gián điệp Nhật hoạt động rất mạnh ở Đông Dương. Ba tháng trước đây, một người Pháp chủ nhiệm một tờ báo và một người Việt Nam đã bị kết án 20 và 15 năm khổ sai về tội làm gián điệp. Về vấn đề này, tờ Effort viết: "Nhưng biết bao người như thế sẽ có thể tiếp tục công việc của họ một cách yên ổn gần như tuyệt đối, do thái độ do dự của các nhà cầm quyền Pari của chúng ta tạo nên". Đối với bọn gián điệp người Nhật, Chính phủ Pháp tỏ ra rất nhân nhượng. Ví dụ, năm ngoái một sĩ quan Nhật bị bắt quả tang làm gián điệp ở Bắc Kỳ, người ta bắt được trong người hắn một tập tài liệu dày cộp. Nhưng Chính phủ chỉ yêu cầu tên sĩ quan này ra khỏi Đông Dương mà thôi. Mới đây, người ta bắt được ở Lào Cai 3 gián điệp người Nhật đang vẽ các cứ điểm chiến lược. Ra trước toà án, chúng chỉ bị phạt 100 quan!

    Trái lại, người ta kết tội những người cộng sản là thân Nhật. Ngày 13-6, đồng chí chủ nhiệm tờ báo cộng sản Đời nay ở Hà Nội bị triệu đến sở mật thám. Viên chánh cẩm bảo đồng chí rằng: Những người cộng sản đã ăn lương của Nhật và chính vì thế mà họ đã tổ chức bãi công nhằm mục đích phá hoại việc tiếp tế cho Trung Quốc. Những người cộng sản đã kịch liệt phản đối lời vu cáo này của bọn cẩm bằng lời nói và bằng văn bản.

    *

    *    *

    Tôi rất tiếc hôm nay chưa thể nói được về bọn tờrốtxkít. Liên lạc cần phải đi ngay. Tôi phải ngừng bút và gửi lời chào anh em tới các đồng chí.

    Cuối tháng 7 năm 1939

    LIN

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 140-161.

    _________________

    1) Xem Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt, tr.540-541.   

    Năm 1940

    NĂM 1940 (*)

    BÁO CÁO CỦA VIỆT NAM GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN

    1. Địa lý:

    Ấn Độ China thuộc Pháp, còn có tên là "Đông Dương", gồm 5 vùng, Ai Lao, Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Ba vùng sau là Việt Nam.

    2. Dân tộc:

    Toàn Đông Dương có khoảng 25 triệu dân. Dân tộc Việt Nam chiếm tuyệt đại đa số: 20 triệu người. Cao Miên hơn 2 triệu người. Lào, Mán, Thổ và các dân tộc thiểu số khác cộng trên dưới 3 triệu người.

    3. Chế độ chính trị:

    Nam Kỳ bị Pháp chinh phục trước tiên, là xứ thuộc địa. Trung Kỳ, Cao Miên, Ai Lao là nước bảo hộ, có quốc vương. Bắc Kỳ là Territory (khu quản hạt).

    Toàn bộ chính quyền Đông Dương nằm trong tay Toàn quyền người Pháp. Mỗi vùng có một Khâm sứ người Pháp. Mỗi tỉnh có một Công sứ người Pháp. Ngoài ra, còn có người bản xứ làm tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện, v. v.. do người Pháp uỷ nhiệm.

    4. Tài nguyên:

    Nam Kỳ sản xuất nhiều lúa gạo nhất. Mỗi năm xuất khẩu khoảng từ 1500 đến 1800 tấn. Bắc Kỳ nhiều nhất là khoáng sản. Mỗi năm sản xuất 2 triệu tấn than. Các kim loại đều có. Còn các vùng khác thì đất xấu, dân nghèo.

    5. Nạn bóc lột:

    Ruộng vườn nhà cửa, các việc ma chay cưới xin, sinh con đẻ cái, các loại gia súc 1) , nhất nhất đều phải nộp thuế. Nam từ mười bảy, mười tám đến năm mươi lăm tuổi, hằng năm phải nộp thuế thân, từ hai đồng đến mười hai đồng. Sau khi nộp thuế, mỗi người được phát một tấm thẻ ghi rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, hình dạng, có lý trưởng và tỉnh trưởng Pháp ký tên đóng dấu. Thẻ đó, ai cũng phải mang theo người. Nếu không sẽ bị bắt giữ. Người Pháp lợi dụng cách đó để ngăn chặn những người cách mạng hành động.

    6. Quốc phòng:

    Quân số không rõ, có khoảng chừng ba vạn lính. Phần lớn là lính bản xứ. Một số ít là "lính lê dương". "Lính lê dương" không phải là người Pháp, mà người quốc tịch nào cũng có. Họ đều là những tù nhân chạy trốn. Quân lính đóng ở các thành phố lớn và vùng biên giới. Máy bay rất ít. Lực lượng hải quân cũng yếu ớt. Theo mật thám Nhật Bản nói: chỉ cần hai sư đoàn là đủ để chinh phục Đông Dương.

    Do đối xử không công bằng - lính bản xứ không được làm sĩ quan, đời sống lại rất khổ - cho nên họ rất ghét người Pháp.

    7. Phong trào giải phóng:

    Nổi tiếng nhất có:

    - Sau năm 1880: ở Trung Kỳ, có "Khởi nghĩa văn thân" do Phan Đình Phùng lãnh đạo. ở Bắc Kỳ, có du kích chiến của Hoàng Hoa Thám. Đến năm 1912, Hoàng Hoa Thám bị ám sát, khởi nghĩa mới bị dập tắt 2) .

    - Năm 1908: Nông dân Trung Kỳ bạo động.

    - Năm 1910: Binh lính Hà Nội mưu đánh chiếm Hà Nội.

    - Năm 1915: Nhân cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, vua An Nam khởi nghĩa ở Trung Kỳ. ở Bắc Kỳ, binh lính Thái Nguyên khởi nghĩa, do một chính trị phạm lãnh đạo. Thổ dân vùng thượng du Bắc Kỳ cũng nổi dậy.

    - Đầu năm 1930: Việt Nam Quốc dân đảng khởi nghĩa ở Yên Bái (Bắc Kỳ).

    - Năm 1930 - 1931: Nông dân Trung Kỳ thành lập Xôviết, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

    - Sau năm 1936, có phong trào của Mặt trận Dân chủ.

    8. Các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ:

    - Công nhân: ở Bắc Kỳ, công nhân mỏ than chiếm tuyệt đại đa số. Thứ đến công nhân đồn điền ở Nam Kỳ, rồi đến công nhân đường sắt, công nhân xưởng công binh Sài Gòn, công nhân dệt, v.v.. Tổng cộng không đến một triệu người. Họ tuy không có quyền tự do tổ chức công hội, nhưng trong hai thời kỳ 1930-1931 và 1936-1939, họ đấu tranh rất mạnh mẽ.

    - Nông dân: Những năm 1930-1931, nông dân Nam Kỳ và Trung Kỳ tổ chức (bí mật) rất tốt, đấu tranh rất dũng cảm. Bắc Kỳ chỉ có một số ít tỉnh có tổ chức và đấu tranh. Sau này, nông dân Trung Kỳ đã phải lùi bước vì bị khủng bố gắt gao. Hiện tại, nông dân Nam Kỳ đoàn kết tốt hơn so với các địa phương khác.

    Công nhân, nông dân đương nhiên là rất căm ghét người Pháp.

    - Trí thức: Từ học trò đến công chức, thầy thuốc, vì có trình độ văn hoá tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với người Pháp, hai vì họ bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét người Pháp. Song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ "dám nghĩ mà không dám nói".

    - Tiểu thương: Thương nghiệp lớn đều nằm trong tay người Pháp, cỡ nhỏ hơn trong tay Hoa kiều. Người Việt Nam chỉ buôn bán nhỏ. Họ không ngoi lên được bởi các thứ thuế má nặng nề, do đó họ cũng rất căm ghét người Pháp, đồng tình với cách mạng.

    - Giai cấp tư sản dân tộc: Trong người Việt không có ai làm chủ nhà máy lớn, chủ hiệu buôn lớn hoặc chủ nhà băng như người Trung Quốc. Họ thường chỉ là những chủ xưởng nhỏ như xưởng rượu, xưởng xay sát lúa gạo, xưởng in. Lúc bị chèn ép, họ oán người Pháp. Khi phong trào công nhân lên mạnh, họ sợ cách mạng. Nhưng trong số đó cũng có vài người giúp đỡ cách mạng. Thế lực của họ rất yếu ớt, không có tổ chức.

    - Quan lại, địa chủ: Họ tuy hai mà một, một mà hai. Quan lại lớn đồng thời là địa chủ lớn. Ví dụ, tỉnh trưởng tỉnh Hà Đông ở Bắc Kỳ, một mình y chiếm hai phần ba ruộng đất toàn tỉnh. Bọn này cùng với đế quốc Pháp sống dựa vào nhau. Địa chủ lớn ở Nam Kỳ có đoàn thể riêng: "Đảng lập hiến". Địa chủ các vùng khác không có tổ chức gì cả.

    - Vương công: như hoàng đế An Nam, quốc vương Cao Miên, v.v.. Tất nhiên họ là những rường cột phản động. Người Pháp lợi dụng họ làm bù nhìn để thi hành những luật pháp thời Trung cổ. Trước chiến tranh đế quốc lần thứ hai, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn có một chút quyền tự do, như tự do xuất bản; còn ở Trung Kỳ, Cao Miên, Lào, ngay cả chút tự do đó cũng không có.

    Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, như năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1915 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp.

    - Hoa kiều: Chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế ở Đông Dương. ở bất kỳ thành phố nào, nhỏ là quán cà phê, lớn là ngành buôn bán xay sát gạo, phần lớn đều là của họ. Số Hoa kiều có khoảng trên dưới 50 vạn người, đại đa số là người Quảng Đông và người Phúc Kiến. Họ đều có tổ chức "bang", như bang Quảng Đông, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam. Mỗi Hoa kiều là một "bang viên", không ai đứng ngoài. Và chính phủ Pháp cai trị dân Hoa kiều thông qua các "bang" này. Về mặt chính trị, Quốc dân đảng (Trung Quốc - ND) và Đoàn thanh niên Tam dân chủ nghĩa rất hoạt động. ở Nam Kỳ, công nhân Hoa kiều cũng rất hoạt động, có thời kỳ An Nam Cộng sản đảng có hơn vạn đảng viên là Hoa kiều.

    9. Các đảng phái:

    A- Đảng Lập hiến: Thành lập ở Nam Kỳ sau Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, là đảng của những địa chủ lớn. Họ không có cương lĩnh, điều lệ, thẻ đảng gì cả. Từ ngày thành lập chưa họp lần nào, nhưng lại có riêng một tờ nhật báo bằng tiếng Pháp. Mấy người tự xưng là lãnh tụ đứng ra kêu gào bênh vực Chính phủ Pháp, bênh vực quyền lợi của địa chủ.

    B- Tân Việt đảng: Tổ chức tại Trung Kỳ năm 1925, do một số trí thức đứng ra thành lập. Sau này, những phần tử tiến bộ đã gia nhập Đảng Cộng sản, số phần tử xấu bỏ chạy. Hiện không còn tồn tại nữa.

    C- Quốc dân đảng 20 : Do giai cấp tiểu tư sản - những thầy giáo, luật sư, v.v. tổ chức ra tại Bắc Kỳ năm 1927. Họ tuyên bố theo chủ nghĩa Tôn Trung Sơn, cũng tuyên bố sẽ hợp tác có điều kiện với người Pháp, ráo riết tuyên truyền vận động trong binh lính người bản xứ. Vì tổ chức không chặt chẽ, nhiều mật thám đã chui vào được, dẫn đến việc năm 1929 phần lớn đảng viên bị bắt. Thế là các lãnh tụ của đảng này tuyên bố: "Đánh cũng chết, không đánh cũng chết, phải quyết một phen sống mái!". Vào đầu năm 1930 họ làm bạo động ở Yên Bái (Bắc Kỳ). Tuy có nhiều binh lính bản xứ tự nguyện tham gia, nhưng vì tổ chức và lãnh đạo không tốt, cuộc bạo động đã nhanh chóng thất bại, rất nhiều người bị hy sinh. Một số lãnh tụ thứ yếu chạy sang Vân Nam, tiến hành công tác tổ chức bằng cách khủng bố và cưỡng ép. Họ mang súng lục và dao găm đến nhà Việt kiều rồi hỏi: "Anh có đồng ý gia nhập đảng của chúng tôi hay không?". Bị doạ dẫm như vậy, không ít người Việt sống ở Vân Nam đã trở thành đảng viên Quốc dân đảng. (Nhiệm vụ của đảng viên là đóng đảng phí, vâng lời các lãnh tụ). Do đó, có một thời kỳ, thế lực của họ ở Vân Nam rất lớn. Ví dụ, trong toa tàu trên tuyến xe lửa Vân Nam - Việt Nam, họ có hòm thư riêng của mình. Một lần, lãnh sự Pháp bí mật bắt cóc một đảng viên, dùng xe riêng đưa về Bắc Kỳ. Quốc dân đảng cử ngay một chiếc xe đi cướp lại đảng viên đó.

    Nhưng vì các lãnh tụ đảng này có thái độ ngang ngược quá đáng đối với Việt kiều như chửi mắng, chém đầu, nên ai cũng chán ghét. Lại vì chuyện họ giết một tên mật thám rồi chặt đầu ném trước lãnh sự quán Pháp, nên Chính phủ Pháp lợi dụng vấn đề này can thiệp với Chính phủ Vân Nam. Chính phủ Vân Nam đã trục xuất các lãnh tụ Quốc dân đảng. Từ đó, Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã.

    Gần đây, có vài ba người (trong đó có một người nghi là tay sai Pháp kiêm Hán gian, vì hắn không có nghề nghiệp gì mà sinh hoạt rất sang trọng) lợi dụng tình hình Hoa - Việt, đề nghị với tỉnh đảng bộ Côn Minh giúp đỡ sửa chữa và công bố một "Tuyên ngôn về thời cuộc" (Tuyên ngôn xem sau), cho phân phát truyền đơn "Kính cáo Việt kiều" bằng tiếng Việt. Hai tài liệu trên đây vừa xuất hiện thì bị các đảng viên cũ phản đối mạnh mẽ. Có mấy người tìm đến các đồng chí của chúng tôi, đề nghị giúp đỡ viết một Tuyên ngôn phản đối bản Tuyên ngôn trên.

    D- Đảng Cộng sản: Năm 1924, một vài thanh niên Việt Nam học ở trường quân sự Hoàng Phố và một số thanh niên Việt Nam sống ở Quảng Châu tổ chức ra "Tâm tâm đảng" với ý nghĩa "Tâm tâm tương ấn" 3) . Hành động đầu tiên cũng là hành động cuối cùng của họ là vụ nổ bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương khi y đến thăm Sa Diện 4) . ít lâu sau, đoàn thể này cải tổ thành "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội" 5) . Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đồng chí Nga ở Quảng Châu, "Hội Thanh niên" hoạt động rất sôi nổi. Nhiều đoàn viên tiên tiến đã tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng thời tổ chức nhiều lớp huấn luyện, cử người về nước tìm thanh niên đưa sang học. Học xong, đưa về nước công tác. Lúc này, cả ông Tưởng 6) , ông Tống 7) , ông Bạch 8) cũng có  sự giúp đỡ. Những học viên không về nước được, thì đưa vào học ở Trường quân sự Hoàng Phố. Từ đó, toàn Đông Dương, nhất là ở ba kỳ Nam, Trung, Bắc đều có tổ chức và hoạt động của "Hội Thanh niên".

    Năm 1927, Quảng Châu có chính biến, Lý Tế Thâm muốn tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi. Số học sinh Việt Nam ở Trường quân sự Hoàng Phố bị bắt giam một năm, sau khi được tha họ đều chạy sang phía Hồng quân. ở Việt Nam, "Hội Thanh niên" vẫn tiếp tục phát triển.

    Năm 1929, tại Hương Cảng, họ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Trong Đại hội, các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản, nhưng không được thông qua. Họ bèn rút khỏi hội nghị, về nước tổ chức "Đông Dương Cộng sản đảng".

    Mấy tháng sau, "Hội Thanh niên" Nam Kỳ cũng tổ chức ra "An Nam Cộng sản đảng".

    Đứng giữa hai "đảng", "Hội Thanh niên" Trung Kỳ và cánh tả của Tân Việt không biết đi đâu, theo đâu, bèn tổ chức ra "Cộng sản liên đoàn". Do đó, cùng một lúc trong một nước có ba "Đảng Cộng sản" không thống nhất được với nhau.

    Cuối năm 1929, tôi đến Hương Cảng, triệu tập một hội nghị. Kết quả đã thống nhất được ba "đảng" thành Việt Nam Cộng sản đảng, sau đổi tên thành "Đông Dương" Cộng sản đảng. Vì lúc này người Pháp ráo riết thi hành chính sách vơ vét thuộc địa để phục hưng nước Pháp nên nhân dân Việt Nam bị bóc lột rất nặng nề, lại vì các đồng chí chúng ta rất hăng hái và cố gắng, nên đã tổ chức được rất nhanh, rất tốt công nhân, nông dân và học sinh. ở Việt Nam, sau cuộc bạo động của Quốc dân đảng, Chính phủ Pháp đã thi hành triệt để chính sách khủng bố trắng, nhưng càng khủng bố thì quần chúng đấu tranh càng dũng cảm. Từ 1-5-1930, phong trào bãi công, bãi khoá, bãi thị, chống thuế lan rộng khắp cả nước; đến tháng 9, nông dân Trung Kỳ đã thành lập Xôviết trong một số huyện, nhất là ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Họ thực hiện các chế độ như chia ruộng đất, nam nữ bình quyền, phổ thông đầu phiếu, v.v.. Chính quyền của người Pháp lúc này không còn tồn tại ở nhiều thôn xã nữa. Chính phủ Pháp buộc phải dùng tàu bay, súng máy, "lính lê dương" giết sạch, đốt sạch khu Xôviết. Cả nước chìm ngập trong khủng bố trắng. Đảng viên và những phần tử tích cực trong quần chúng, gái trai già trẻ bị tàn sát kể tới hàng ngàn người, mười sáu ngàn người bị lưu đày sang Guyan (châu Mỹ) và các hoang đảo khác.

    Sau tháng 5-1931, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp.

    Sau năm 1933, Đảng dần dần khôi phục lại được tổ chức.

    Năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi, một số cải cách tiến bộ đã được thực hiện ở Đông Dương. Chẳng hạn, chấm dứt khủng bố trắng, nhiều tù chính trị được tha. Mặc dầu vẫn trong tình trạng bí mật hoàn toàn, nhưng công tác của Đảng có phần dễ dàng hơn.

    Sau Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng thi hành chính sách Mặt trận thống nhất, bắt đầu tổ chức "Mặt trận dân chủ Đông Dương". Tất cả những người Đông Dương có khuynh hướng dân chủ, chi bộ Bắc Kỳ của Đảng Xã hội Pháp, v.v. đều tham gia. Công nhân, nông dân tuy chưa được tự do tổ chức công hội, nông hội, song các tổ chức quần chúng như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v. cũng nhanh chóng lần lượt thành lập ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

    Đảng tuy bí mật, song báo chí của Đảng lợi dụng những danh nghĩa khác nhau đã công khai xuất bản. Sau năm 1938, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, báo Đảng hoàn toàn công khai và nhanh chóng trở thành những tờ báo có ảnh hưởng rộng lớn.

    Ở đây, chúng tôi cần nêu ra một đặc điểm rất lý thú của Đảng Cộng sản Việt Nam mà e rằng nhiều đảng anh em trên thế giới không có: Đảng có hai loại đảng viên, đảng viên bí mật và đảng viên công khai. Những đồng chí trước đây bị bắt, bị tù đầy, được tha sau năm 1936, là những đảng viên công khai. Các đồng chí này công khai hoạt động, như phụ trách báo chí của Đảng, tham gia các phong trào quần chúng với danh nghĩa Đảng, lấy danh nghĩa cộng sản ứng cử vào các hội đồng dân biểu kỳ, tỉnh. Có người nhân danh chi bộ Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp để thực hiện các chính sách của chúng tôi. Do đó, không chỉ trong quần chúng công nông, mà trong nhân dân nói chung, ảnh hưởng của Đảng tương đối lớn. Ví dụ, các vị dân biểu trong "Viện dân biểu" Trung Kỳ vốn là nơi thế lực phong kiến mạnh nhất, cũng đều có sự gần gũi với chúng tôi.

    Từ năm 1937 đến tháng 9-1939, những cuộc thị uy của nông dân, bãi công của công nhân do Đảng lãnh đạo hầu như diễn ra liên tục.

    E. Đảng bảo hoàng: ở Bắc Kỳ có một đảng tên là Đảng bảo hoàng. Họ có một tờ báo riêng. Một số quan lại dựa vào thế lực của nhà vua để hoạt động. Họ không có ảnh hưởng gì. Trái lại, dân chúng nói chung rất coi thường họ.

    G. Phái tờrốtxkít: Vì quan hệ cá nhân: người lãnh đạo của phái này tên là Tạ Thu Thâu là một trí thức lưu học tại Pháp, văn chương rất bóng bẩy, có tài ăn nói, lại là một kẻ đạo đức giả, nguỵ quân tử, cho nên thanh niên và công nhân ở Sài Gòn chịu ảnh hưởng của phái này rất nặng. Song, trong nông thôn Nam Kỳ và ở các địa phương khác, họ không có thế lực.

    Tóm lại, chúng tôi có thể nói rằng, ở Đông Dương chỉ có Đảng Cộng sản là một chính đảng chân chính, có tính chất toàn quốc và có quần chúng.

    Muốn biết tình hình Việt Nam như thế nào từ sau khi bùng nổ cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ hai, xin xem phần phân giải dưới đây:

    TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU KHI CHIẾN TRANH CHÂU ÂU BÙNG NỔ

    1. Về chính trị. Chính phủ Pháp giải tán tất cả các đoàn thể quần chúng ở Việt Nam như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v.; đóng cửa các báo chí tương đối tiến bộ; bắt bớ giam cầm nhiều phần tử tiên tiến, nhất là thanh niên; tiếp tục tiến hành khủng bố trắng.

    2. Về kinh tế. Gia tăng mức thuế cũ, đặt ra nhiều loại thuế mới, giá cả sinh hoạt tăng vọt. Ngoài thuế má nặng nề, tăng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác, khiến dân chúng hết đường sống, lòng dân sôi sục căm hờn.

    3. Về quân sự. Phần lớn trai tráng, từ mười sáu đến năm mươi lăm tuổi đều bị lôi vào lính, đưa sang Cận Đông và Pháp. Có địa phương, bốn phần mười bị bắt đi. Đã phải xuất tiền, lại phải xuất người, cho nên dân chúng ngày càng bất bình.

    4. Về xã hội. ở Việt Nam vốn chẳng có cái gì gọi là bảo hiểm xã hội. Từ khi bùng nổ chiến tranh châu Âu, thời gian làm việc bị kéo dài, lương bị giảm, sức mua giảm sút. Lại thêm tình trạng bất kể là công nhân hay viên chức, động chạm đến Chính phủ Pháp là bị xét xử theo quân luật. Sống dưới sự áp bức bóc lột tàn khốc như vậy, dù là sĩ nông công thương, ai cũng căm thù ách thống trị của người Pháp, ai cũng có tâm lý "tao với mày cùng chết".

    Thêm nữa, người Pháp nào mở miệng cũng nói nước Pháp hùng mạnh thế này thế nọ, quân Pháp anh dũng thế này thế nọ, Pháp sẽ thắng lợi thế này thế nọ, nên từ ngày nước Pháp buộc phải đầu hàng Đức thì uy tín của người Pháp đã bay lên quá chín tầng mây, còn người Việt Nam trong lòng không ai là không mừng rỡ. Không hiếm người muốn lợi dụng cơ hội này đánh đổ ách thống trị của người Pháp. Chỉ vì không có người tổ chức và lãnh đạo họ. Vì sao Đảng Cộng sản không tổ chức và lãnh đạo họ? Vì tám chín phần mười số cán bộ cũ đã bị bắt. Cán bộ mới thì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ lực lượng. Ngoài ra, còn một vấn đề nữa muốn kêu gọi toàn dân đứng lên phải có người đủ uy tín danh vọng, nói được làm được đi tiên phong thì mới có kết quả.

    TÌNH HÌNH SAU KHI PHÁP ĐẦU HÀNG ĐỨC

    Tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều! Việt Nam là Việt Nam của ai đây?

    Đức - với tư cách là nước chiến thắng, đương nhiên sẽ coi Việt Nam là Việt Nam của nước Đức.

    Anh - vì nó thu nhận "Uỷ hội quốc gia Pháp" 9) , nên cũng cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành Việt Nam của nước Anh. Trung tuần tháng 6, hải quân Anh đã dự định làm một cuộc "diễu hành thị uy vui vẻ" với Pháp ở Sài Gòn. Nghe nói sau này không diễu hành nữa.

    Mỹ - vì vấn đề Philíppin, Mỹ tỏ ra ghen ăn trước việc Nhật chiếm Việt Nam. Gần đây, họ thường nói đến "chủ nghĩa Mônrô", việc nhòm ngó Thái Bình Dương là bước mở đầu của Mỹ.

    Trung Quốc - có người chủ trương: phía Pháp không thể bảo vệ được Việt Nam, Trung Quốc nên xuất binh thay Pháp bảo vệ Việt Nam để chống Nhật.

    Nhật Bản - hiện đang mưu toan nhanh chóng chiếm Việt Nam. Nó đã hoàn thành bước thứ nhất: một mặt chiếm Trấn Nam Quan, từ cứ điểm này, nội trong ba tiếng đồng hồ, quân Nhật đã có thể tới được Hà Nội. Một mặt, phái hạm đội tuần phòng vịnh Đông Điều, sẵn sàng đổ bộ lên Hải Phòng dễ như trở bàn tay. Mặt khác, dùng hải lục không quân uy hiếp các thành phố, các ga xe lửa quan trọng ở Bắc Kỳ, thực hiện việc phong toả Trung Quốc, đồng thời giám sát hành động của Chính phủ Pháp và người Việt Nam. Nghe nói, Bộ lục quân Nhật Bản đề nghị dùng vũ lực để nhanh chóng chiếm lấy Việt Nam.

    Chính phủ Pháp ở Đông Dương tuy tuyên bố không thừa nhận Chính phủ Pêtanh, phục tùng "Uỷ hội quốc gia Pháp" ở Luân Đôn và kháng chiến đến cùng. Nhưng đối với Nhật Bản thì răm rắp nghe theo. Ví dụ: Họ ngoan ngoãn chấp hành việc phong toả Trung Quốc. (Có một người từ Hà Khẩu sang Lào Cai, mua một cân bột mỳ. Lúc trở về, lính Pháp nói với anh ta: "Mày phải ăn hết bột mỳ rồi hãy đi. Nếu mày mang bột mỳ sang qua cầu, tao sẽ bắn chết mày!". Họ gửi quà uý lạo quân Nhật đóng ở Trấn Nam Quan. Không những cho phép máy bay Nhật được quyền lên xuống sân bay Hà Nội mà còn đồng ý cho Nhật được sử dụng máy bay của Pháp, v.v.. Còn đối với người Việt Nam, Chính phủ Pháp tiếp tục thi hành chính sách khủng bố trắng.

    ý định của Chính phủ Pháp là: Nếu phải giao Việt Nam cho Đức hoặc phải trả lại cho người Việt Nam thì chi bằng dâng Việt Nam cho Nhật Bản tốt hơn.

    Còn người Việt Nam đối với Nhật thì thế nào? Vì họ đã quá căm ghét người Pháp, lại vì không được nghe, được biết những tội ác hãm hiếp, tàn sát của người Nhật ở Trung Quốc, nên họ nghĩ rằng nếu không được tự do độc lập, bọn quỷ vàng có đến cũng còn hơn quỷ Pháp. Cũng có người nghĩ rằng: Chúng ta nên lợi dụng cơ hội rối ren này mà dấn lên, thành bại ra sao, chưa cần tính tới.

    ĐỘNG CƠ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI

    1. Cơ sở của chủ nghĩa đế quốc Pháp đã tan rã. Chúng không còn lực lượng giải quyết công việc của Việt Nam. Đức, ý tuy cho phép Pháp giữ lại lực lượng hải quân để bảo vệ thuộc địa của nó, nhưng xung đột của hải quân Anh, Pháp khiến hải quân Pháp không thể hoạt động tại Viễn Đông. Huống hồ, tàn quân sau đại bại, về tinh thần cũng như về vật chất, đều không đáng kể.

    2. Đức hiện nay đang dốc toàn lực ra để đối phó với Anh - Mỹ và giải quyết vấn đề Pháp, Hà Lan, v.v. chưa thể quan tâm nhiều tới các thuộc địa tương lai.

    3. Nhật tuy hung hăng, nhưng đại bộ phận thực lực của nó đã bị kiềm chế do cuộc kháng chiến của Trung Quốc, cũng không thể dốc toàn lực ra để chinh phục Việt Nam.

    4. Lực lượng vũ trang của Pháp ở Việt Nam, phần lớn là binh lính người Việt. Binh lính người Việt vốn có truyền thống cách mạng. Vụ bạo động ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái là những ví dụ. Nếu chúng ta biết khéo léo kêu gọi, thì họ - ít nhất là một bộ phận- có khả năng quay súng chống lại Pháp (hoặc chống lại Nhật).

    5. Lực lượng của chúng tôi hiện nay tuy chưa thể tính toán được, nhưng quân đồng minh hiện có của chúng tôi rất mạnh. Ngoài Liên Xô, phía tây có ấn Độ, phía đông có khu giải phóng rộng lớn của Trung Hoa.

    6. Nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ.

    Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hy vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan - lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trải qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như "rắn không đầu", không thể tận dụng cơ hội tốt "nghìn năm có một".

    Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra, chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được:

    (1) Tự do hành động ở biên giới.

    (2) Một ít súng đạn.

    (3) Một chút kinh phí.

    (4) Vài vị cố vấn, thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật - đó là hy vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này.

                                          12-7-40

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 162-174.  

    Năm 1941

     

     NĂM 1941 (*)

    PÁC BÓ HÙNG VĨ

    Non xa xa, nước xa xa.

    Nào phải thênh thang mới gọi là.

    Đây suối Lênin, kia núi Mác.

    Hai tay xây dựng một sơn hà .

    .

    Tháng 2 năm 1941

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.195.

    ______________________________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

     

     

     

    TỨC CẢNH PÁC BÓ

    Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

    Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

    Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

    Cuộc đời cách mạng thật là sang.

    Tháng 2 năm 1941

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.196.

    _____________

    1) Hồi ở Pác Bó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng  sản (b) Liên Xô ra tiếng Việt làm tài liệu học tập cho cán bộ cách mạng. 

     

     

     

     

    KÍNH CÁO ĐỒNG BÀO

     Hỡi các bậc phụ huynh!

    Hỡi các hiền nhân, chí sĩ!

    Hỡi các bạn, sĩ, nông, công, thương, binh!

    Pháp đã mất nước cho Đức. Thế lực của chúng ở ta đã điêu tàn. Song đối với chúng ta, chúng tăng sưu tăng thuế để vơ vét tài sản. Chúng khủng bố trắng để giết hại nhân dân. Đối với ngoài, chúng im hơi lặng tiếng, cắt đất cho Xiêm, chúng quỳ gối chắp tay đầu hàng Nhật Bản. Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật.

    Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không?

    Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!

    Bảy tám mươi năm nay dưới quyền thống trị của giặc Pháp, chúng ta luôn luôn tranh đấu giành quyền độc lập tự do. Tấm gương oanh liệt của các bậc lão tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến còn treo đó. Tinh thần anh dũng của các liệt sĩ ở Thái Nguyên, Yên Bái, Nghệ An hãy còn đây.

    Những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ23, Bắc Sơn, Đô Lương vừa rồi đã tỏ rằng: Đồng bào ta quyết nối gót người xưa, phấn đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích.

    Việc lớn chưa thành không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm.

    Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta.

    Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh- Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều:

    Toàn dân đoàn kết.

    Hỡi đồng bào! Hãy noi gương vĩ đại của dân Tàu, tổ chức những hội cứu quốc chống Pháp, chống Nhật.

    Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời nhà Trần trước hoạ giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc.

    Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương!

    Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng.

    Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề.

    Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!

    Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

    Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

    Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!

    Thế giới cách mạng thành công muôn năm!

                           Ngày 6 tháng 6 năm 1941

    NGUYỄN ÁI QUỐC

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.197-198.

     

     

     

     

    MƯỜI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT MINH

    Việt Nam độc lập đồng minh

    Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây.

    Quyết làm cho nước non này,

    Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:

    Làm cho con cháu Rồng, Tiên,

    Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta.

    Có mười chính sách bày ra,

    Một là ích nước, hai là lợi dân.

    Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,

    Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.

    Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,

    Họp hành, đi lại, có quyền tự do.

    Nông dân có ruộng, có bò,

    Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.

    Công nhân làm lụng gian nan,

    Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.

    Gặp khi tai nạn bất ngờ,

    Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho.

    Thương nhân buôn nhỏ, bán to,

    Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.

    Nào là những kẻ chức viên,

    Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.

    Binh lính giữ nước có công,

    Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.

    Thanh niên có trường học nhiều,

    Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho.

    Đàn bà cũng được tự do,

    Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.

    Người tàn tật, kẻ lão niên,

    Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho.

    Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,

    Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy.

    Muốn làm đạt mục đích này,

    Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.

    Sao cho từ Bắc chí Nam,

    Việt Minh hội có muôn vàn hội viên.

    Người có sức, đem sức quyên,

    Ta có tiền của, quyên tiền của ta.

    Trên vì nước, dưới vì nhà,

    ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.

    Chúng ta có hội Việt Minh

    Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh.

    Rồi ra sự nghiệp hoàn thành,

    Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng.

    Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

    Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

    Năm 1941

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.205-206.

     

     

     

    THẾ GIỚI ĐẠI CHIẾN VÀ PHẬN SỰ DÂN TA 

    Từ ngày 8 tháng 12 tây (20 tháng 10 ta), Anh, Mỹ và nhiều nước khác đã bắt đầu đánh Nhật. Thế là chiến tranh lan khắp thế giới. Trong cuộc thế giới đại chiến 26 này có hai phe. Phe đi xâm lấn gồm có Đức, ý, Nhật, Tây. Phe chống xâm lấn gồm có Nga, Tàu, Anh, Mỹ và nhiều nước khác.

    Phi Luật Tân, Hương Cảng, Tân Gia Ba, Mã Lai và nhiều nơi khác đã hoá ra chiến trường. Ngoài bể Thái Bình Dương, tàu trận các nước đã đánh nhau lung tung. Nạn binh lửa nay mai sẽ lan tới Sài Gòn, Cam Ranh, Hải Phòng, Hà Nội và các nơi. Dân ta sẽ bị chết người, hại của.

    Vì ai nên nỗi nước này?

    Vì giặc Nhật, vì giặc Tây đó mà!

    Vì giặc Nhật và giặc Tây mà nước ta biến thành chiến trường. Nhà vườn của ta sẽ bị đốt phá. Của cải của dân ta sẽ bị cướp giựt. Dân sự của ta sẽ bị tan tành. Nhất là tỉnh Cao Bằng ta sẽ bị thiệt hại nhiều.

    Thế thì dân ta nên làm sao để tránh khỏi cái nạn ấy? Dân ta nên làm 2 việc:

    1 là - Bất kỳ quân đội nào tới gần vùng mình, dân ta phải làm cách "nhà không vườn trống" nghĩa là: bao nhiêu của cải, đồ ăn, đồ dùng, lương thực, súc vật đều đem giấu kín hết. Bao nhiêu đường sá, cầu cống đều phá hết. Người già, trẻ con, đàn bà con gái, đều tìm nơi chắc chắn mà trốn hết. Trai tráng thì phải ở lại trong làng, phải cùng nhau tổ chức đội tự vệ để canh phòng trộm cướp; các làng phải giúp sức lẫn nhau. Bao giờ quân đội tới gần làng, trai tráng sẽ tránh đi, chớ để cho chúng bắt phu. Chỉ bao giờ Việt Minh có lệnh giúp cho quân đội nào thì dân ta sẽ giúp quân đội ấy.

    2 là - Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào "Nông dân Cứu quốc hội". Thanh niên phải vào "Thanh niên Cứu quốc hội". Phụ nữ vào "Phụ nữ Cứu quốc hội". Trẻ con vào "Nhi đồng Cứu quốc hội". Công nhân vào "Công nhân Cứu quốc hội". Binh lính vào "Binh lính Cứu quốc hội". Các bậc phú hào văn sĩ vào "Việt Nam Cứu quốc hội".

    Những hội ấy do Việt Nam độc lập đồng minh lãnh đạo. Người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức. Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.

    Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!!!

      

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.208-209.  

    Năm 1942

     

     NĂM 1942 (*)  

    NÊN HỌC SỬ TA

    Dân ta phải biết sử ta,

    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

    1. Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời.

    2. Trước khi vua Gia Long bán nước ta cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước.

    Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

    Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh đông dẹp bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

    Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

    Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

    Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở á Đông.

    Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều; con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa.

    Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người oanh liệt đứng lên khởi nghĩa đánh Tây như ông Phan Đình Phùng, ông Hoàng Hoa Thám, vân vân.

    3. Sử ta dạy cho ta bài học này:

    Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

    Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

    Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây - Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do 1) . 

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.216-217.

    _______________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

    1) Cuối bài này có ghi thêm: "Vừa mới xuất bản quyển "Sử nước ta" bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương". 

     

     

     

     

     

    LỊCH SỬ NƯỚC TA 

    Dân ta phải biết sử ta,

    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

    Kể năm hơn bốn ngàn năm,

    Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.

    Hồng Bàng là tổ nước ta.

    Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

    Thiếu niên ta rất vẻ vang,

    Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.

    Tuổi tuy chưa đến chín mười,

    Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.

    An Dương Vương thế Hùng Vương,

    Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

    Nước Tàu cậy thế đông người,

    Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam,

    Quân Tàu nhiều kẻ tham lam.

    Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

    Hai Bà Trưng có đại tài,

    Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,

    Ra tay khôi phục giang san,

    Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.

    Tỉnh Thanh Hoá có một bà,

    Tên là Triệu ẩu tuổi vừa đôi mươi, 

    Tài năng dũng cảm hơn người,

    Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.

    Phụ nữ ta chẳng tầm thường,

    Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,

    Kể gần sáu trăm năm giời,

    Ta không đoàn kết bị người tính thôn 1) .

    Anh hùng thay ông Lý Bôn,

    Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,

    Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.

    Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.

    Vì Lý Phật Tử ngu hèn,

    Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.

    Thương dân cực khổ xót xa,

    Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,

    Vì dân đoàn kết chưa sâu,

    Cho nên thất bại trước sau mấy lần.

    Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,

    Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

    Đến hồi Thập nhị sứ quân 2)

    Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.

    Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,

    Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.

    Ra tài kiến thiết kinh dinh,

    Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.

    Lê Đại Hành nối lên ngôi.

    Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.

    Vì con bạo ngược hoành hành,

    Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.

    Công Uẩn là kẻ phi thường,

    Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.

    Mở mang văn hoá nước nhà,

    Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.

    Lý Thường Kiệt là hiền thần,

    Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.

    Tuổi già phỉ chí công danh,

    Mà lòng yêu nước trung thành không phai.

    Họ Lý truyền được chín đời,

    Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.

    Nhà Trần thống trị giang san,

    Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,

    Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:

    Đánh đâu được đấy, dông dài á, Âu,

    Tung hoành chiếm nửa Âu châu,

    Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,

    Lăm le muốn chiếm nước ta,

    Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,

    Hải quân theo bể kéo đi,

    Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen 3)

    Dân ta nào có chịu hèn,

    Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.

    Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,

    Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,

    Mênh mông một giải Bạch Đằng,

    Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,

    Hai lần đại phá Nguyên binh,

    Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.

    Quốc Toản là trẻ có tài,

    Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,

    Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,

    Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.

    Thật là một đấng anh hùng,

    Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.

    Đời Trần văn giỏi võ nhiều,

    Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.

    Mười hai đời được hiển vinh,

    Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.

    Cha con nhà Hồ Quý Ly,

    Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.

    Tình hình trong nước không yên,

    Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,

    Bao nhiêu của cải trân châu,

    Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.

    Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,

    Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.

    Mấy phen sông Nhị núi Lam,

    Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.

    Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,

    Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.

    Mười năm sự nghiệp hoàn thành,

    Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.

    Vì dân hăng hái kết đoàn, 

    Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.

    Vua hiền có Lê Thánh Tôn,

    Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.

    Trăm năm truyền đến cung hoàng,

    Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi

    Bấy giờ trong nước lôi thôi,

    Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà,

    Bảy mươi năm nạn can qua 4)

    Cuối đời mười sáu 5) Mạc đà suy vi.

    Từ đời mười sáu 5) trở đi,

    Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu 6)

    Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,

    Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.

    Dân gian có kẻ anh hùng,

    Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,

    Đóng đô ở đất Quy Nhơn,

    Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền 7)

    Nhà Lê cũng bị mất quyền,

    Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.

    Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

    Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,

    Ông đà chí cả mưu cao,

    Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

    Cho nên Tàu dẫu làm hung,

     Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.

    Tướng Tây Sơn có một bà,

    Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,

    Tay bà thống đốc ba quân,

    Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.

    Gia Long lại dấy can qua,

    Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.

    Tự mình đã chẳng có tài,

    Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.

    Nay ta mất nước thế này,

    Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,

    Khác gì cõng rắn cắn gà,

    Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.

    Từ năm Tân Hợi trở đi,

    Tây đà gây chuyện thị phi 8) với mình.

    Vậy mà vua chúa triều đình,

    Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.

    Nay ta nước mất nhà tan

    Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.

    Năm Tự Đức thập nhất niên 9) ,

    Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.

    Hăm lăm năm sau trận này,

    Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,

    Ngàn năm gấm vóc giang san,

    Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

    Tội kia càng đắp càng đầy,

    Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.

    Nước ta nhiều kẻ tôi trung,

    Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.

    Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,

    Cùng thành còn mất làm gương để đời.

    Nước ta bị Pháp cướp rồi,

    Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;

    Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng

    Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.

    Mấy năm ra sức Cần Vương 10) ,

    Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,

    Giang san độc lập một miền,

    Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.

    Anh em khố đỏ, khố xanh,

    Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,

    Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,

    Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.

    Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An

    Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.

    Nam Kỳ im lặng đã lâu,

    Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.

    Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!

    Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.

    Xét trong lịch sử Việt Nam,

    Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.

    Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,

    Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.

    Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,

    Vì ta chỉ biết lo yên một mình.

    Để người đè nén, xem khinh,

    Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!

    Bây giờ Pháp mất nước rồi,

    Không đủ sức, không đủ người trị ta.

    Giặc Nhật Bản thì mới qua,

    Cái nền thống trị chưa ra mối mành.

    Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,

    Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.

    Ấ y là nhịp tốt cho ta,

    Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.

    Người chúng ít, người mình đông

    Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.

    Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!

    Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.

    Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,

    Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.

    Người giúp sức, kẻ giúp tiền,

    Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.

    Trên vì nước, dưới vì nhà,

    ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.

    Chúng ta có hội Việt Minh

    Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh

    Mai sau sự nghiệp hoàn thành 

    Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng

    Dân ta xin nhớ chữ đồng:

    Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

    NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG 11)

    Trước Tây lịch

    Năm

    2879 Hồng Bàng

    111   Tàu lấy nước ra lần đầu

    Sau Tây lịch

    40   Hai Bà Trưng đánh Tàu

    248    Bà Triệu ẩu khởi nghĩa

    544    Vua Lý đánh Tàu

    603    Tàu lấy nước ta.

    939    Vua Ngô khởi nghĩa

    968    Đời vua Đinh (12 năm)

    981    Đời vua Tiền Lê (29 năm)

    1010  Đời vua Hậu Lý (215 năm)

    1073  Lý Thường Kiệt đánh Tàu

    1225  Đời vua Trần (175 năm)

    1283  Trần Hưng Đạo đánh Tàu

    1407 Tàu lấy nước ta

    1427 Vua Lê khởi nghĩa 

    1543  Đời vua Hậu Lê (360 năm)

    1545  Vua Lê Chúa Trịnh

    1771  Đời vua Tây Sơn (24 năm)

    1789  Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu

    1794  Gia Long thông với Tây

    1847  Tây bắt đầu đánh nước ta

    1862  Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây

    1889 Ông Đề Thám khởi nghĩa

    1893  Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa

    1916  Trung Kỳ khởi nghĩa

    1917  Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa

    1930  Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa

    1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa

    1941  Nam Kỳ khởi nghĩa

    1945  Việt Nam độc lập 12)

    ________________

    1) Tính thôn là nuốt sống. (Chú thích có kèm theo * là của nguyên bản). 

    2) 12 tướng nổi lên giữ 12 vùng. 

    3) Nen: Trong bản in lần thứ hai sửa thành nêm. 

    4) Can qua là chiến tranh. 

    5) Thế kỷ 16. 

    6) 216 năm. 

    7) Trao ngược. 

    8) Thị phi là lôi thôi. 

    9) Tự Đức thập nhất niên là năm 1858. Đó là năm thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Trong phần Những năm quan trọng, có ghi "Năm 1847... Tây bắt đầu đánh ta". ở đây, tác giả nói đến sự kiện hai chiến hạm Pháp vào vùng bể Đà Nẵng đã ngang nhiên bắn đắm mấy chiến thuyền Việt Nam. 

    10) Cần Vương là giúp vua Hàm Nghi đánh Tây. 

    11) In theo đúng nguyên bản. 

    12) Năm 1945 là tác giả đoán trước. 

     

     

     

     

     

    CHIẾN THUẬT DU KÍCH

    Quyển II

    I

    MỤC ĐÍCH CỦA CHIẾN THUẬT DU KÍCH 

    Mục đích của chiến thuật du kích giải thích theo ý nghĩa sâu rộng của nó là cốt để hoàn toàn tiêu diệt địch nhân, giành quyền độc lập cho dân tộc, xứ sở, nhưng ta giải thích theo ý nghĩa thấp hơn, eo hẹp hơn, thì nó cốt để:

    1- Khám phá sự bố trí công binh của bên địch, đôi khi biết cả mưu mô của bên địch nữa.

    2- Cướp đoạt khí giới, đạn dược, lương thực, thuốc men, v.v. bên địch do hậu phương vận tải đến.

    3- Khiên chế 1) địch nhân và dụ địch nhân đi sâu vào nơi quân ta đã định.

    4- Đốt và phá huỷ các khu khí giới, đạn dược, nguyên liệu, binh công xưởng và các thứ phòng thủ của bên địch.

    5- Phá hoại các đường giao thông vận tải, các bóp gác, các điếm canh, v.v..

    6- Dùng mỗi toán quân nhỏ đánh úp hoặc đánh đội quân lớn của bên địch.

    7- Mặc dầu đất đai của ta đã bị địch nhân chiếm giữ từ lâu, nhưng ta chớ bi quan, nhờ có tinh thần c.m 2) chiến đấu vô địch, sẽ đánh thắng địch nhân, sẽ đánh đuổi quân địch ra khỏi bờ cõi.

    8- Dùng phương pháp đánh úp, mai phục, hoặc đánh chớp nhoáng thiệt mau làm cho quân địch hoảng khiếp, dao động, làm cho quân ta chiến thắng quân địch một cách dễ dàng. 

    II

    SỰ CHIẾN ĐẤU CỦA ĐỘI DU KÍCH 

    A. Nguyên tắc chiến đấu

    1. Tránh đánh nơi "kiên cố"

    Nếu như địch nhân đóng cổng thành hoặc đồn trại để tự vệ, hoặc đóng chiếm nơi hiểm yếu chống lại, thì trừ khi chúng ta có đủ điều kiện chiến thắng ra, rất không nên tiến công bên địch. Vì tiến công như vậy mất nhiều ngày giờ, sự thiệt hại của ta nhất định nhiều hơn bên địch. Vả lại trong các cuộc chiến tranh du kích, pháo binh của ta chưa có đầy đủ, hoặc chưa có nữa là khác, như vậy cứ cố đánh liều chỉ tổ tiêu hao lực lượng của mình thôi, vả lại, cần chú ý là không dễ dàng bốn mặt bao vây địch nhân. Vấn đề này cần suy xét cho kỹ, bằng không thì phạm phải tội "đánh liều", hy sinh vô ích. Đấy là một việc rất quan trọng mà quân du kích phải luôn luôn chú ý.

    2. Không đánh những trận gay gắt khó khăn

    Không nên đánh những trận mà ta không chắc chắn thắng lợi mười mươi. Vì nếu như ta tiêu diệt được địch nhân một nghìn, ta mất 8 trăm, như vậy tức không đáng kể. Vì sự bổ sung người và đạn dược của ta hết sức khó khăn, nếu như đánh được vài trận mà ta hao tổn quân lính và đạn dược nhiều, sự thắng lợi không đủ bù vào chỗ thiệt hại, đấy tức là ta thất bại.

    Ta mất một được mười, được trăm nghìn như thế mới gọi là thắng lợi.

    3. Không rõ địch tình, không đánh

    Quân ta đóng ở một nơi, đột nhiên thấy quân địch tới, nếu không rõ quân địch có bao nhiêu người, ở đâu tới thì không được đánh, phải mau mau rút ngay đi nơi khác, đi xa nơi đó chừng 2, 3 chục cây số gì đó ...

    Nếu địch nhân đến gần quá rồi, không thể tránh khỏi sự xung đột nữa, thì tốt hơn là phái một ít quân mai phục chống lại để che chở cho đại đội rút lui. Vì quân địch tới tiến công ta nhất định binh lực mạnh hơn và có kế hoạch đường hoàng, ta chớ mắc mưu.

    Địch mạnh, ta thoái, như thế có lợi cho ta. Nếu địch nhân yếu thế mà ta thoái, chẳng qua chỉ làm cho quân sĩ mỏi mệt một ít thôi, ta quay lại đánh chúng cũng chưa muộn.

    4. Liên hiệp dân chúng để phong toả và đánh úp địch quân

    Khi địch nhân bủa vây ta, chúng ta cần phải liên lạc với dân chúng các nơi, thực hành đoạn tuyệt 3) các ngả đường giao thông của bên địch, làm cho địch nhân không biết quân ta đã tới gần sát, lợi dụng lúc ban đêm hay tờ mờ sáng, đánh lui địch quân. Hoặc liên lạc dân chúng, đội tự vệ các nơi chừng 1, 2 trăm người hay 3, 4 trăm người chia làm nhiều toán (nếu ít 3, 4 chục cũng được) cầm cờ C.M 4) đến chiếm các ngọn núi, các làng, các chợ, rồi dùng thanh la, trống, giáo mác, súng kíp hoả mai, kèn, pháo, v.v., khua chuông, gõ mõ, gào thét ầm ĩ, làm vang dội khắp các ngọn núi, các làng..., làm cho quân địch hỗn loạn và sợ hãi, hay cả ngày lẫn đêm bắn súng khắp bốn bên, làm cho quân địch hoảng sợ, tinh thần mỏi mệt, rồi sau đó, xuất kỳ bất ý dùng chủ lực quân đánh thốc vào bên sườn đặng tiêu diệt quân địch.

    5. Cách đánh úp của đội du kích

    Trong cuộc chiến tranh, có giá trị nhất và làm cho bên địch đau đớn nhất là cách đánh úp. Vô luận ở cách địch nhân gần hay xa, nhất là lúc địch nhân ở cách ta khoảng chừng 2, 3 chục cây số chẳng hạn, sự canh phòng nhất định sơ hở. Lúc bấy giờ, ta có thể đem một đội quân nhỏ lợi dụng đêm tối, đeo xách nhẹ nhàng đi thật mau chóng, một đêm hay một ngày tới nơi đó, xuất kỳ bất ý đánh úp thật mau đặng tiêu diệt địch quân, đánh như thế rất có lợi.

    6. Tránh chỗ rắn, nắn chỗ mềm

    Quân địch tới đánh ta, ta không nên khai chiến với chúng, tốt hơn hết là dùng phương pháp đi vòng quanh, đi sang phía không có quân địch đóng giữ. Nên tìm những con đường tắt hẻo lánh mà đi, làm cho địch nhân không biết lối nào mà đuổi được, đồng thời đi đến đâu, phải dùng đủ phương pháp liên lạc với dân chúng, để quần chúng làm những việc trinh thám ở hậu phương quân ta đi qua để khỏi bị quân địch đằng trước, đằng sau vây đánh quân ta.

    Nếu như có địch nhân đuổi theo ráo riết, trước mắt lại bị ngăn cản (như sông ngòi hay là toán quân địch đuổi theo ta mạnh), vì muốn thoát khỏi sự nguy hiểm, có thể phái một bộ đội nhỏ đi cách xa địch quân chừng độ một cây số chẳng hạn, đi thẳng lên đường cái để bên địch thấy thế đuổi theo. Lúc bây giờ, quân chủ lực ta theo con đường tắt chạy trốn; hoặc chờ khi đại đội quân địch đi qua, ta đánh thọc ngay vào giữa làm quấy nhiễu hậu phương quân địch, rồi tìm cách đánh úp chúng; hoặc phái một bộ đội nhỏ cùng với đội tự vệ dân chúng đường hoàng kéo đi làm cho địch nhân đuổi theo. Lúc đó, quân chủ lực ta núp ở trong bụi đánh ra, trước sau cùng đánh, bao vây bốn bên, đánh cho quân địch tan tành.

    7. Chỉ phương đông, đánh phương tây

    (Thanh đông, kích tây)

    Lợi dụng sự hỗn hợp của dân và quân đội, cố ý hợp thành những đội quân thật lớn, rồi dùng mưu này kế khác phao truyền sẽ đánh vào mặt này mặt nọ, cố ý đặt ra giảo ngôn. Lúc đó, mới huy động đội quân chủ lực đi sang một bên, hành động cực kỳ bí mật, xuất kỳ bất ý đánh úp một trận.

    Hoặc giả quân ta muốn đánh một nơi nào đó, không nên sừng sững kéo tới, giả vờ đi sang một phía khác, rồi đi được nửa đường, quay trở lại thật mau, dùng phương pháp nhanh như cắt đánh một trận đặng tiêu diệt quân địch.

    8. Cách đánh mai phục

    Nếu như địch nhân sừng sững kéo tới, chúng ta kiếm những nơi có địa hình hiểm trở, rồi phục binh ở đó tới khi địch nhân đi qua, đánh cho một trận kịch liệt, tiêu diệt địch quân.

    9. Cách đánh lén ngang đường

    Khi do thám biết rằng địch nhân thế nào cũng đi qua nơi ấy, thời phái một bộ đội nhỏ gồm có những tay thiện xạ ẩn núp ở bên núi cao, hay bên vệ đường hiểm yếu, hay núp trong bụi cây rậm rạp, chờ tới khi bộ phận trọng yếu bên địch đi qua, thì lăn đá bắn súng xuống, nhằm vào những viên quan chỉ huy quân địch mà bắn.

    B. Cách đối phó với địch nhân ưu thế

    1. Địch tiến, ta thoái

    Nếu như binh lực bên địch yếu hơn ta, thì không dám tiến đánh ta. Bởi vậy, khi quân địch tiến đánh ta, ta có thể đoán trước là quân địch hơn ta. Muốn chiếm địa vị chủ động, có chuẩn bị, có kế hoạch sẵn sàng, thì ta nên tránh sự xung đột với chúng. Phải kéo đi trước khi quân địch kéo tới.

    Nếu như đến nửa đường gặp quân địch, không rõ địch tình hoặc biết trước là địch nhân hơn ta, thì không còn do dự gì nữa, gìn giữ cho khéo, rồi tháo lui mau chóng.

    Khi ta thoái lui, chớ nên đi đường cái kéo chạy thẳng một mạch, để địch quân cứ theo đuổi đến cùng, cần phải đi vòng quanh gần đấy; quân địch ở trên núi, ta thoái xuống núi; quân địch ở chân núi, ta leo lên đỉnh núi; quân địch ở giữa, ta đi sang hai bên; quân địch ở bên tả ngạn sông, ta thoái đi qua hữu ngạn, quân địch ở hữu ngạn, ta thoái sang tả ngạn.

    Khi thoái lui ở ngã ba đường, con đường mà chúng ta không đi, thì cố ý đánh rơi ít đồ đạc hay phái một bộ đội nhỏ đi qua đó dẫm thành những lối chân, hoặc dán biểu ngữ, khẩu hiệu, còn như đường lối mà ta đi, hết sức cẩn thận, đừng để có vết tích gì tỏ ra là ta đi qua con đường đó, làm cho địch nhân lầm đường, đuổi theo một cách vô ích.

    Lúc bấy giờ, tốt hơn hết là ta phái một ít quân chia nhau thoái lui theo các ngả đường, làm cho địch nhân không biết đường nào mà đuổi. Còn đại bộ phận quân ta còn ở lại đấy, đem hết quần áo, binh phục và võ khí chôn cất kỹ càng, rồi hoá trang giả làm những kẻ lái buôn, thày bói đi các ngả đường phao truyền tin nhảm, hoặc đi trinh thám địch quân, xem có bao nhiêu người và định làm gì. Hoặc khi quân địch cắm trại, thì đi thám thính biết chỗ đóng quân của chúng, hay những con đường có quân địch canh phòng, thời mau về báo quân ta. Giả thử quân địch hỏi quân ta thoái ngả nào, đường nào, thì đông nói tây, tây nói đông, có ít xít nhiều, có nhiều nói ít, và phao truyền tin nhảm, đợi khi quân ta kéo về tiến công, lúc bấy giờ, ăn bận quần áo cũ vào và đeo khí giới sẵn sàng, dự bị hưởng ứng quân ta đánh cho quân địch tan tành, không đường chạy trốn.

    2. Địch thoái, ta tiến

    Quân địch thoái lui, ta nên thừa cơ tiến diệt vì lúc bấy giờ địch nhân tất nhiên có sự thay đổi về mặt hành động quân sự, cho nên có kế hoạch thoái lui. Đã theo kế hoạch thoái lui, thì không có ý muốn cùng ta quyết chiến nữa. Nếu ta đánh vào đằng sau quân địch, đội đi sau cùng che chở bên địch, nhất định sẽ không quyết tâm đánh nhau với ta, còn đội quân địch đi trước vì phải theo kế hoạch của chúng nên rất khó quay trở lại đánh nhau với ta. Như ở những nơi rừng núi hiểm trở, đường núi quanh co, sông ngòi uốn khúc, cầu cống thật nhiều, nếu có quay đầu trở lại được nữa, đội quân đi sau đã bị quân ta tiêu diệt rồi, võ khí cũng đã bị bóc lột hết rồi. Lúc bấy giờ ta phải kiếm cách phá hoại cầu cống, cắt đứt giây thép, v.v., tốt hơn là đợi một bộ đội lớn bên địch đã rút lui rồi, còn lại một ít bộ đội hậu vệ sau cùng chống cự với quân ta, thì ta phải chiếm hết đường lối thoái lui của chúng, làm cho địch nhân muốn thoát cũng không được, muốn cứu cũng không xong. Nhưng lúc bấy giờ, trách nhiệm dân chúng rất nặng nề là phải do thám cho rõ đường lối và phương hướng thoái lui bên địch, xem có phục binh không, có khi địch quân giả vờ thoái, rồi hai cánh quân thoái lui quay lại bao vây quân ta, thì dân chúng phải lập tức báo cáo cho quân đội ngay để cho quân đội ta yên tâm theo đuổi truy đánh quân địch.

    3. Địch nghỉ, ta quấy

    Quân địch mới tới vùng ta, địa thế không thạo, ngôn ngữ khác nhau, chỗ nào cũng có tiếng súng, nhất định luôn luôn canh phòng nghiêm ngặt, không dành một phút nghỉ ngơi. Bởi vậy, một là, vì tinh thần cũng như xác thịt hết sức khổ sở, địch quân dù gan góc, liều lĩnh đến mấy đi nữa cũng phải lung lay và mỏi mệt. Đợi khi quân địch tinh thần dao động, thân thể mỏi mệt rồi, lúc bấy giờ, quân ta hợp với dân chúng đánh thốc vào quân địch, nhất định sẽ thắng lợi.

    4. Đoạn tuyệt giao thông 5)

    Giây thép nói 6) hay giây thép từ chỗ này qua chỗ khác cần phải kiếm cách cắt đứt đi, đường lối, thuyền bè, xe cộ cần phải phá phách đi hoặc chiếm lấy. Còn như việc bắt lính giao thông bên địch cũng rất cần, làm cho bên địch không thể liên lạc được với nhau và không tiếp tế được.

    C. Cách xử trí với địch nhân yếu thế

    Trong cuộc chiến tranh gay gắt với quân thù để giành nền độc lập cho Tổ quốc, địch nhân sẽ dùng đủ mọi thủ đoạn cực dã man để đối phó lại với chúng ta. Muốn đạt tới nhiệm vụ của đội quân du kích là tiêu diệt sức phấn đấu của địch, làm phấn khởi tinh thần anh dũng của dân chúng, đối với địch nhân yếu thế, cố nhiên là không ngần ngại gì nữa, phải liên lạc dân chúng ở đó bao vây địch nhân, đánh cho tiêu tan đặng tiêu diệt chúng.

    D. Làm thế nào công kích địch nhân

    1. Đánh lén

    Thừa lúc đêm tối, trời rét như cắt, tuyết xuống đầy đồng, mưa sa bão táp, sương mù phủ kín non sông, sự canh phòng của quân địch sơ sài, hoặc địch nhân mới đến cắm trại lạ cảnh lạ người, ta đánh thốc vào một cách mau chóng, thế nào cũng thắng lợi. Cổ nhân có câu: "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị" (Thừa lúc địch nhân hớ hênh, đánh chỗ địch nhân không đề phòng).

    Khi đánh lén, điều động đại bộ đội nhằm đánh vào nơi trọng yếu bên địch một cách mãnh liệt, còn một bộ đội khác thì đánh vào bên sườn, cũng có khi dùng toàn lực công kích vào một nơi hoặc chia làm nhiều toán, chia nhau tiến đánh khắp mọi nơi cùng một lúc. Nhưng cần phải có kế hoạch chu đáo để tránh khỏi bộ đội mình hỗn loạn hay lầm lẫn nhau. Bởi vậy, trước khi chưa thực hành đánh lén, cần phải đặt ra tín hiệu hay dấu hiệu.

    Công việc đánh úp cần phải im hơi lặng tiếng, không nên xôn xao, trò chuyện ầm ỹ, bắn súng lung tung. Khi chưa đến gần được địch nhân hay chưa có dịp tốt, không nên vì nghe thấy tiếng súng bên địch bắn, rồi là cũng bắn lung tung trả lại. Chỉ có khi nào có dịp tốt hay đã lọt được vào trong vòng đất đai bên địch rồi, mới có thể hô hoán tiến công được. Nên kịch liệt tiến công vào trước mặt, bên sườn; trước khi đến nơi ta định chiếm, nếu xét ra không thể nào tránh xung đột, thì phải quyết tâm công kích thật mau chóng làm cho địch nhân chuẩn bị không kịp. Nếu biết trước rằng địch nhân có chuẩn bị chu đáo, thì cần phải thận trọng.

    Lúc đi đánh lén, đã đến trước hậu phương quân địch rồi, không nên làm lỡ cơ hội, phải nỗ lực do thám cho biết kho súng đạn, lương thực ... bên địch, rồi kiếm đủ mọi cách thiêu đốt đi, dùng mìn, thuốc nổ phá hoại pháo đài, bóp gác và các thứ kiến trúc bên địch đi. Công việc này cần phải liên lạc mật thiết với dân chúng mới có thể đạt được mục đích.

    Khi công kích đã đạt tới mục đích rồi, phải nhanh chóng rút lui. Lúc trở về, cần phải kiếm con đường tắt mà đi tới một quãng đường khá xa nào đó, rồi sẽ quay trở lại nơi mình định tập hợp, làm cho địch quân không tài nào thám thính được tung tích của quân ta.

    2. Đánh mai phục

    Cần phải do thám biết trước con đường mà địch quân sẽ đi qua, phái quân ra mai phục ở hai bên vệ đường, núp ở quãng đường hành quân khó khăn nhất (như trèo đèo, qua sông), đợi khi cái đích mà ta cần đánh nhất tới nơi (ví dụ: chỉ huy quan cao cấp, pháo binh, hành lý, xe cộ vận tải, v.v.) thì ta cùng nhau nhằm bắn kịch liệt.

    Có mấy điều cốt yếu về cách phục binh như dưới:

    a- Cách thức phục binh vô luận theo kiểu đại quy mô hay tiểu quy mô, cần chọn những nơi hiểm yếu quân địch đi qua rất khó khăn và những quãng đường hẻm, v.v., lại còn phải tính tới chỗ quân ta có thể lẩn đi mau chóng vô cùng.

    b- Nhằm bắn pháo binh, kỵ binh hay quan chỉ huy, cần phải tìm chỗ nào ẩn núp để bắn, ví như: hang ở gần đường, bụi cây, nhà, những mô đất cao bên kia sông chẳng hạn.

    c- Đối với đội pháo thủ, đội vận tải bên địch, cần mai phục ở trong rừng rậm, quãng đường nhỏ hẹp trên dốc, hay núp ở nhà dân chúng.

    d- Đối với đội quân nhỏ và đội trinh thám bên địch, có thể núp ở ngay hai bên vệ đường cũng được.

    e- Khi mai phục, cần phải núp cho thật kín và hết sức yên lặng, vô luận ngày đêm tuyệt đối không được nói chuyện để địch nhân khỏi biết chỗ núp của ta. Vạn nhất địch nhân đã biết ta rồi, thì phải lập tức kéo đi ngay hay thay ngay chỗ núp.

    g- Khi mai phục, muốn phát động thì đợi tới khi địch nhân đã đi quá già nửa rồi, có khi cái đích mà ta định bắn (như viên quan chỉ huy) hoặc lúc quân địch đi qua đã đến giữa sông, khi nghỉ ngơi, cắm trại, ăn cơm chẳng hạn, thực tế mai phục một cách đại quy mô thì nên chia làm mấy nơi: trước, giữa và sau, rồi cùng nhau phát động làm cho quân địch bị đánh bằng mưu, làm cho chúng đại bại.

    3. Đánh úp ban đêm

    Xem thế quân địch hơn ta về lực lượng và binh khí mà ta không đủ sức chống lại, thì phải hóa chỉnh vi linh, phân tán để ẩn núp thật kín đáo ở các làng, rừng núi, ban ngày không được ra ngoài, đợi đến tối, tứ phía bắn đùng đoàng làm cho quân địch bối rối, hoang mang, chưa tìm được cách nào để đối phó. Lúc bấy giờ, ta phải biến linh vi chỉnh, nghĩa là lại tập hợp quân ta lại đánh thốc vào quân địch để tiêu diệt chúng. Nhưng khi thi hành phương pháp đánh như thế, cần chú ý mấy điều này:

    a- Điều động cực kỳ bí mật

    Những kế hoạch trước khi đưa ra và sau khi ra rồi phải giữ tuyệt đối bí mật vì rằng: Nếu một khi bên địch biết trước rồi, thì sự chuẩn bị hành động của ta vô hiệu quả, vả lại có khi thất bại lớn nữa là khác.

    b- Cần biết rõ tình hình quân địch (ví dụ: Biết rõ địch nhân có bao nhiêu người, sức chiến đấu mạnh hay yếu, cách tổ chức quân địch và tinh thần quân sĩ ra sao?).

    c- Cần thông thạo địa thế như: núi non, sông ngòi, rừng rú, đồng bằng, đường lối, v.v., chỗ nào có địch nhân canh phòng, chỗ nào có đường tắt, đi tới chỗ nào, có thể bao vây để tiêu diệt địch quân được không?

    Những điều cốt yếu trên đây cần phải hiểu một cách rõ ràng. Sau đó mới tiến đến một nơi gần quân địch nhất định, đánh thốc vào quân địch đặng tiêu diệt chúng.

    E. Làm thế nào do thám địch nhân

    1. Muốn do thám các thứ quân đội bên địch, trước hết cần biết rõ có nhiều thứ binh khác nhau đã. Trừ có bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, đội quân vận tải ra, lại còn có thêm lính đặc biệt nữa, như dưới:

    a- Bộ binh: Bộ binh Nhật đeo súng dài và có cả súng liên thanh hạng nặng, có đôi khi có cả súng ca nông hạng nhẹ nữa. Lính này có một miếng huy hiệu đỏ ở cổ áo (lính Nhật).

    b- Kỵ binh: Lính kỵ mã cưỡi ngựa, đeo súng liên thanh và mang ca nông hạng nhỏ, có miếng huy hiệu xanh màu lá mạ ở cổ áo (lính Nhật - quân Tàu: vàng).

    c- Pháo binh: Dùng lừa ngựa hay ô tô kéo đại bác, ca nông, còn như đại bác hạng nặng thì phải dùng tới xe ô tô vận tải hay 6 con ngựa kéo mới được. Đấy là đại bác hạng nặng.

    Còn như thấy nòng súng thật dài lại dựng đứng, đấy là đội cao xạ. Đội lính này có huy hiệu ở cổ áo màu vàng (lính Nhật - Tàu: màu trắng xanh).

    d- Công binh: Lính này mang các khí cụ như cuốc xẻng để làm việc. Trong đội lính này gồm có: Đội bắc cầu, đội thông tin, đội địa lôi, đội đường sắt. Huy hiệu ở cổ áo màu nâu (lính Nhật - Tàu: màu trắng).

    e- Đội vận tải: Dắt lừa ngựa kéo xe hay dùng xe hơi để vận tải đồ đạc lương thực, v.v.. Huy hiệu ở cổ áo của lính này màu trắng (lính Nhật - Tàu: màu tím).

    g- Còn các lính khác: Các đội quân thiết giáp, đội không quân, hiến binh, đội vệ binh cũng dễ nhận.

    Ngoài ra còn có những đội quân y không mặc áo lính.

    2. Do thám xem có bao nhiêu quân địch

    Cần đếm từng hàng một, rồi nhẩm xem một đội có bao nhiêu, nhưng vì thời gian quan hệ, ta không dễ gì làm ngay được nhiệm vụ ấy. Cái cách điều tra tiện hơn, đại khái gồm có:

    a- Đại đội bộ binh. Một trung đội của Nhật, Tàu gọi là "Liên", nhưng một Liên không có cờ và có 150 tên lính.... Cứ 4 trung đội thì có một đội súng cối xay (dùng ngựa kéo) tức là một đại đội, Tàu gọi là "Doanh", có chừng bẩy, tám trăm người một đại đội quân Nhật có một lá cờ trắng ở giữa có những vệt đen đỏ.

    Cứ ba đại đội có 1 đội súng ca nông hạng nhẹ dùng ngựa kéo tức là một liên đội, có lá cờ vuông (lúc thường cuốn tròn lại).

    b- Kỵ binh. Về kỵ binh, thì đếm xem có bao nhiêu người cưỡi ngựa là được.

    c- Pháo binh. Đếm xem có bao nhiêu nòng súng đại bác hạng nặng, hạng nhẹ.

    d- Công binh. Công binh cũng biên chế giống như bộ binh.

    e- Các thứ khác. Đây là những thứ lính đặc biệt, phụ thuộc, không quan trọng mấy, biết rõ các thứ lính là được rồi. Nhưng đội không quân, cần phải điều tra xem có bao nhiêu máy bay.

    3. Do thám mưu mô bên địch

    Đấy là một việc rất khó khăn, thường thường người ta dò la địch nhân ở đâu đến và định đi đâu, cũng có thể do đó mà phán đoán được đôi phần. Nhưng đấy chưa phải là phương pháp đúng đắn. Tốt hơn là cần phải:

    a- Giả cách hoan nghênh

    ở nơi mà quân địch kéo qua hay sẽ đến đông, ta giả làm ra bộ nhiệt thành ra hoan nghênh, săn sóc quân địch. Nhân đó, ta được gần gũi binh lính, phu tải bên địch, rồi cùng họ trò chuyên lân la, dò la xem sẽ đi đâu và đi làm gì. Nếu như quân địch không hiểu tiếng ta thì khó khăn đấy. Nhưng trong bộ đội quân địch cũng có người mình bị chúng lợi dụng làm việc cho chúng. Nếu cần phái bà già hay trẻ con gần gũi họ, dò la cũng có thể biết được tin tức.

    b- Giả đi làm trinh thám cho địch nhân để thám thính bên địch

    Muốn giả đi làm trinh thám bên địch, thời trước hết đem một ít tin tức quân ta báo cho quân địch biết, nhưng những tin tức ấy không quan hệ gì, miễn làm cho địch nhân tin ta là được. Rồi sau lấy những tin láo lếu không thiết thực lừa dối địch quân. Đem những tin tức quan trọng bên địch báo cáo cho quân ta, đấy là một phương pháp rất tốt, nhưng phải kén chọn lấy những người có kế hoạch và giác ngộ khá để khỏi bị địch nhân mua chuộc. Đôi khi phái ít đàn bà, con gái đi gần gũi quân địch, chịu hy sinh cả xác thịt làm cho quân địch khỏi ngờ, rồi dò la tình hình quân địch, đưa những tin tức quan trọng báo cáo cho quân ta biết. Làm như vậy các chị đàn bà, con gái hết sức khổ tâm đấy, nhưng vì quyền lợi quốc gia, dân tộc, hy sinh như vậy ắt cũng vui lòng.

    c- Dùng mỹ nhân kế

    Công việc này cũng là việc của các chị con gái có nhan sắc đi bắt chim viên quan chỉ huy hay binh sĩ cũng được. Có đôi khi dùng cách ly gián quân địch, hoặc thám thính tin tức, hoặc ăn cắp mệnh lệnh cùng địa đồ bên địch. Dùng đủ mọi thủ đoạn để đạt mục đích của ta, có đôi khi phải hy sinh xác thịt cũng đành. Nếu như không có thể dò la được tin tức gì cũng như không thể dùng cách nào ly gián được, thời tìm cách ám sát viên quan chỉ huy bên địch đi hoặc đốt cơ quan trọng yếu đi, liều cùng địch nhân một chết cũng cam tâm.

    4. Trinh thám địa hình

    Đối với những địa hình ở gần quân địch, như bến đò, đường lối, phải dò la xem có con đường tắt nào đi vòng quanh không ? Qua bến đò đi về con đường đó có được không ? Cần dò la kỹ càng thì hành động quân ta mới chắc chắn thắng lợi.

    Ngoài ra còn phải chú ý những điều sau này:

    a- Đi dò la một nơi nào phải cần chú ý đến đường lối, phương hướng rộng hay hẹp, đất cát thế nào. Đồng thời phải xem xét có tiện cho sự hành quân của pháo binh, kỵ binh, đội vận tải và các thứ lính khác đi qua không ?

    b- Có rừng núi làng mạc gì không? Và cần phải chú ý xem những rừng núi cùng làng mạc đó có trù mật lắm không ? Diện tích là bao nhiêu?

    Nếu phải qua sông ngòi, cần chú ý xem rộng hay hẹp, nước chảy từ từ hay chảy xiết, hai bên bờ có đò không ? có cầu không ? Nếu như có cầu, nói kỹ xem pháo binh, đội quân vận tải xe cộ có thể qua được không ?

    5. Dò la tình hình bên địch

    Đối với ý định, binh lực và các thứ quân lính bên địch cũng như trên đã nói qua, nhưng những khi cắm trại và những nơi quân chủ lực bên địch đóng, cùng những nơi trống không và những tình hình này khác cần dò la cho kỹ càng. Phải chú ý mấy điểm sau này:

    a- Thấy địch nhân ở nơi nào, hạng lính gì có bao nhiêu người? xe tăng máy bay bên địch có bao nhiêu và để ở chỗ nào?

    b- Phía trước và sau lưng quân địch, phố xá cùng những nơi phòng ngự, pháo đài, tình hình và dùng những bộ đội nào giữ ở nơi đó.

    c- Vị trí binh trạm, các kho súng đạn, lương thực ở đâu?

    d- Trong khi đánh nhau, cần phải chú ý tình hình bên địch, quân trù bị hai bên cạnh sườn.

    e- Xét xem quân lính bên địch có muốn đánh nhau hay không? và xét xem binh lính bên địch đối với tướng quan và nhân dân ra sao?

    Những nhân viên phụ trách công việc do thám cần chú ý lợi dụng và liên lạc với dân chúng trong vùng. Nhưng chú ý: họ giác ngộ, đồng tình với ta và muốn cùng ta hợp tác mới dùng được. Trái lại, nếu họ không giác ngộ, bị địch nhân lợi dụng làm chó săn, chim mồi, phải đề phòng cẩn thận.

    Trinh thám cốt yếu là dò la xem có những tổ chức nào địch phá ta không ? Nếu như có, thời hãy bày mưu, lập kế phá hoại, hoặc giết kẻ thủ lĩnh trong bọn, xử tử đi để làm gương cho kẻ khác.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr.247-262.

    __________

    1) Kiềm chế. 

    2) Cách mạng. 

    3) Cắt đứt. 

    4) Cách mạng. 

    5) Cắt đứt liên lạc. 

    6) Giây thép nói: giây điện thoại. 

     

     

     

     

     

     

    NHẬT KÝ TRONG TÙ

    Bài 18-19-20

    HỌC DỊCH KỲ

    (chữ Hán)

    I

    Bế toạ vô liêu học dịch kỳ,

    Thiên binh vạn mã cộng khu trì;

    Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,

    Cao tài tật túc tiên đắc chi.

    II

    Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế,

    Kiên quyết thì thì yếu tấn công;

    Thác lộ, song xa dã một dụng,

    Phùng thời, nhất tốt khả thành công.

    III

    Song phương thế lực bản bình quân,

    Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;

    Công thủ vận trù vô lậu toán,

    Tài xưng anh dũng đại tướng quân.

     

    HỌC ĐÁNH CỜ

    (dịch nghĩa)

    I

    Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh cờ,

    Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;

    Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,

    Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.

    II

    Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu,

    Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;

    Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,

    Gặp thời, một tốt có thể thành công.

    III

    Thế lực hai bên vốn ngang nhau,

    Kết cục thắng lợi thuộc về một người;

    Tính kế đánh hay giữ không sơ hở,

    Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.


    HỌC ĐÁNH CỜ

    I

    Tù túng đem cờ học đánh chơi,

    Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;

    Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,

    Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.

    II

    Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,

    Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;

    Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,

    Gặp thời, một tốt cũng thành công.

    III

    Vốn trước hai bên ngang thế lực,

    Mà sau thắng lợi một bên giành;

    Tấn công, phòng thủ không sơ hở,

    Đại tướng anh hùng mới xứng danh.

     

    VĂN TRỰC - VĂN PHỤNG dịch

     Bài 21

    VỌNG NGUYỆT

    Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

    Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

    Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

    Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

    NGẮM TRĂNG

    Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?

    Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng,

    Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ.

    Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;

    Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

     

                                                                          NAM TRÂN dịch

     

     

     Bài 30

    TẨU LỘ

    Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan,

    Trùng san chi ngoại hựu trùng san;

    Trùng san đăng đáo cao phong hậu,

    Vạn lý dư đồ cố miện gian.

     

    ĐI ĐƯỜNG

    Có đi đường mới biết đường đi khó,

    Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;

    Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,

    Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

    Đi đường mới biết gian lao,

    Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;

    Núi cao lên đến tận cùng,

    Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

    NAM TRÂN dịch

     

     Bài 37

    TỰ MIỄN

    Một hữu đông tàn tiều tụy cảnh,

    Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

    Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

    Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

     

    TỰ KHUYÊN MÌNH

    Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,

    Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;

    Tai ương rèn luyện ta,

    Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.  

    Ví không có cảnh đông tàn,

    Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

    Nghĩ mình trong bước gian truân,

    Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

          NAM TRÂN dịch

     

     

     Bài 42 - 43

    TẢO GIẢI

    I

    Nhất thứ kê đề dạ vị lan,

    Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;

    Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,

    Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

     

    II

    Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,

    U ám tàn dư nhất tảo không 1) ;

    Noãn khí bao la toàn vũ trụ,

    Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!

     

    ____________

    1) Câu  này chữa lại theo nguyên bản. Nhưng chúng tôi vẫn ngờ tác giả viết nhầm chữ tảo là quét thành chữ tảo là sớm.  Và câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không (bóng đêm còn u ám đã bị quét sạch) như bản in năm 1960 là đúng văn pháp hơn.

      

    GIẢI ĐI SỚM

    I
    Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
    Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;
    Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
    Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
    II
    Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,
    Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
    Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
    Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
    I
    Gà gáy một lần đêm chửa tan,
    Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
    Người đi cất bước trên đường thẳm,
    Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
    II
    Phương đông màu trắng chuyển sang hồng
    Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
    Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
    Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.

    NAM TRÂN dịch

     

     

    Bài 72

    VĂN THUNG MỄ THANH

    Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ,

    Ký thung chi hậu, bạch như miên;

    Nhân sinh tại thế dã giá dạng,

    Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.

     

    NGHE TIẾNG GIÃ GẠO

    Gạo lúc đang giã, rất đau đớn,

    Lúc giã xong rồi, trắng tựa bông;

    Người sống trên đời cũng như vậy,

    Gian nan là dịp rèn giũa mình thành ngọc.

     

    Gạo đem vào giã bao đau đớn,

    Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;

    Sống ở trên đời người cũng vậy,

    Gian nan rèn luyện mới thành công.

    VĂN TRỰC - VĂN PHỤNG dịch

     

    Bài 103

    TỨ CÁ NGUYỆT LIỄU

    "Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại",

    Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!

    Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,

    Sử dư tiều tụy thập niên đa.

    Nhân vị:

    Tứ nguyệt ngật bất bão,

    Tứ nguyệt thụy bất hảo,

    Tứ nguyệt bất hoán y,

    Tứ nguyệt bất tẩy tảo. 

    Sở dĩ:

    Lạc liễu nhất chích nha,

    Phát bạch liễu hứa đa,

    Hắc sấu tượng ngã quỷ,

    Toàn thân thị lại sa.

    Hạnh nhi:

    Trì cửu hoà nhẫn nại,

    Bất khẳng thoái nhất phân,

    Vật chất tuy thống khổ,

    Bất động dao tinh thần...

     

       BỐN THÁNG RỒI

    "Một ngày tù nghìn thu ở ngoài",

    Lời nói người xưa thực không sai;

    Sống chẳng ra người vừa bốn tháng,

    Khiến mình tiều tuỵ còn hơn mười năm.

    Bởi vì:

    Bốn tháng ăn không no,

    Bốn tháng ngủ không yên,

    Bốn tháng không thay áo,

    Bốn tháng không tắm rửa.

    Cho nên:

    Rụng mất một chiếc răng,

    Tóc bạc đi nhiều,

    Gầy đen như quỷ đói,

    Ghẻ lở khắp thân mình,

    May sao:

    Kiên trì và nhẫn nại,

    Không chịu lùi một phân,

    Vật chất tuy đau khổ,

    Không nao núng tinh thần.

     

     "Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài",

    Lời nói người xưa đâu có sai;

    Sống khác loài người vừa bốn tháng,

    Tiều tuỵ còn hơn mười năm trời.

     Bởi vì:

    Bốn tháng cơm không no,

    Bốn tháng đêm thiếu ngủ,

    Bốn tháng áo không thay,

    Bốn tháng không giặt giũ.

    Cho nên:

    Răng rụng mất một chiếc,

    Tóc bạc thêm mấy phần,

    Gầy đen như quỷ đói,

    Ghẻ lở mọc đầy thân.

    May mà:

    Kiên trì và nhẫn nại,

    Không chịu lùi một phân,

    Vật chất tuy đau khổ,

    Không nao núng tinh thần.

    NAM TRÂN dịch

     

    Bài 118

    BẤT MIÊN DẠ

    Mang mang trường dạ bất năng miên,

    Ngã tố tù thi bách kỷ thiên;

    Tố liễu nhất thiên thường các bút,

    Tòng lung môn vọng tự do thiên.

     

    ĐÊM KHÔNG NGỦ

    Đêm dài mênh mang không ngủ được,

    Ta làm thơ tù đã hơn trăm bài;

    Làm xong mỗi bài thường gác bút,

    Trông qua cửa tù, ngóng trời tự do.  

     

    Năm canh thao thức không nằm,

    Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồi;

    Xong bài, gác bút nghỉ ngơi,

    Nhòm qua cửa ngục, ngóng trời tự do.

    NAM TRÂN dịch  

    Bản dịch khác:  

    Thăm thẳm đêm dài không ngủ được,

    Trong tù viết đã trăm bài thơ;

    Mỗi bài viết đoạn, ta dừng bút,

    Cửa ngục nhìn ra: trời tự do!

    HUỆ CHI dịch

     

    Bài 132

    KHÁN "THIÊN GIA THI" HỮU CẢM

    Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,

    Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;

    Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

    Thi gia dã yếu hội xung phong.

     

    CẢM TƯỞNG ĐỌC "THIÊN GIA THI" 1)

    Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,

    Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió;

    Trong thơ thời nay nên có thép,

    Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

    Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

    Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;

    Nay ở trong thơ nên có thép,

    Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

    NAM TRÂN dịch

    ____________

    1) Thiên gia thi : tập thơ của “nghìn nhà thơ”. Ở Trung Quốc có hai tuyển tập thơ Đường – Tống được mang tên “Thiên gia thi”. Tập đầu do Lưu Khắc Trang đời Tống tuyển chọn, lấy tên Đường – Tống thiên gia thi tuyển , tập sau do Tạ Phương Đắc cuối đời Tống tuyển lại tập trước, gọi là Thiên gia thi . Có lẽ Hồ Chí Minh đã đọc tập thơ này.

     

    TÂN XUẤT NGỤC HỌC ĐĂNG SƠN 1)

    Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,

    Giang tâm như kính tịnh vô trần;

    Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,

    Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.

     

    MỚI RA TÙ, TẬP LEO NÚI

    Mây ôm dẫy núi, núi ôm mây,

    Lòng sông như gương, không chút bụi;

    Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh núi Tây Phong

    Trông về phía trời Nam xa xăm nhớ bạn cũ.

    Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,

    Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;

    Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh,

    Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.

    NAM TRÂN dịch

     

     

    ____________

    1) Bài thơ này nguyên không có đầu đề, cũng không có trong tập Ngục trung nhật ký, vì được sáng tác sau khi tác giả đã ra tù. Trong hồ sơ còn lưu giữ ở Viện văn học có bút tích của chính tác giả viết đầu đề này gửi cho Tiểu ban biên tập vào đầu năm 1960. Vậy, có thể đây là đầu đề do tác giả mới đặt về sau.

     

     

     

    Bản dịch khác:

    Mây ôm núi núi ôm mây,

    Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng;

    Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong,

    Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.

    T.LAN dịch 1)

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập ,

    t.3, tr. 263-440.  

     

     

    Năm 1943

    NĂM 1943 (*)

    TẶNG CỤ ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG

    Quan san muôn dặm gặp nhau đây,

    Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.

    Dân bị hai tròng vào một cổ,

    Ta liều trăm đắng với ngàn cay.

    Già dù yếu sức mang mang nhẹ,

    Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.

    Non nước của ta ta lấy lại,

    Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây.

    Liễu Châu, năm 1943

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.441. 

    Năm 1944

    NĂM 1944 (*)

    BÁO CÁO CỦA PHÂN HỘI VIỆT NAM

    THUỘC HỘI QUỐC TẾ CHỐNG XÂM LƯỢC

    Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây - Trung Quốc) tháng 3-1944.

    I- NGUYÊN NHÂN TỔ CHỨC

    Trong lịch sử 80 năm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang.

    Từ sau năm 1862, khi vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp, các bậc nghĩa sĩ giàu lòng yêu nước thương dân đã từ bỏ cả cơ nghiệp của cải, dắt díu vợ con chạy ra Trung Kỳ, thà cam chịu sống cuộc đời gian truân, vất vả của kẻ hái củi, chài lưới, chứ thề không đội trời chung với giặc Pháp.

    Trong bốn mươi năm, từ 1870 đến 1910, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các bậc anh hùng hào kiệt khác, đồng bào chúng ta đã anh dũng trường kỳ chống lại quân giặc, làm cho kẻ thù ăn không ngon ngủ không yên. Suốt bốn mươi năm đó, các cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra:

    1905: Nông dân Trung Kỳ khởi nghĩa.

    1910: Binh lính Việt Nam khởi nghĩa tại Hà Nội.

    1915: Nhân dân Phú Thọ mưu khởi nghĩa.

    1916: Tháng 6 vua Duy Tân mưu khởi nghĩa!

    Tháng 8 cùng năm, đồng bào thiểu số Ba Xa bạo động.

    1918: Bình Liêu mưu khởi nghĩa.

    1919: Quảng Nam mưu khởi nghĩa.

    1923: Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát toàn quyền Méclanh.

    1930: Khởi nghĩa Yên Bái.

    1930-1931: Nghệ An khởi nghĩa.

    Cuối năm 1940: Bắc Kỳ và Nam Kỳ khởi nghĩa.

    1941: Đô Lương (Trung Kỳ) khởi nghĩa.

    Những sự tích vừa oanh liệt lại vừa bi tráng nêu trên, một mặt cho chúng ta thấy rằng: đất nước Việt Nam tuy bị giày xéo dưới gót sắt đẫm máu của dị tộc, nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam vĩnh viễn không vì thế mà bị tiêu diệt, mặt khác cũng dạy chúng ta rằng: Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được, nhất là hiện nay, chúng ta đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác nhất của phương Đông và phương Tây, chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài.

    Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái. Mục đích của đoàn thể ấy phải thiết thực tiêu biểu cho những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả nước: Đoàn kết toàn dân, tranh thủ ngoại viện, đánh đuổi kẻ thù, khôi phục Tổ quốc. Thái độ của đoàn thể ấy phải cao cả, ngay thẳng, mới có thể không thiên lệch, không dựa trên định kiến của một đảng phái, mới có thể được sự tin tưởng và ủng hộ của các tổ chức, các đảng phái và của toàn dân.

    Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại. Phương pháp tranh thủ ngoại viện của đoàn thể này là:

    - Bước thứ nhất: liên lạc với các đoàn thể anh em các nước như Phân hội Trung Quốc, Phân hội Mỹ, v.v..

    - Bước thứ hai: nhờ các đoàn thể anh em giới thiệu với Chính phủ các nước.

    - Bước thứ ba: với thái độ chân thành và cởi mở, yêu cầu các Chính phủ, trước hết là Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ.

    Cho đến nay, về mặt đoàn kết trong nước đã có được những thành tích đáng kể, nhưng về mặt tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài thì chưa có gì.

    Về phần mình - Phân hội Việt Nam trong Hội quốc tế chống xâm lược - cũng không sao tránh khỏi những điều nọ tiếng kia của một số người, chúng tôi thấy chưa cần phải thanh minh. Giờ đây, hãy cứ mặc cho gió Xuân thổi đi, trong tương lai sẽ để sự thật chứng minh là đủ.

    II- HỆ THỐNG TỔ CHỨC

    Tổ chức của Phân hội Việt Nam có hai loại hội viên:

    - Một là hội viên cá nhân: có rất nhiều người từ trước đến nay chưa tham gia một đoàn thể nào, nay muốn tham gia công việc cứu nước. Phân hội Việt Nam sẽ tuỳ theo hoàn cảnh của họ, tập hợp những người cùng một nghề nghiệp thành một tiểu tổ và sẽ cử người phụ trách đặc biệt liên hệ với họ.

    - Hai là hội viên đoàn thể: đó là những đoàn thể mà các hội viên tán thành gia nhập Phân hội.

    Việc hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái (như hợp tác xã, v.v.) xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản, vì rằng:

    1- Mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước.

    2- Mọi người đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn.

    3- Mọi người đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất.

    4- Người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn.

    Phân hội Việt Nam chỉ yêu cầu các hội viên của mình tuân thủ mấy điều dưới đây:

    1- Trong Hội không được bàn chuyện đảng phái; ngoài hội thì hoàn toàn tự do.

    2- Có vấn đề gì, mọi người cần thẳng thắn, công khai thảo luận; có công việc gì, mọi người đều đồng tâm hiệp lực cùng làm.

    3- Thường ngày, mọi người không được công kích lẫn nhau; gặp khi nguy hiểm, mọi người phải ra tay giúp đỡ.

    Kết quả là: giữa các đảng phái không còn tình trạng tranh chấp hơn thua, sự chân thành đoàn kết không phải chỉ ở đầu lưỡi mà trở thành sự thật.

    Hệ thống tổ chức: Toàn quốc chia thành kỳ, mỗi kỳ chia thành tỉnh, huyện, tổng, xã, thôn. Nơi nào đông hội viên thì lấy thôn làm đơn vị. Nơi nào ít hội viên thì lấy tổng hoặc xã làm đơn vị.

    III- CÁCH LÃNH ĐẠO

    Cho đến khi tôi rời nước, tình hình vẫn thế này: Cả nước chỉ có mấy người, đủ cả Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, họ là những sáng lập viên, đồng thời cũng là uỷ viên trong Ban Chấp hành toàn quốc. Về tư cách mà nói, mỗi người một tư cách khác nhau: Một số là những người tài giỏi; một số là những bậc lão thành, có danh vọng được nhân dân tín nhiệm. Tuy vậy, họ giống nhau ở chỗ đều là những nhân sĩ thiết tha yêu nước, liêm khiết, trung thực, công tâm. (Cho nên tôi rất tin tưởng rằng, nếu có tổng tuyển cử, dân chúng nhất định sẽ bầu họ). Họ phân công, hợp tác, mỗi người gánh vác một phần trách nhiệm, không có chủ tịch. Dĩ nhiên là họ không có lương, mà ngược lại khi có tiền, họ còn phải bỏ tiền túi của mình ra cho đoàn thể dùng. Vì hoàn cảnh khó khăn, họ rất ít khi họp hội nghị toàn thể, trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ. Khi có việc, những người phụ trách kỳ bộ nào đó bàn bạc cách thức tiến hành, rồi đưa trưng cầu ý kiến những người phụ trách hai kỳ bộ kia, sau khi mọi người tán thành thì phân công nhau mà làm. Ví dụ, muốn ra một bản tuyên ngôn, các người phụ trách Bắc Kỳ dự thảo, rồi gửi dự thảo cho những người phụ trách ở Nam Kỳ, Trung Kỳ. Sau khi mọi người đồng ý, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm in lấy Tuyên ngôn mà phân phát trong phạm vi Kỳ của mình. Lúc gặp việc khẩn cấp, chẳng hạn như địch tiến hành khủng bố ở Nam Kỳ thì Kỳ bộ Nam Kỳ một mặt phát động cuộc "vận động chống khủng bố", mặt khác báo cho hai Kỳ để hưởng ứng ngay.

    Mọi hành động, các địa phương phải tuân thủ những nguyên tắc và thời hạn do Trung ương quy định, còn cách thức thực hiện, họ có thể tuỳ cơ ứng biến. Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đăng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu.

    IV- CÁCH TUYÊN TRUYỀN

    Có tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng văn tự và tuyên truyền bằng hành động.

    1- Tuyên truyền bằng miệng có hai loại: Nói chuyện với từng người và nói chuyện tập thể. Loại trước thì mỗi hội viên đều phải làm, như giải thích cho bạn bè thân thích hiểu tại sao phải đánh đuổi quân thù, phải cứu nước; có khôi phục được Tổ quốc thì mới không phải nộp thuế, khỏi bị bắt đi làm phu và mọi người mới có cơm ăn, áo mặc, v.v.. Loại sau thì khi hội viên khai hội, cán bộ giải thích các vấn đề để nâng cao sự hiểu biết cho họ, nói cho họ biết cách tuyên truyền. Khi bà con cấy cày, gặt hái hoặc làm những công việc có đông người, cán bộ địa phương hoặc những hội viên có khả năng ăn nói đến làm giúp họ, nhân dịp đó mà tuyên truyền thì sẽ có tác dụng nhanh chóng và to lớn.

    2- Tuyên truyền bằng văn tự có ba loại: Truyền đơn, báo chí bí mật và biểu ngữ. Làm báo bí mật là công việc rất khó khăn vì không dễ gì kiếm được nguyên liệu. Chẳng hạn, nếu ta mua giấy nhiều quá dễ bị nghi ngờ và có thể gặp nguy hiểm. Song, nếu biết dựa vào sự sốt sắng của các hội viên, dẫu có khó khăn gì cuối cùng vẫn tìm được cách giải quyết. ở một số nơi thường hay bị địch lùng sục, chúng tôi cứ cách mấy chục dặm lại đặt một "nhà in": một phiến đá, một ít giấy mực, giấu ở những nơi thật kín đáo không ai biết. Địch đến thôn Đông, chúng tôi in báo ở thôn Đoài, chúng tới thôn Nam, chúng tôi in báo ở thôn Bắc. Chúng không thể tìm ra chúng tôi, còn chúng tôi cứ tiếp tục ra báo đúng kỳ hạn. Báo là thứ vũ khí của ta mà địch căm ghét nhất.

    Viết biểu ngữ cũng là một cách tuyên truyền rất lý thú. Bờ tường, mặt đường, gốc cây, lá cây, đều là những chỗ giúp ta tuyên truyền cách mạng. Cột điện, dây điện cũng là những nơi rất tốt để căng biểu ngữ. Những nơi có sông ngòi, chúng tôi lấy tre, gỗ, nứa, chuối đóng thành bè, căng biểu ngữ lên trên rồi thả xuôi theo dòng nước.

    3- Tuyên truyền bằng hành động, tức là mỗi hội viên đều phải gương mẫu trong mọi việc để tỏ cho mọi người thấy rằng có tổ chức, có đoàn thể có tốt hơn.

    Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi.

    Cách tuyên truyền như diễn kịch, ca hát, v.v., chúng tôi không dùng được.

    V- CÁCH HUẤN LUYỆN

    Trước tiên, cơ quan lãnh đạo định ra một chương trình học tập, cử một vài người hoặc vài nhóm, vừa đi thí nghiệm, vừa tranh thủ ý kiến của người học. Sau đó, việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên những đợt huấn luyện trước kết hợp với kinh nghiệm của các giảng viên.

    Tư cách học viên: Tất cả cán bộ địa phương nhất thiết phải được huấn luyện. Kế đó là những hội viên ưu tú, cuối cùng là tất cả các hội viên không phân biệt già trẻ, gái trai, miễn là muốn học đều có thể tham gia.

    Thời gian huấn luyện: Một hoặc hai tuần lễ.

    Địa điểm huấn luyện: Hang động, núi rừng, ruộng mía, nương ngô, v.v., nơi nào bảo đảm được bí mật đều có thể là những giảng đường thiên nhiên của họ. Nhưng cũng có khi một lớp học cách một hai ngày lại phải dời đi chỗ khác.

    Các bài giảng đại khái gồm:

    - Vì sao phải làm cách mạng?

    - Vì sao phải đoàn kết?

    - Khai hội tiểu tổ như thế nào?

    - Phát biểu ý kiến như thế nào?

    - Tự phê bình và phê bình đồng chí như thế nào?

    - Bước đầu tuyên truyền cho bè bạn như thế nào?

    - Giữ bí mật như thế nào?

    - Những hành động hung ác của kẻ thù.

    - Tình hình thế giới (kinh nghiệm kháng chiến của Trung Quốc).

    - Tình hình trong nước.

    Cần khuyến khích học viên dạy cho nhau học chữ quốc ngữ.

    Những vấn đề trên đều do chính các hội viên tự đưa ra yêu cầu được học tập. Cơ quan lãnh đạo chỉ cần chọn một số người có thể làm giảng viên, đưa giáo trình cho họ nghiên cứu, khi họ đã nghiên cứu thông suốt, nắm được các vấn đề rồi thì cán bộ địa phương đón họ về tổ chức các lớp.

    Vấn đề ăn, ở của giảng viên đều do học viên cùng nhau giải quyết, vì thế nên không tốn kém đồng nào mà lớp huấn luyện mọc lên như nấm, cơ quan lãnh đạo có cảm giác là số giảng viên "cung không kịp với cầu".

    Kết quả rõ rệt nhất của các lớp huấn luyện là tất cả hội viên không kể già trẻ đều biết giữ bí mật.

    VI- TÀI CHÍNH CỦA HỘI

    Phân hội Việt Nam không quy định hội viên phải đóng hội phí mà áp dụng nguyên tắc "có tiền góp tiền", "có sức góp sức". Hội viên tuỳ theo hằng tâm hằng sản của mình mà giúp đỡ kinh phí cho Hội. Lúc đầu, Hội chi phí mất khá nhiều tiền (số tiền này do các hội viên có nhiệt tâm tự nguyện đóng góp). Vì muốn đặt cơ quan ở các khu "quý tộc" của các thành phố lớn để che mắt địch, Hội đã thuê nhà tây, mua sắm đồ đạc sang trọng, trang trí rất hào nhoáng, đường hoàng. Được ít lâu, có báo động, tất cả đồ đạc phải bỏ hết! Qua vài lần kinh nghiệm quá đắt như vậy, đành phải bỏ ý định lập cơ quan cố định.

    Hiện nay, trừ chi phí cho báo chí và việc đi lại ra, không còn khoản gì khác phải tiêu nhiều tiền nữa, lúc cần thiết, các hội viên đều hăng hái quyên góp, vì mọi người đều tin tưởng rằng mỗi một đồng xu họ bỏ ra đều được dùng vào công việc chung cho nước nhà, cho dân tộc, chứ không phải rơi vào túi riêng của một ai. Đủ thấy câu tục ngữ xưa "Có người ắt có của" là đúng lắm vậy.

    VII - CÔNG TÁC CỦA HỘI

    Đằng trước thì quân thù đàn áp, đằng sau thì dân chúng thôi thúc, theo dõi, công tác của Hội hiện nay chỉ có gian khổ, chỉ có hiểm nguy, hoàn toàn không thể cầu danh lợi, địa vị cho cá nhân, cho nên người nào muốn làm việc cho Hội thì chỉ có vùi đầu vào công việc, ra sức mà làm. Ai không thật lòng muốn làm việc cho Hội thì không thể chỉ đeo nhãn hiệu suông được. Với lại, công việc thì nhiều, phạm vi hoạt động lại rộng, người nào có công việc của người ấy, nên không có sự tranh chấp. Hơn nữa, do cùng đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, nên rất có tinh thần đoàn kết. Và vì đoàn kết chặt chẽ nên công việc dễ phát triển. Kết quả công tác, thành công tuy nhiều, song thất bại cũng không phải ít.

    Thành công ở chỗ, mặc dù hai tên đế quốc hung ác nhất thi hành chính sách khủng bố dã man và giữa vòng vây của bọn mật thám Pháp, Nhật, bọn Việt gian, Hán gian, mà trong một năm rưỡi ngắn ngủi, Hội đã đoàn kết được hơn hai mươi vạn người, bao gồm các đoàn thể, các đảng phái, các cá nhân, các dân tộc mà trước đây vẫn có nhiều thành kiến với nhau. Một nước với hai mươi lăm triệu dân mà mới có hai mươi vạn người có tổ chức, nghĩa là cứ 125 người mới có một người có tổ chức, con số đó thật quá ít ỏi. Nhưng chúng tôi có thể nói là phạm vi đoàn kết này đang mở rộng, đang phát triển.

    Chúng ta biết rằng, thành công đó một nửa là nhờ sự đoàn kết thành thật và sự cố gắng hoạt động của cán bộ, một nửa là nhờ ảnh hưởng của cuộc kháng chiến anh dũng của Trung Quốc. Xin cử một ví dụ thực tế: ở một địa phương nọ, khi đưa cuốn sách "Những hành động tàn bạo của Nhật Bản" (do Hội đồng quân sự Trung Quốc xuất bản) cho mọi người bí mật chuyền nhau xem, rất nhiều người, nhất là chị em phụ nữ, khi xem xong cảm động đến rơi nước mắt. Mọi người đều nói: "Bọn quỷ Nhật thật hung ác, không đập chết chúng nó thì chúng ta không sống được". Sau đó, nhiều người cả nam lẫn nữ đều gia nhập tổ chức.

    Thất bại ở chỗ:

    1- Rất nhiều cán bộ tốt, vì làm việc quá nhiều, bồi dưỡng không đủ nên sinh đau ốm, có khi ốm đến chết (đó là sự đau lòng khó tránh khỏi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật).

    2- Có nơi vì thiếu kinh nghiệm, lộ bí mật để cơ quan bị vỡ và nhiều đồng chí bị bắt, bị giết.

    3- Vì giao thông liên lạc không thuận tiện, cơ quan cấp trên không kịp thời giải quyết những vấn đề khó khăn, do đó đưa đến thất bại.

    4- Thiếu sự tuyên truyền đối ngoại: Một là vì mới thành lập, phải hoàn toàn giữ bí mật; hai là thiếu nhân tài ngoại giao; ba là lần đầu tiên đi làm ngoại giao, cử ba người thì hai người giữa đường hy sinh, còn lại một người nhờ được Trung Quốc chăm nom hết sức chu đáo, nhưng đã một năm rưỡi vẫn chưa thấy trở về.

    Về điểm này, Trung Quốc cũng cho chúng ta một bài học quý báu, rằng nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao, giả dụ như Trung Quốc nếu không có mấy năm kháng chiến kiên quyết và gian khổ, thì chớ mong gì có thể xoá bỏ được các điều ước bất bình đẳng, và các nước đồng minh cũng chẳng giúp đỡ gì Trung Quốc.

    Tuy vậy, về phần chúng tôi, lúc nào cũng tin tưởng vững chắc ở đạo đức truyền thống của Trung Quốc là "bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ người nguy, cứu kẻ sắp chết" và tin tưởng vào quốc sách của Trung Quốc là "Liên hiệp các dân tộc nhược tiểu trên thế giới để cùng nhau phấn đấu". Vì thế, chúng tôi cho rằng: lần này "thất bại là mẹ thành công", chúng tôi quyết không ngã lòng.

    VIII. MẤY VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN

    Dân chúng thường cho rằng: Đoàn thể là thần thông quảng đại, là tài giỏi việc gì cũng làm được, do đó từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều nhờ đến đoàn thể. Anh A và anh B cãi lộn nhau, họ cũng tìm đến đoàn thể nhờ phân xử phải trái. Anh X và anh Y tranh giành nhau gia tài cũng đến nhờ đoàn thể giải quyết, v.v.. Nhưng câu hỏi khó trả lời nhất là:

    "Đoàn thể tổ chức chúng tôi lại cốt để đánh giặc Nhật, giặc Pháp. Hiện nay tổ chức xong rồi, thế bao giờ thì đánh?".

    "Đoàn thể nói với chúng tôi rằng: Trung Quốc nhất định sẽ giúp chúng ta đánh đuổi quân thù, vậy đến bao giờ họ mới giúp?".

    IX. HY VỌNG CỦA CHÚNG TÔI

    Đồng bào chúng ta đã đau khổ đến tột bực rồi. Dân chúng trong nước chỉ có một yêu cầu là đánh đuổi quân thù, khôi phục Tổ quốc.

    Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ, đúng như Tưởng Trung Chính1) tiên sinh đã nói: "Không phát động được quốc dân đứng lên phấn đấu thì không thể rửa nhục, tự cường được".

    Tình hình thế giới đang rất có lợi cho chúng ta, cho nên tôi hy vọng rằng: Đồng minh hội, sau Hội nghị này có thể thực sự chấn chỉnh lại nội bộ, thực sự đoàn kết được các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, thực sự kết hợp thành một khối với các lực lượng cách mạng ở trong nước, nhằm thực hiện cho được như lời của Tưởng tiên sinh: "Hoạt động thực tế trong nước lấy hội, đảng làm đầu, viện trợ của bên ngoài lấy kiều bào làm chính".

    Tôi hy vọng rằng phạm vi giúp đỡ của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam ngày càng thiết thực, ngày càng mở rộng hơn. Được như thế, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.451-461.

    ___________

    (*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

    1) Tức Tưởng Giới Thạch (N.D).

     

     

     

    BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH
    CÁC ĐẢNG PHÁI TRONG NƯỚC

    Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây Trung Quốc) tháng 3-1944.

    Vì chúng ta muốn các đảng phái, các đoàn thể trong nước tham gia Đồng minh hội, nên tôi xin báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước như sau:

    1- Có người nói: ở Việt Nam có quá nhiều đảng phái. Lại có người nói: ở Việt Nam chẳng có đảng phái nào. Dù điều họ nói đúng hay không đúng, đều làm cho những người hoạt động ở trong nước phấn khởi, vì điều đó chứng tỏ rằng ở trong nước chúng tôi đã giữ được bí mật, cần biết rằng: Quân thù không sợ cái gì, chỉ sợ nhân dân Việt Nam đoàn kết. Điều luật đầu tiên của chúng là ngăn cấm không cho dân chúng lập ra đảng phái, vì đó là vũ khí tổ chức duy nhất.

    2- Có người cho rằng đảng phái ở Việt Nam quá nhiều, đó là một ấn tượng không tốt. Kỳ thực không phải như thế. Tại sao vậy? Chúng ta mất nước đã hơn tám mươi năm, kẻ thù của chúng ta là hai tên cướp hung ác ở phương Đông và phương Tây, chúng dùng nọc độc thuốc phiện, giáo dục nô lệ, chính sách trường kỳ khủng bố và nhiều chính sách thâm độc khác, hòng làm tê liệt sự hiểu biết của chúng ta, hòng tiêu diệt tinh thần dân tộc và đè bẹp nghị lực đề kháng của chúng ta. Các đảng phái ở Việt Nam, trừ các đảng phái thân Nhật, thân Pháp mới được đẻ ra gần đây, đều ra đời và trưởng thành trong hoàn cảnh muôn vàn gian khổ. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết của nhân dân Việt Nam đã không bị kẻ thù làm tê liệt mà vẫn tiến theo kịp trào lưu của thế giới. Tinh thần dân tộc và nghị lực đề kháng của nhân dân Việt Nam không hề bị tiêu diệt.

    3- Ở trong nước, không chỉ các chính đảng, mà cả các đoàn thể không đảng phái, thậm chí các hình thức tổ chức như các tổ tương trợ, v.v. cũng phải hết sức giữ bí mật mới không bị phá hoại và mới có thể tồn tại được. Do đó, không những người ở nước ngoài mà ngay người ở trong nước cũng ít biết được về tình hình các đảng phái.

    Theo tôi được biết, những chính đảng cũ và ít nhiều có thế lực, cả thảy có sáu đảng: Đảng Xã hội (thành lập tám năm nay); Việt Nam Quốc dân đảng (thành lập mười tám năm nay); Việt Nam Tân Quốc dân đảng (thành lập mười ba năm nay); Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập mười bốn năm nay); Đảng Lập hiến (thành lập hai mươi năm nay); Đảng Bảo hoàng (thành lập khoảng mười năm nay).

    Những đoàn thể không đảng phái, có: Đoàn thanh niên phản đế; Hội phụ nữ giải phóng; Hội công nhân; Hội nông dân (Hiện nay các đoàn thể trên có thêm hai chữ "Cứu quốc", và Việt Nam độc lập đồng minh.

    Hiện nay, họ đều liên hiệp thành một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội quốc tế chống xâm lược.

    4- Trong những chính đảng kể trên, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên nhân rất đơn giản. Quân thù mong muốn nước ngoài đồng tình với chính sách khủng bố của chúng, nên chúng quy tất cả các phong trào chống đối ở trong nước, thậm chí cả những hành vi bỉ ổi như phá nhà, cướp của đều đổ tội cho Đảng Cộng sản.

    Có một nhà văn Pháp viết một vở kịch, nhan đề là "Hạnh phúc gia đình". Vai chính trong vở kịch là một cặp vợ chồng mới cưới, cô dâu bị bệnh đau đầu, cô ả khăng khăng cho rằng mình bị cộng sản bỏ thuốc độc; và những chuyện như mèo nhảy làm vỡ đĩa bát trong bếp đến chuyện nướng bánh không chín, nấu súp không ngon, cô ả cũng đổ tội cho cộng sản cả. Qua đó đủ thấy tâm địa của kẻ thù và phản ứng ở nước ngoài là thế nào rồi! Có kẻ cho rằng ở Việt Nam, đâu đâu cũng là cộng sản, tất cả các đoàn thể, các tổ chức đều là cộng sản trá hình, tất cả mọi hành động đều do cộng sản ba đầu sáu tay chỉ huy!

    5- Người Việt Nam có sợ cộng sản không ? Không. Cả nước Việt Nam chúng ta, không có một nhà băng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn. Tài sản của chúng ta, một lần đã bị "cộng" cho giặc Pháp, một lần bị "cộng" cho giặc Nhật, còn có cái gì để mà "cộng" nữa?

    Người có học thức lại càng không sợ. Năm 1789, do cuộc Đại cách mạng Pháp mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp Âu châu. Năm 1917, do cuộc cách mạng Nga mà tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng. Huống hồ, "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", "mọi người đều bình đẳng về kinh tế", "cần phải làm cho đời sống và sự sinh tồn của mỗi người dân được bảo đảm", đó là những tư tưởng từ thiện, tương thân tương ái, nhân dân ấm no, thế giới đại đồng.

    6- Trước đây, các đảng phái thường công kích lẫn nhau trên báo chí. A nói A phải, B nói B tốt, cốt để tranh giành quần chúng. Bây giờ họ rất đoàn kết với nhau, vì:

    a- Mọi người đều hiểu, đã là dân mất nước thì đảng phái gì, chủ nghĩa gì cũng vô dụng; đồng thời mọi người đều có chung một mục đích là: Cứu nước, cứu dân tộc.

    b- Kẻ địch đều coi chúng ta là kẻ thù. Chẳng may bị chúng nó bắt được thì dù thuộc đảng phái nào, không bị cầm tù cũng bị chặt đầu. Ví dụ, hồi Nam Kỳ khởi nghĩa, người Đảng Lập hiến, người Đảng Cộng sản hay người Việt Nam Quốc dân đảng cũng đều cùng nhau tranh đấu và cùng nhau hy sinh.

    c- Ngoài công việc cứu nước ra thì lý luận gì, công tác gì, cũng không được nhân dân ủng hộ.

    d- Mọi người đều phải theo trào lưu cách mạng thế giới: Nước Trung Quốc tam dân chủ nghĩa, nước Anh đế quốc chủ nghĩa, nước Nga Xôviết cộng sản chủ nghĩa, nước Mỹ tư bản chủ nghĩa đều có thể hợp tác với nhau để chiến thắng quân thù. Các đảng phái ở Trung Quốc đều tập hợp chung quanh Quốc dân đảng Trung Quốc để chống Nhật cứu nước. Nước Pháp tự do có Đảng Cộng sản Pháp tham gia; nước Đức tự do có Đảng Cộng sản Đức tham gia, cùng nhau ra sức cứu Tổ quốc, cứu đồng bào. Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cũng không thể đi ngược dòng lịch sử được.

    Hiện nay ở trong nước không cần nêu khẩu hiệu "Đoàn kết các đảng phái", vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.462-465.

     

     

     

    CHIẾN THUẬT DU KÍCH

    (Trích)

    CÁCH ĐÁNH DU KÍCH1)

    CHƯƠNG I

    DU KÍCH LÀ GÌ

    Du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng. Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc. Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi. Muốn đánh du kích cho thắng lợi cần bốn điều:

    1. Phải có con đường chính trị đúng.

    Con đường chính trị chúng ta là đánh Tây - Nhật làm cho nước ta độc lập. Muốn thắng Tây - Nhật chúng ta phải dùng lối du kích và dùng lối du kích là cốt để đánh Tây - Nhật. Muốn đánh Tây - Nhật mà không dùng lối du kích thì không đánh được Tây - Nhật và mượn tiếng du kích không để đánh Tây - Nhật, mà lại để theo đuổi mục đích khác là không chính đáng.

    2. Phải dựa trên cơ sở quần chúng.

    Muốn đánh du kích cần phải có dân chúng tham gia và giúp sức. "Du kích như cá, dân chúng như nước. Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân chúng thì du kích chết". Quân du kích và dân chúng phải mật thiết liên lạc với nhau là vì quân du kích đánh Tây - Nhật để bảo hộ dân chúng, vậy dân chúng phải hết sức ủng hộ quân du kích.

    3. Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật.

    Quân du kích nếu không có tổ chức thì không phải một đội quân cách mạng, không thể đánh được Tây - Nhật. Quân du kích cần phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật, kỷ luật phải nghiêm như sắt, bao nhiêu hành động của quân du kích đều phải theo kỷ luật ấy, không ai được làm trái.

    4. Phải có một lối đánh rất tài giỏi.

    Quân du kích thắng được kẻ thù chính nhờ lối đánh tài giỏi này. Quân du kích là đội quân thiên biến vạn hoá, xuất quỷ nhập thần, khéo dùng lối này thì trăm trận trăm được.

    CHƯƠNG II

    TỔ CHỨC ĐỘI DU KÍCH

    1. Tiểu tổ du kích. Từ 2, 3 người cho tới 2, 3 chục người có thể tổ chức thành tiểu tổ du kích do tổ trưởng chỉ huy (nếu cần phải có phó tổ trưởng). Có nhiều tiểu tổ thì lập ban chỉ huy chung.

    Tiểu tổ du kích không thoát ly sinh sản (nghĩa là không bỏ việc làm ăn). Có việc thì họp nhau hành động; không có việc thì cứ làm ăn như thường. Vũ trang của tiểu tổ du kích thì tuỳ hoàn cảnh, xoay được thứ gì dùng thứ ấy, súng, dao, gậy đều được.

    2. Chi đội. Chi đội du kích là một đội du kích có vũ trang, hoàn toàn hay không hoàn toàn thoát ly sinh sản2). Số người của một chi đội không nhất định từ mấy chục người đến mấy trăm, đến mấy nghìn người. Chi đội du kích có thể lấy tên gì cũng được: như đội quân cứu quốc Phan Bội Châu, đội quân du kích Phan Chu Trinh, hay đội quân du kích người Mán trắng, đội quân cứu quốc Bắc Sơn, v.v..

    Cách biên chế (biên chế là hệ thống tổ chức từ dưới lên trên) của chi đội du kích do tiểu đội lên trung đội3), trung đội lên đại đội, đại đội lên chi đội, theo lối tam tam chế, tứ tứ chế hay ngũ ngũ chế (nghĩa là ba hay bốn, năm tiểu đội lên trung đội, rồi cứ thế lên mãi).

    3. Tư cách đội viên du kích. Ai là dân Việt Nam khoẻ mạnh, muốn đánh Tây - Nhật, không sợ khó nhọc, nguy hiểm đều có thể thành một đội viên du kích. Nên chú ý những người nhanh nhẹn, dũng cảm có kinh nghiệm đánh giặc chút ít, nhất là những người đã đi lính.

    4. Cơ quan chỉ huy. Tiểu tổ du kích có chánh phó tổ trưởng, tiểu đội có tiểu chánh phó đội trưởng, trung đội có trung chánh phó đội trưởng, đại đội có đại chánh phó đội trưởng, chi đội có chi chánh phó đội trưởng. Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm.

    Chi đội có đông người thì có thể tổ chức những ban đặc biệt phụ trách việc trinh thám, việc quản lý, việc phá hoại, hay về mặt chính trị thì có ban dạy chữ, giảng báo, vận động dân chúng, vận động binh lính đế quốc, v.v..

    CHƯƠNG III

    NGUYÊN TẮC CỦA CÁCH ĐÁNH DU KÍCH

    Đánh du kích cần chú ý 4 nguyên tắc chính này:

    1. Giữ quyền chủ động. Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù4), muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được. Nếu nó mạnh quá đánh không có lợi thì mình lùi, mình tự ý lùi cũng là giữ quyền chủ động, giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ. Trái lại, nếu mình không giữ được quyền chủ động mà lại ở vào địa vị bị động, để cho quân thù sử khiến mình dễ bị thất bại.

    2. Hết sức nhanh chóng. Đánh du kích cần nhanh chóng. Chậm chạp thì không đánh được du kích. Bất kỳ lúc nào, lúc hành quân, lúc tiến công, hay lúc rút lui, một cử động nào của đội du kích cần nhanh chóng mới được. Đội du kích phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi.

    3. Bao giờ cũng giữ thế công. Giữ thế công là mình tiến đánh quân thù trước. Du kích phải giữ quyền chủ động chính để giữ thế công. Giữ thế công mới đánh được giặc, không đánh được trận to thì đánh trận nhỏ, làm tiêu hao giặc ít nào hay ít ấy. Du kích mà chỉ phòng thủ thì thế nào cũng thất bại.

    4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo. Du kích đánh được giặc cố nhiên nhờ 3 nguyên tắc trên, nhưng nếu làm đúng 3 điều trên mà không có kế hoạch thích hợp và chu đáo thì cũng không thành. Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hoá, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng.

    Đánh du kích cần chú ý 4 mưu mẹo lớn này:

    1. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây. Đánh du kích phải hiểu rõ tình hình quân thù, chỗ quân thù mạnh mình không dại gì tiến đánh, chỉ nhằm chỗ yếu của nó mà đánh, lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông đánh phía tây.

    2. Tránh trận gay go, không chết sống giữ đất. Đánh du kích cốt chọn miếng dễ miếng ngon mà ăn, không phải hao tổn nhiều. Phải tránh những trận gay go, được thua không chắc mà có thể thiệt hại nhiều, lúc quân thù tiến công, nếu chống lại không lợi thì phải lùi, nếu cần rút ra khỏi phạm vi thế lực của mình để giữ gìn lực lượng thì cứ việc rút, không bao giờ nên chết sống giữ đất.

    3. Hoá chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hoá linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung), lúc quân thù nhằm vào bộ đội mình mà tiến công, hoặc lúc vì một lẽ khác mà để nguyên cả bộ đội thì hành động không tiện, quân du kích phải hoá chỉnh vi linh, nghĩa là phân tán ra, phân tán ra rồi, nếu cần tập trung bộ đội lại, để hành động thì lại hoá linh vi chỉnh, (chỉnh là toàn bộ, linh là từng bộ phận hay từng người).

    4. Mình yên đánh quân thù động, mình khoẻ đánh quân thù mệt. Đánh du kích phải giữ quyền chủ động, phải chọn lúc quân thù đương làm một việc gì, nhất là lúc đi đường, nhân lúc quân thù không chú ý, mình yên núp một chỗ thoạt ra đánh nó, thế là mình yên đánh quân thù động. Còn phải chọn lúc quân thù mệt và mình khoẻ để đánh nó. Lúc mình yên quân thù động, lúc mình khoẻ, quân thù mệt, mình lại đánh úp quân thù thì mình thế nào chẳng thắng?

    Du kích đánh Tây - Nhật cần nhằm vào mấy động tác sau này:

    1. Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù, tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng.

    2. Trinh thám quân giặc5). Một nhà đại quân sự có nói: "Biết mình, biết giặc trăm trận, trăm thắng". Đánh du kích cốt trinh thám cho rõ tình hình quân giặc.

    3. Làm cho quân giặc khốn đốn. Du kích nếu chưa thắng ngay được quân giặc cũng hết sức làm cho chúng khổ sở, khốn đốn, ăn ngủ không ngon, đi đứng không yên.

    4. Làm cho quân giặc đói khổ. Làm vườn không nhà trống, đánh cướp đội vận tải lương thực của giặc, đánh phá kho lương thực của giặc là những cách làm cho quân giặc đói khổ.

    5. Ngăn cản quân giặc. Không cho chúng tự do đem quân đánh phá dân chúng hay đội du kích. Phá đường sá cầu cống xe cộ của giặc là cách hay nhất để ngăn cản quân giặc tự do hành động.

    6. Bắt cóc quân giặc. Như lính đi truyền lịnh, lính đem thư từ, lính đi thu lương thực của dân chúng. Bắt rồi lột khí giới và tra hỏi tình hình quân thù.

    7. Làm cho quân giặc mù mịt, hoảng hốt. Ví như mình có ít người mà làm như đông người, mình có một đội mà làm như nhiều đội, mình có ít súng, mà làm như nhiều súng, làm cho quân giặc hoảng hốt rồi mình thừa cơ đánh úp nó.

    8. Dụ quân giặc vào bẫy để đánh. ẩn nấp đâu đó rồi lập mưu dụ quân giặc ra để đánh úp, hoặc giả đánh thua phải chạy để cho quân giặc đuổi theo rồi ẩn núp một chỗ chờ quân giặc qua thoạt ra đánh.

    9. Tập kích, phục kích và truy kích quân giặc. Tập kích là mình đến đánh quân giặc đương ở một chỗ. Phục kích là mình ẩn nấp một chỗ chực quân giặc đi qua thoạt ra đánh úp. Truy kích là đuổi theo sau quân giặc để đánh.

    CHƯƠNG XIII

    CĂN CỨ ĐỊA

    Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ.

    Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được.

    Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy (quân chính quy là đội quân tổ chức theo quy củ nhất định về mặt biên chế, kỷ luật, súng ống, áo quần, ăn uống đều theo quy củ nhất định ấy).

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr. 467-504.

    _____________

    1) Trong nguyên bản, ngoài bìa sách ghi "Chiến thuật du kích".

    2) Là đội du kích hoàn toàn thoát ly sản xuất hay vừa sản xuất vừa chiến đấu.

    3) Từ tiểu đội lên trung đội.

    4) Tức là khôn khéo điều khiển quân thù.

    5) Tất cả những chữ trinh thám ở đây hiểu là trinh sát để nắm vững tình hình.

     

     

     

     

     

    THƯ GỬI ĐỒNG BÀO TOÀN QUỐC

    Toàn quốc đồng bào!

    Toàn thể đồng chí!

    Tháng 8 năm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một năm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.

    Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc.

    Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta.

    Song muốn tiếp thu lòng đồng tình và sự giúp đỡ đó, chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.

    Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!

    Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận, để khai cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội trong năm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công.

    Lời chào thân ái

    Tháng 10 năm 1944

    HỒ CHÍ MINH

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr. 505-506.

     

     

     

    CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM
    TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN

    1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

    Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

    2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

    3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

    Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

    Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.

    Tháng 12 năm 1944

    HỒ CHÍ MINH

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.3, tr.507-508. 

    Năm 1945

    Năm 1945 (*)

    NHỮNG NHIỆM VỤ CẤP BÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Thưa các cụ và các chú,

    Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính.

    Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm.

    Với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công.

    Hiện nay những vấn đề gì là vấn đề cấp bách hơn cả. Theo ý tôi, có sáu vấn đề:

    Một là, nhân dân đang đói - Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để ngăn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ.

    Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó càng làm cho tình hình trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống.

    Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.

    Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.

    Vấn đề thứ hai, nạn dốt - Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ.

    Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.

    Vấn đề thứ ba - Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..

    Vấn đề thứ tư - Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

    Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH.

    Vấn đề thứ năm - Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy. Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

    Vấn đề thứ sáu - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết.

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,
    t.4, tr.7-9.
    ____________
    (*): Do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm vào.
     

     

     

     

    CÁCH TỔ CHỨC CÁC UỶ BAN NHÂN DÂN

    Uỷ ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố) là hình thức Chính phủ trong các địa phương, sau khi khởi nghĩa thắng lợi. Toàn thể nhân dân Việt Nam (trừ bọn Việt gian bị tước công quyền) từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử người vào các Uỷ ban này.

    Uỷ ban có từ 5 đến 7 người phải cử ra:

    1) Một Chủ tịch, đứng đầu Uỷ ban, có nhiệm vụ đốc suất, củ soát các Uỷ viên khác, liên lạc với các cấp bộ trên và các tổ chức trong địa phương, chiêu tập và điều khiển các cuộc họp.

    2) Một Phó Chủ tịch, giúp đỡ và thay Chủ tịch khi anh này bận hay đi vắng.

    3) Một Thư ký giữ sổ sách, làm biên bản trong các cuộc hội họp.

    4) Một Uỷ viên phụ trách chính trị có nhiệm vụ thành lập toà án dân chúng trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, tiễu trừ Việt gian. Tuyên truyền hay huấn luyện chính trị cho nhân dân, làm cho họ đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ.

    5) Một Uỷ viên phụ trách kinh tế tài chính, có nhiệm vụ:

    a- Giữ và dùng quỹ địa phương, quyên tiền, thu thuế lợi tức luỹ tiến, v.v.;

    b- Khuyếch trương nền kinh tế địa phương; nâng cao trình độ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp;

    c- Cải tiến đời sống cho nhân dân.

    6) Một Uỷ viên phụ trách quân sự, có nhiệm vụ:

    a- Đốc suất tự vệ giữ vững an toàn cho nhân dân;

    b- Võ trang và huấn luyện quân sự cho nhân dân; động viên họ lên trường tranh đấu du kích chống xâm lược.

    7) Một Uỷ viên phụ trách xã hội, có nhiệm vụ:

    a- Tổ chức và giám đốc các cơ quan y tế, vệ sinh, cứu tế, bài trừ hủ tục, v.v..

    b- Tổ chức và điều khiển những cuộc giải trí công cộng, du lịch, ca kịch, chiếu bóng, hội hè, kỷ niệm.

    c- Tổ chức và trông coi công cuộc giáo dục nhân dân: mở trường học, chống nạn mù chữ, mở thư viện, v.v..

    Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký có thể kiêm phụ trách hoặc kinh tế, tài chính, hoặc tuyên truyền huấn luyện, hoặc quân sự, hoặc xã hội.

    Họp Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký thành Ban thường vụ để chỉ huy công tác hằng ngày.

    Những uỷ viên phụ trách, nếu cần, có thể lấy một số người ngoài Uỷ ban lập ra các Tiểu ban tuyên truyền huấn luyện, Tiểu ban tư pháp, Tiểu ban quân sự, v.v.. Trong các tiểu ban đó Uỷ viên phụ trách sẽ làm Trưởng ban.

    Uỷ ban nào cũng có quyền giải quyết những vấn đề thuộc về địa phương mình, nhưng phải báo cáo lên cấp trên.

    Trong một thời hạn (Chính phủ sẽ định), Uỷ ban nhân dân phải chiêu tập đại hội địa phương để báo cáo công việc đã làm, trình bày và đưa ra thảo luận các công việc sẽ phải làm, bầu Uỷ ban mới.

    Ban thường vụ phải khai hội ít nhất mỗi tuần một lần, toàn thể Uỷ ban nửa tháng một lần để bàn bạc công tác. Trước ngày khai hội của Uỷ ban, ai có điều gì đề nghị, chất vấn hay phê bình cứ gửi cho Chủ tịch.

    Xem như trên, Uỷ ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra.

    CHIẾN THẮNG

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.4, tr. 13-15.

     

     

     

     

    THƯ GỬI ĐỒNG BÀO TOÀN QUỐC NHÂN DỊP "TUẦN LỄ VÀNG"

    Cùng toàn quốc đồng bào,

    Ban tổ chức "Tuần lễ VÀNG" ở Hà Nội có mời tôi đến dự cuộc lễ khai mạc Tuần lễ VÀNG11. Vì bận việc, tôi không đến được, nhưng tôi có bức thư này ngỏ cùng toàn quốc đồng bào:

    Nhờ sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào ngót 80 năm nay, nhất là trong 5 năm nay, chúng ta đã xây đắp được nền tự do độc lập của chúng ta. Ngày nay chúng ta cần củng cố nền tự do độc lập ấy để chống lại với sự dã tâm xâm lăng của bọn đế quốc Pháp.

    Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có.

    Ý nghĩa "Tuần lễ VÀNG" là ở đó.

    Tuần lễ VÀNG sẽ thu góp số VÀNG trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng.

    Tuần lễ VÀNG sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút VÀNG để phụng sự Tổ quốc.

    Như thế Tuần lễ VÀNG không những có ý nghĩa giúp vào nền tài chính quốc phòng, nó còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng.

    Vì vậy tôi mong rằng toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, hết sức vì nước hy sinh.

    Tôi tin rằng, toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, trong sự quyên giúp này, sẽ xứng đáng với sức hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận.

    Mong toàn quốc đồng bào làm tròn nghĩa vụ.

    Việt Nam độc lập muôn năm!

    HỒ CHÍ MINH

     

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.4, tr. 17-18.

     

     

     

     

     

    THƯ GỬI CÁC ĐỒNG CHÍ TỈNH NHÀ 1)

    Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 1945

    Cùng các đồng chí bản tỉnh 2),

    (Xem rồi, nhớ chuyển cho các bạn hạ cấp 3) ).

    Các đồng chí,

    Thơ này, tôi không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, nhưng chỉ lấy danh nghĩa của một người đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí.

    1. Cuộc dân tộc cách mạng thành công này có những ý nghĩa rất to tát mà chúng ta cần phải nhận rõ. Ý nghĩa đó là: trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã phá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa: Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hoà. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta.

    2. Vì sao có cuộc thắng lợi đó ?

    Một phần là vì tình hình quốc tế thuận tiện cho ta. Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

    Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó.

    3. Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ! Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng 4) trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính..., trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị.

    4. Khó thì khó thật, nhưng chúng ta quyết tâm; chúng ta vừa làm vừa học, nhất là chúng ta cố mà theo cho đúng chính sách của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua hết thảy những sự khó khăn đó. Nói tóm tắt, thì chính sách của Chính phủ là:

    - Củng cố sự đoàn kết toàn dân.

    - Sửa đổi những khuyết điểm khắp các phương diện.

    5. Ở các địa phương, những khuyết điểm to nhất là:

    a) Khuynh hướng chật hẹp và bao biện. Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc.

    b) Lạm dụng hình phạt. Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hoá, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng 5).

    c) Kỷ luật không đủ nghiêm. Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán.

    d) Đề phòng hủ hoá. Cán bộ ta nhiều người "cúc cung tận tuỵ", hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư 6). Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư 7), làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể.

    đ) Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động.

    Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,

    Chúng ta không sợ có khuyết điểm,

    Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi,

    Chúng ta phải lấy lòng "chí công vô tư".

    Chúng ta phải hiểu rõ và theo đúng chính sách của Chính phủ thì những khuyết điểm nói trên sẽ dễ sửa đổi và sự toàn dân đoàn kết sẽ càng vững vàng.

    Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi. Tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến.

                 Chào thân ái

    HỒ CHÍ MINH

    Hồ Chí Minh: Toàn tập,

    t.4, tr.22-23. 

    Tác phẩm liên quan

    Hồ Chí Minh tuyển tập (1954 - 1969) - Tập 3 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
    Hồ Chí Minh tuyển tập (1954 - 1969) - Tập 3 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
    Hồ Chí Minh tuyển tập (1945 - 1954) - Tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
    Hồ Chí Minh tuyển tập (1945 - 1954) - Tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia - 2002)
    Cơ quan chủ quản: Văn phòng Trung ương Đảng

    Liên kết website

    Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu
    Địa chỉ:
    Email: toasoan@dangcongsan.vn